Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Dự án khai thác Bauxite ở Việt Nam - thêm một hướng nhìn [Archive] - CAUDUONGBKDN

PDA

View Full Version : Dự án khai thác Bauxite ở Việt Nam - thêm một hướng nhìn



chipheo_bk
27/04/09, 07:29 PM
THƯ MỜI


Hà Nội ngày 12 tháng Tư năm 2009

Thưa quý Anh Chị,


Chúng ta đều biết trong cuộc Hội thảo về chủ đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên vào ngày 9 tháng Tư vừa qua tại Hà Nội, hầu hết các nhà khoa học đều nhất trí lên tiếng rằng: việc này lợi bất cập hại. Đặc biệt, nhà văn Nguyên Ngọc không những phân tích kỹ và sâu các hậu quả khôn lường của việc ấy mà còn nói thẳng đây là việc làm không hợp pháp. Ngày hôm sau Anh còn trả lời BBC kiên trì ý kiến của mình. Tuy vậy, theo tin chúng tôi biết được, Nhà nước chỉ gọi là kết luận sẽ khoanh vùng thí điểm lấy lệ còn thực chất đang triển khai mạnh ở cả bốn địa điểm chứ không phải chỉ hai.

Chẳng lẽ để cho tiếng vang của Hội thảo đi vào trống không trong khi nguy cơ tày trời về việc khai quặng lại đang ngày một thêm rình rập đất nước? Chẳng lẽ tiếng lòng của Anh Nguyên Ngọc không được giới trí thức đáp lại và cũng là một cách để bảo vệ anh? Nghĩ như thế, chúng tôi đã mạnh dạn thảo một thư ngỏ sau đây, nhằm gửi lên Quốc Hội, Mặt trận Tổ Quốc, Chính Phủ, và Ban chấp hành ĐCSVN để bày tỏ nguyện vọng của giới trí thức người Việt chúng ta, muốn công việc khai thác bauxite phải được đưa ra Quốc Hội thông qua trước khi chính thức triển khai quy mô lớn, trong thời gian đó cần đình chỉ lại đã.

Chúng tôi có trao đổi và bước đầu chỉ xin gửi đến những địa chỉ quen biết, tin cậy. Văn bản có thể chưa thật trau chuốt nhưng vì thời gian đã quá gấp, không thể chậm hơn được nữa, chúng tôi mong quý Anh Chị, nếu tán thành với tinh thần lá thư do chúng tôi thảo, xin ghi tên, chức danh và địa chỉ vào dưới rồi gửi về cho chúng tôi trong thời hạn sớm nhất, để kịp gửi đến các nơi cần gửi. Và nếu quý Anh Chị nào biết thêm những ai có mối quan tâm đến vận mạng đất nước trên vấn đề này, xin mời họ cùng ký vào.

Xin trân trọng cám ơn quý Anh Chị.

Kính thư


GS Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng
Địa chỉ liên lạc:
chi.nguyenhue@gmail.com
PhamToanVidai@vnn.vn
hungntdanang@gmail.com



THÔNG BÁO: về việc thu thập chữ ký và gửi kiến nghị vụ Bauxite



Thưa quý Anh Chị,

Chúng tôi xin trân trọng thông báo tới quý Anh Chị một số điều liên quan tới việc thu thập chữ ký và gửi Kiến nghị vụ Bauxite như sau:

Tất cả chúng ta đều biết, từ nửa cuối năm 2008 tới những ngày gần đây, trên báo in và báo mạng trong nước và ngoài nước, chủ đề Bauxite trở thành tâm điểm của những cuộc thảo luận đầy lo lắng.

Trên nhiều tờ báo mạng, đã hình thành bộ hồ sơ dầy dặn, đi từ thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp người am tường và có trách nhiệm với đề tài này từ những năm 1980 thế kỷ trước, đến những nghiên cứu và kiến nghị của người trong cuộc hiện thời, kể cả những nhà trí thức trong nước đến các nhà trí thức đang sinh sống tại nước ngoài, cho đến những tiếng nói của nhà văn nhà báo... tất cả đều có chung niềm quan ngại trước chủ trương khai thác Bauxite tại Tây Nguyên, “nóc nhà của Đông Dương”.

Cảm nhận được nỗi lo đó, bên cạnh việc tích cực tham gia phản biện tại những diễn đàn lớn (đặc biệt là tại cuộc hội thảo ngày 9 tháng Tư vừa qua tại Hà Nội), nhiều anh chị em trí thức trong và ngoài nước đã gợi ý và ủy thác cho một số người dự thảo bản Kiến nghị nhằm tìm cách làm sáng tỏ và nếu có thể thì ngăn chặn việc phát triển khai thasc khoáng sản Bauxite bằng mọi giá.

Bản kiến nghị đã được khởi thảo xong ngày 12 tháng Tư năm 2009 và gửi đến một số anh chị em góp ý kiến.
Song song với việc đóng góp vào bản dự thảo Kiến nghị, và cũng vì sốt ruột trước tình hình, nhiều anh chị em đề nghị vừa góp ý sửa chữa nội dung kiến nghị, vừa thu thập chữ ký.

Sau ba ngày lưu thông trên mạng, hiện nay đã có 135 chữ ký. Chúng tôi quyết định xin phép quý Anh Chị tạm chốt số chữ ký ở mức này, để sáng ngày mai, 17 tháng Tư năm 2009, chúng tôi sẽ đại diện cho quý Anh Chị đem bản Kiến nghị tới các địa chỉ sau: ông Nguyễn Phú Trọng và Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam, ông Nguyễn Minh Triết và Văn phòng Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.

Chúng tôi xin phép đề nghị anh chị em nào chưa kịp ký tên vào bản kiến nghị này, kể từ 18 giờ hôm nay 16 tháng 4 năm 2009, hãy tiếp tục gửi chữ ký của mình về địa chỉ trang mạng trannhuong.com là nơi sẽ đăng bản Kiến nghị cùng với lời Thông báo này.

Xin phép thông báo cùng quý anh chị: sáng mai 17 tháng 4 năm 2009, đoàn đại diện chúng tôi sẽ gồm có các bạn sau:
- Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, trưởng đoàn
- Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng,
- Ông Phạm Toàn,
- Nhà thơ Dương Tường.



Chúng tôi sẽ thông báo đến quý Anh Chị các diễn biến kế tiếp.
Xin gửi kèm theo đây bản Kiến nghị ở dạng bản thảo cuối cùng và số chữ ký.
Thân ái chúc quý Anh Chị vui mạnh.

Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng

nguồn: http://www.bauxitevietnam.info/index.html

@:Một trong 3 người đứng ra viết thư kiến nghị chính là GS.TS Nguyễn Thế Hùng, Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng, Phó Tổng thư ký Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam

chipheo_bk
30/04/09, 11:59 PM
Làn sóng mới - di cư và xuất khẩu lao động của Trung Quốc

http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i13270_untitled.JPG

TTCT - Đầu những năm 1990, một số nông dân làng Bảo Định (tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) sau khi hoàn thành xây dựng công trình thủy lợi do Trung Quốc viện trợ tại Zambia đã ở lại lập nghiệp, lập nên “làng Bảo Định”. Dọc sông Mekong trên biên giới Lào - Thái Lan đang hình thành một số khu định cư của người Trung Quốc... Đó là những hiện tượng của một làn sóng mới - cuộc di cư và xuất khẩu lao động của Trung Quốc ra thế giới.

Di cư và xuất khẩu lao động của Trung Quốc trước hết nhằm vào các khu vực biên duyên, mà Đông Nam Á lục địa là một trọng tâm.

Myanmar và các nước Đông Nam Á lục địa

http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i13269_untitled1.JPG

Liên bang Myanmar là láng giềng phía tây nam của Trung Quốc, có chung 2.000km biên giới. Myanmar có nhiều tài nguyên khoáng sản quý hiếm, trữ lượng khí đốt tự nhiên có thể đứng thứ 10 thế giới. Myanmar có hơn 52% diện tích rừng, với nhiều loại gỗ quý và nổi tiếng về các loại đá quý, ngọc trai tự nhiên... Nhưng điều quý hiếm hơn nữa đó là vị trí địa - chiến lược của Myanmar tiếp giáp Nam Á và Ấn Độ Dương. Các học giả Trung Quốc gần đây phàn nàn Trung Quốc có biển nhưng không có đại dương. Myanmar chính là con đường lý tưởng để Trung Quốc tiến ra Ấn Độ Dương. Từ khi Mỹ và phương Tây áp đặt, bao vây cấm vận Myanmar năm 1992, quan hệ giữa Myanmar với Trung Quốc phát triển trên mọi phương diện.

Nhằm phục vụ đại chiến lược phát triển kinh tế khu vực tây nam, Trung Quốc đầu tư xây dựng nhiều ngành kinh tế mũi nhọn hoặc hạ tầng cơ sở của Myanmar, như đường ống dẫn khí đốt từ cảng biển Sittway đến Nam Ninh dài gần 1.800km trị giá hàng tỉ USD; một số đường bộ và đường sắt từ các tỉnh phía nam Trung Quốc nối với một số bang miền trung Myanmar; một số dự án khai thác mỏ, quặng của Myanmar...

Trung Quốc đưa hàng nghìn chuyên gia, kỹ sư, công nhân xây dựng sang thực hiện các dự án. Nếu ai có dịp đến thủ đô mới Nay Pyi Taw có thể thấy quang cảnh nhộn nhịp với hàng trăm kỹ sư, công nhân Trung Quốc đang xây dựng trung tâm hội nghị quốc tế lớn nhất ở thủ đô do Trung Quốc viện trợ không hoàn lại. Ở một số vùng biên giới của Myanmar, dân Trung Quốc sang định cư. Tại đây nói tiếng Trung, tiêu tiền nhân dân tệ và mua bán hàng hóa Trung Quốc.

Ở Yangon, trong 10 năm qua số người Trung Quốc sang Myanmar làm ăn, sinh sống dưới nhiều hình thức hơn 1 triệu người, nâng tổng số người Hoa ở nước này lên xấp xỉ 3 triệu, trong đó ở hai thành phố lớn nhất, Yangon và Mandalay, mỗi nơi khoảng 800.000 người. Dạo qua các phố phường ở Yangon, Mandalay hay bất cứ thành phố nào của xứ sở Phật giáo này, ta thấy ngay hàng hóa rẻ tiền của Trung Quốc tràn ngập các siêu thị, cửa hàng, hè phố, cùng các quán ăn người Hoa từ bình dân đến đặc sản. Các doanh nhân gốc Hoa ở Myanmar tập hợp theo hiệp hội, không giấu giếm niềm kiêu hãnh khi nói về sự giàu có và thế lực của họ.

Qua hai thập kỷ phát triển của Thái Lan, người Hoa phất lên, trở thành tầng lớp thượng lưu giàu có, thế lực của xã hội Thái Lan. Còn ở một số tỉnh đông bắc Thái Lan, những năm gần đây có khoảng 2 triệu người Trung Quốc sang định cư.

Tại Lào, Trung Quốc viện trợ xây dựng Trung tâm thương mại Đầm Thạt Luổng, đưa kỹ sư và công nhân Trung Quốc sang thi công. Đến năm 2010, số người Trung Quốc có mặt tại Vientiane sẽ lên tới 500.000 và đến 2015 có thể lên tới 1,5 triệu người. Một số khu dân cư của người Trung Quốc xuất hiện dọc sông Mekong thuộc biên giới Lào - Thái.

Với đất nước Chùa Tháp, theo báo Brunei Times, ngày 18-4-2009, sau một thời gian dài kìm nén, Trung Quốc đang thâm nhập Campuchia, là nhà đầu tư lớn nhất, nước tài trợ nhiều nhất (5,7 tỉ USD) và cũng là một bên được nhượng nhiều đất nhất ở Campuchia.

Cũng như tại lục địa Đông Nam Á, miền Viễn Đông Nga là nơi lý tưởng cho những người Trung Quốc tìm nơi sinh cơ lập nghiệp mới. Chính phủ Nga đã ban hành nhiều biện pháp tăng cường kiểm soát và hạn chế người nhập cư, nhưng tại Viễn Đông đến nay có khoảng 3-5 triệu người Trung Quốc sang định cư.

Điều này từng diễn ra tại “lục địa đen” từ gần hai thập kỷ qua, nhưng đang được đẩy mạnh như một quốc sách.

Mô hình “làng Bảo Định” châu Phi

Hơn một thập kỷ qua, các công trình do Trung Quốc viện trợ cho châu Phi xây dựng đập nước thủy lợi, cầu cống đều do công nhân trong nước sang trực tiếp thi công. Báo Thanh Niên Tham Khảo (TQ) mới đây cho hay sau khi xây dựng xong, một số người ở lại lập nghiệp. 100 nông dân “làng Bảo Định” sang Zambia xây đập nước, sau hơn hai năm kết thúc công việc đã ở lại trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán, mặc dù hộ chiếu của họ đã hết hạn.

Khi cuộc sống ổn định, họ đưa người thân sang. Người phụ trách Cục Ngoại thương Hà Bắc, sau cuộc khảo sát năm 1998, đã giúp họ làm hộ chiếu, hợp pháp hóa việc định cư và giúp đưa người nhà của họ đến châu Phi. Và một làng Trung Quốc được thành lập mang tên “làng Bảo Định”.

Sau này, khi xây dựng các công trình viện trợ cho châu Phi, Chính phủ Trung Quốc đã làm theo mô hình “làng Bảo Định”, đặt vấn đề cho phép công nhân Trung Quốc có thể ở lại định cư. Do đó, nông dân Trung Quốc không ngừng đến châu Phi sinh sống và hình thành nhiều làng Trung Quốc.

Đến năm 2006, có hơn 70.000 nông dân đến châu Phi làm nghề trồng trọt, thành lập 28 “làng Bảo Định”, mỗi làng có 400-2.000 người. Ở 17 nước châu Phi, từ Sudan đến Zambia, từ Nigeria đến Kenya đều có các “làng Bảo Định” với quy mô khác nhau. Số lượng dự tính sẽ tăng lên hàng triệu người.

Theo số liệu của Bộ Thương mại Trung Quốc, nước này đã đầu tư 800 dự án viện trợ cho châu Phi, trong đó có 137 dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp và 133 dự án cơ sở hạ tầng. Bù lại, chính quyền trung ương những nước châu Phi nhận viện trợ Trung Quốc tạo thuận lợi cho người Trung Quốc sang làm việc, đầu tư và ở lại định cư.

Một hướng mới là đưa nông dân sang châu Phi trồng lúa. Ông Triệu Chí Mẫn, đại biểu quốc hội tỉnh Hà Bắc, phát biểu tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc đầu tháng 3 năm nay cho biết theo khảo sát của ông, Ethiopia có 78 triệu dân, khoảng 10 triệu ha đất canh tác, trong đó khoảng 2,6 triệu ha đất có thể trồng lúa, nhưng hiện thiếu lương thực khoảng 3 triệu tấn/năm.

Ông Triệu đề xuất Chính phủ Trung Quốc đưa 1 triệu nông dân Trung Quốc tới đó làm ruộng, nếu mỗi người Trung Quốc làm được khoảng 1,2ha đất thì có thể canh tác khoảng 1,3 triệu ha trồng lúa nước ở đó, vừa tạo việc làm vừa giảm 1 triệu nhân khẩu tiêu thụ lương thực trong nước. Ông Triệu kiến nghị chính phủ gấp rút đàm phán với Ethiopia, đồng thời tiến hành ngay việc bồi dưỡng, huấn luyện kỹ thuật và giáo dục phong tục, tập quán, ngôn ngữ bản địa cho những nông dân muốn tới đó làm ăn.

Mạng tin Asia Times ngày 16-4 nhận xét Bắc Kinh có mặt tại châu Phi nhằm phát huy quyền lực mềm và vì một thị trường mới. Mặt khác còn nhằm nuôi dưỡng một cộng đồng mới tại “lục địa đen” - miền đất hứa đối với những nông dân Trung Quốc, nơi đất đai ở quê hương họ không sinh ra mà dân số ngày một đông đúc.

HOÀNG MIÊN (Yangon - Hà Nội)

http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=313193&ChannelID=119

nbc
30/05/09, 09:09 AM
Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp ý về dự án bô xít Tây Nguyên

14/01/2009 11:31 (GMT + 7)

(TuanVietnam) - Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa gửi thư đến Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, đề nghị "cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định".

Để đảm bảo thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam giới thiệu toàn văn bức thư này để độc giả tham khảo.

Kính gửi: Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ

Thời gian vừa qua báo chí đăng nhiều bài và ý kiến của các nhà khoa học và hoạt động xã hội cảnh báo nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội của các dự án khai thác bô-xít trên Tây Nguyên.

Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu, xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện.

Tuy nhiên, các dự án này vẫn đang được triển khai, trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án).
Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên.

Ý kiến phản biện của các nhà khoa học nước ta vừa qua phân tích trên nhiều phương diện, trong các điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay cũng đi tới kết luận như các nhà khoa học Liên Xô cách đây 20 năm. Với những cảnh báo nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần xem xét các dự án này một cách khách quan - cần đánh giá lại quy hoạch khai thác bô-xít trên Tây Nguyên đến 2025.

Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là một kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô-la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta.

Vì vậy nên mời thêm các tư vấn chuyên ngành quốc tế có nhiều kinh nghiệm phối hợp với các nhà khoa học và nhà quản lý của nước ta cùng thẩm định cho khách quan, sau đó báo cáo Bộ Chính trị và Quốc hội xem xét, cân nhắc kỹ càng, không thể chỉ đưa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế.

Vừa qua đồng chí Thủ tướng đã quyết định bác dự án nhà máy thép lớn của Hàn Quốc tại vịnh Vân Phong, khẳng định quyết tâm của Chính phủ phát triển kinh tế bền vững, được đông đảo nhân dân và các nhà khoa học đồng tình, ủng hộ.

Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định.
Chúc đồng chí mạnh khỏe,

Võ Nguyên Giáp

Nguồn: tuanvietnam.net (http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/5875/index.aspx)

nbc
30/05/09, 09:10 AM
Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư tới Hội thảo về bô-xít


Trong phiên khai mạc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên sáng ngày 9/4, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã đọc bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/DTVonguyenGiap_Thu_bauxite.gif (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/DTVonguyenGiap_Thu_bauxite.gif)


Tôi được biết, hôm nay có cuộc Hội thảo về vấn đề bô-xít ở Tây Nguyên do đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì.

Tôi cho đây là một vấn đề cực kỳ hệ trọng. Vấn đề này trước đây tôi đã từng nghiên cứu, tôi đã có thư gửi đồng chí Thủ tướng nhưng chưa được trả lời.


Tại cuộc Hội thảo quan trọng này, tôi mong các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà hoạt động xã hội hãy nêu cao trách nhiệm trước dân tộc thảo luận một cách khoa học, nghiêm túc, thẳng thắn để kiến nghị với Đảng và Nhà nước một chủ trương đúng đắn về vấn đề bô-xít Tây Nguyên mà tôi cho là không nên khai thác.


Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.


Xin chúc các đồng chí mạnh khoẻ.

Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2009


Đại tướng Võ Nguyên Giáp



Nguồn: http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/840943/

nbc
30/05/09, 09:15 AM
Thư thứ 3 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

gửi BCH TƯ, Bộ Chính trị cùng Quốc hội và Chính phủ về vấn đề Bauxite Tây Nguyên


14:52 27/05/2009 (GMT+7)


http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/090527_dtvonguyengiap200509-1.JPG (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/090527_dtvonguyengiap200509-1.JPG)


http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/090527_dtvonguyengiap250509-2.JPG (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/090527_dtvonguyengiap250509-2.JPG)

Nguồn: bauxitevietnam.info

Lời bàn: Chúng ta nghĩ gì khi vị Đại tướng mà danh tiếng đã lẫy lừng năm châu bốn biển, không quản tuổi cao sức yếu (năm nay Đại tướng đã 97 tuổi) "năm lần bảy lượt" phải "xuất quân" về vấn đề bauxite Tây Nguyên?

nbc
30/05/09, 04:34 PM
CHÍNH PHỦ
BÁO CÁO QUỐC HỘI
Về việc triển khai các dự án bô-xít
(Tài liệu báo cáo ĐBQH khóa XII, kỳ họp thứ 5)



Chính phủ xin báo cáo các vị đại biểu Quốc hội một số nội dung chủ yếu liên quan đến việc triển khai quy hoạch phát triển các dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm như sau:

I. Về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007.

1. Nguồn tài nguyên bô-xít:
Việt Nam được xác định là một trong những nước có nguồn bô-xít lớn trên thế giới. Tổng trữ lượng quặng bô-xít đã xác định và tài nguyên dự báo khoảng 5,5 tỷ tấn (đứng thứ 3 thế giới), trong đó khu vực miền Bắc khoảng 91 triệu tấn, còn lại tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam khoảng 5,4 tỷ tấn. Trữ lượng đã xác định khoảng 4,4 tỷ tấn, dự báo khoảng 1 tỷ tấn. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và nhôm kim loại Việt Nam.


http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/vnntoanvan1.jpg (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/vnntoanvan1.jpg)
Khai thác bô-xít tại Đăk Nông.


Nguồn tài nguyên bô-xít của Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên với trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 5,4 tỷ tấn, trong đó Đăk Nông khoảng 3,4 tỷ tấn (chiếm 63% tổng trữ lượng), Lâm Đồng khoảng 975 triệu tấn (chiếm 18%), Gia Lai - Kon Tum khoảng 806 triệu tấn (chiếm 15%) và Bình Phước khoảng 217 triệu tấn (chiếm 4%). Mặc dù Tây Nguyên là địa bàn kinh tế - xã hội còn khó khăn, cơ sở hạ tầng và trình độ dân trí còn hạn chế, nhưng lại là khu vực có lợi thế về nguồn tài nguyên bô-xít chiếm 98,2% tổng trữ lượng và tài nguyên bô-xít.

2.Quan điểm phát triển:

Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến,sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã xác định quan điểm phát triển như sau:

- Phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản bô-xít phải phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp Việt Nam, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và phát triển mạng hạ tầng cơ sở liên quan (giao thông vận tải, cảng biển, điện...) . Đảm bảo thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên bô-xít tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp việc phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ anh ninh, quốc phòng tại các địa bàn có khoảng sản bô-xít, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên.

- Xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng bô-xít với công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Hình thức chủ đạo là doanh nghiệp Việt Nam làm chủ đầu tư xây dựng, kêu gọi các đối tác trong và ngoài nước tham gia góp vốn cổ phần trên nguyên tắc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (đối với các khu vực bô-xít tại Tây Nguyên) nắm giữ cổ phần chi phối để đảm bảo sự chủ động và phát triển bền vững, tham gia vào thị trường alumin và nhôm thế giới.

- Phát triển ngành công nghiệp sản xuất alumin và luyện nhôm phải đảm bảo phát triển hài hòa kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên và các địa phương liên quan.

3. Nội dung chủ yếu của Quy hoạch:

Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 với mục tiêu khai thác bô-xít, sản xuất alumin đạt chất lượng cho điện phân nhôm, sản xuất hydroxit nhôm và nhôm kim loại. Quyết định phê duyệt Quy hoạch được công bố công khai trên Công báo theo đúng quy định hiện hành, đồng thời được đưa tin rộng rãi trên báo chí ngay sau đó.

a) Về sản lượng và tổ chức thực hiện:

- Về sản lượng:
Dự kiến đến năm 2010 sản lượng alumin khoảng 0,7 - 1,0 triệu tấn/năm; hydroxit nhôm khoảng 0,6 triệu tấn/năm.


http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/vnntoanvan2.jpg (http://www.bauxitevietnam.info/tulieu/vnntoanvan2.jpg)
Đoàn khảo sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ & Môi trường Quốc hội đi thực địa tại dự án Nhân Cơ.


Năm 2015: alumin khoảng 6,0 - 8,5 triệu tấn/năm, nhôm điện phân khoảng 0,2 - 0,4 triệu tấn/năm; hydroxit nhôm khoảng 1,2 triệu tấn/năm.

Năm 2025: alumin khoảng 13 - 18 triệu tấn/năm, nhôm điện phân khoảng 0,4 - 0,8 triệu tấn/năm.
Giai đoạn trước năm 2015, sản phẩm alumin dự kiến xuất khẩu; giai đoạn sau 2015, sản lượng alumin cung cấp cho điện phân nhôm trong nước và xuất khẩu.

- Về tổ chức thực hiện:
Giao Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chịu trách nhiệm chính trong việc đầu tư thực hiện quy hoạch các dự án bô-xít tại Tây Nguyên.

b) Về số lượng các dự án:

Giai đoạn 2008 - 2010: dự kiến triển khai 3 dự án alumin, gồm Tân Rai (Lâm Đồng), Nhân Cơ (Đăk Nông 1) và Kon Hà Nừng (Gia Lai); 01 dự án hydroxit nhôm tại Bảo Lộc (Lâm Đồng). Các dự án này đều do Việt Nam tự đầu tư.
Giai đoạn 2011-2015: Quy hoạch dự kiến triển khai đầu tư tiếp 03 dự án là Đăk Nông 2, Đăk Nông 3 và Đăk Nông 4. Cả 3 dự án này đều đã có đối tác nước ngoài mong muốn hợp tác đầu tư, bao gồm Chalco (Trung Quốc), Alcoa (Mỹ) và BHPM (Anh) với tổng công suất dự kiến 4,5 -6 triệu tấn alumin/năm. Các đối tác trên đều là các nhà sản xuất alumin-nhôm hàng đầu trên thế giới, có đủ năng lực tài chính, sở hữu công nghệ tiên tiến, có mong muốn bao tiêu sản phẩm alumin, đây là các yếu tố cơ bản để đảm bảo sự thành công của dự án.
Giai đoạn 2016-2025: dự kiến duy trì và mở rộng 6 dự án alumin của giai đoạn 2008-2015; tùy theo khả năng thị trường, dự kiến mở rộng nâng công suất các dự án này lên gấp đôi. Đầu tư thêm một dự án alumin Bình Phước với công suất 1- 1,5 triệu tấn/năm. Dự kiến tổng công suất của giai đoạn này đạt khoảng 13-18 triệu tấn alumin/năm. Giai đoạn 2016-2025 chủ yếu mang tính chất định hướng, tùy theo khả năng thị trường, tài chính, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước và khu vực, trên cơ sở kinh nghiệm vận hành cụ thể của các dự án giai đoạn 2008-2015 cũng như mức độ ảnh hưởng môi trường trong khu vực để xác định và điều chỉnh tiến độ cũng như quy mô các dự án.

II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN TRONG QUY HOẠCH

1. Dự án Tổ hợp bô-xít - nhôm Tân Rai (Lâm Đồng)

Dự án đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư tại công văn số 303/CP-CN ngày 29 tháng 3 năm 2000; Báo cáo nghiên cứu khả thi được Thủ tướng Chính phủ thông qua năm 2005 (công văn số 808/TTg-CN ngày 17 tháng 6 năm 2005). Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu thiết kế-mua sắm-xây dựng và đào tạo (EPC) nhà máy alumin với nhà thầu CHALIECO (Trung Quốc) thông qua đấu thầu quốc tế công khai, gói thầu đã được khởi công ngày 26 tháng 7 năm 2008. Hiện tại nhà thầu đã cơ bản hoàn thành Thiết kế của gói thầu theo đúng hợp đồng và đã chuyển cho chủ đầu tư để thẩm định làm cơ sở phê duyệt. Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất và thiết kế công trình đang được nhà thầu thực hiện theo đúng tiến độ của hợp đồng. Ngày 18 tháng 11 năm 2008, nhà thầu đã tiến hành đào móng các hạng mục chính có thời gian thi công dài, dự kiến trong mùa khô năm 2008-2009 (khoảng 5 tháng) sẽ thi công hoàn chỉnh phần móng để triển khai lắp đặt kết cấu thép và thiết bị. Dự kiến cuối năm 2010 hoặc đầu năm 2011 sẽ đưa nhà máy vào sản xuất.

2. Dự án khai thác bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông 1)

Chủ trương lập dự án bô-xít - alumin Nhân Cơ đã được thông qua tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bô-xít. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý chủ trương nâng công suất nhà máy alumin Nhân Cơ lên 600.000 tấn/năm (công văn số 2728/VPCP-HTQT ngày 02 tháng 5 năm 2008). Hiện nay, chủ đầu tư đang hoàn chỉnh và trình duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường và rà soát lại hiệu quả kinh tế của Dự án để trình Bộ Công Thương kiểm tra, đánh giá.

3. Các dự án khai thác, chế biến bô-xít khác

Đối với một số dự án chế biến quặng bô-xít khác (alumin, hydroxit nhôm, nhôm điện phân), hiện nay các chủ đầu tư đang tiến hành thủ tục xin giấy phép thăm dò, triển khai thăm dò đối với các dự án đã có Giấy phép thăm dò, nghiên cứu lập dự án đầu tư để đánh giá khả năng và hiệu quả đầu tư, đồng thời làm cơ sở để đàm phán, tìm kiếm khả năng hợp tác đầu tư với một số Tập đoàn nhôm lớn trên thế giới.

4. Dự án tuyến đường sắt Tây Nguyên - Bình Thuận

Hiện nay, chủ đầu tư - TKV đang khẩn trương phối hợp với Tổng công ty Tư vấn công trình giao thông (TEDI) và tư vấn Nhật - Úc hoàn chỉnh báo cáo đầu tư, dự kiến sẽ hoàn thành trong quý III năm 2009, trình các cấp thông chủ trương theo quy định.

5. Dự án đầu tư xây dựng công trình cảng Kê Gà - Bình Thuận

Hiện nay, chủ đầu tư -TKV đang điều chỉnh lại dự án đầu tư theo hướng cảng đa chức năng (hàng chuyên dùng và hàng tổng hợp), dự kiến sẽ hoàn thành trong quý III năm 2009 để triển khai các bước tiếp theo.

III. MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP Ý VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUY HOẠCH CÁC DỰ ÁN BÔ-XÍT

Sau cuộc Hội thảo bô-xít tại Đăk Nông do Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông phối hợp với Viện tư vấn phát triển tổ chức ngày 22 tháng 10 năm 2008, trên một số báo in, báo mạng và website cá nhân đã đăng tải nhiều ý kiến góp ý của các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội, văn hóa, lịch sử bày tỏ sự lo ngại đối với việc triển khai thực hiện Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007; quan ngại về hiệu quả kinh tế - xã hội cũng như tác động tiêu cực của các dự án bô-xít đến môi trường, văn hóa và an ninh - quốc phòng khu vực Tây Nguyên. Một số đồng chí nguyên là lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã có thư gửi lãnh đạo Chính phủ về việc trên. Các ý kiến góp ý nhiều chiều đăng tải trên các phương tiện thông tin nói trên đã tạo nên sự chú ý và quan tâm lớn của xã hội.

Tóm tắt các ý kiến góp ý như sau:

1. Về chủ trương và quy hoạch phát triển các dự án bô-xít

- Chủ trương phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin-nhôm Việt Nam là vội vã; triển khai các dự án bô-xít là không cần thiết.

- Chủ trương phát triển ngành công nghiệp bô-xít và các dự án bô-xít có ý nghĩa quan trọng nhưng lại không trình Quốc hội.

- Việc trình và phê duyệt Quy hoạch bô-xít không tuân thủ đúng luật, chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược.

- Quy hoạch định hướng xuất khẩu alumin - nguyên liệu thô là sai lầm, không tuân thủ Luật Khoáng sản; sản xuất nhôm trong bối cảnh thiếu điện là không thực tế; quy hoạch các nhà máy alumin tại Tây Nguyên là không hợp lý và không hiệu quả kinh tế.

- Quy hoạch có nhiều tham vọng không có cơ sở về sản lượng và số lượng dự án; nhiều bất cập, rủi ro về tài nguyên, thị trường, kỹ thuật - công nghệ.v.v...

2. Về việc triển khai các dự án

- Triển khai các dự án bô-xít là không hợp với năng lực của TKV; không làm tăng ngân sách địa phương; không có hiệu quả kinh tế.

- Để xuất khẩu alumin phải đầu tư một hệ thống đường sắt là không hiệu quả.

- Quá trình triển khai các dự án bô-xít là không minh bạch, trong khi các vấn đề về công suất, xử lý bùn đỏ, lựa chọn nhà thầu EPC (không có công nghệ nguồn) của dự án Tân Rai chứ được làm rõ, các dự án bô-xít là bán rẻ tài nguyên đất nước v.v...

- Triển khai các dự án bô-xít là không an toàn về môi trường sinh thái, không đảm bảo sinh kế cộng đồng của các đồng bào dân tộc thiểu số trên Tây Nguyên và không đảm bảo phát triển bền vững Tây Nguyên, ảnh hưởng đến an ninh - quốc phòng khu vực.v.v...

IV. BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CÁC Ý KIẾN GÓP Ý

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo số 17/TB-VPCP ngày 13 tháng 01 năm 2009, ngày 9 tháng 4 năm 2009, tại Hà Nội, Bộ Công Thương đã phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề "Vai trò của công nghiệp khai thác bô-xít sản xuất alumin - nhôm đối với phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên và những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, văn hóa khu vực" (http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/841067/) nhằm mục đích làm rõ những vấn đề mà dư luận và xã hội quan tâm, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đến môi trường, văn hóa của khu vực các dự án bô-xít, cũng như đưa ra các lưu ý mà các nhà quản lý, chủ đầu tư cần quan tâm trong quá trình thực hiện, triển khai quy hoạch cũng như các dự án đầu tư cụ thể.
Tham dự Hội thảo có Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, đại diện lãnh đạo các cơ quan của Đảng, Nhà nước; các bộ, ngành liên quan; các hiệp hội, viện, trường; một số doanh nghiệp trong nước và nước ngoài thuộc lĩnh vực khai thác-chế biến xô-xít (87 cơ quan. đơn vị) và 47 nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội và văn hóa. Đông đảo các phóng viên báo chí, truyền thanh và truyền hình đã tham dự và đưa tin về hội thảo.

Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị đã họp để nghe Ban cán sự Đảng, Chính phủ, Văn phòng Trung ương và các bộ, cơ quan liên quan báo cáo về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 và đã ra bản Kết luận quan trọng về các vấn đề bô-xít (http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/)tại thông báo số 245-TB/TW ngày 24 tháng 4 năm 2009 (Thông báo 245)
Chính phủ xin báo cáo Quốc hội về việc làm rõ các ý kiến góp ý như sau:

1. Về chủ trương phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm.

Việt Nam có đủ điều kiện để xây dựng và phát triển ngành công nghiệp bô-xít, trong đó có yếu tố quan trọng và quyết định là tài nguyên bô-xít (5,5 tỷ tấn, đứng thứ 3 thế giới). Trong nhiều năm nay, Tây Nguyên đã có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, tuy vậy, vẫn còn rất khó khăn, cần phát huy mọi tiềm năng hiện có, không những phát triển các vùng cây công nghiệp, mà còn cần phát huy cả các tiềm năng khác như công nghiệp chế biến nông - lâm sản, thủy năng, khoáng sản bô-xít v.v...

Trên thế giới, quặng bô-xít chỉ có ở một số nước với tổng trữ lượng tài nguyên dự báo khoảng 29,3 tỷ tấn. Các nước có tài nguyên bô-xít đều phát triển trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước. Thế giới đã có 100 năm phát triển ngành công nghiệp nhôm mà theo các nghiên cứu cho đến nay thì chưa có vật liệu nào thay thế được. Trong những năm gần đây, do nhu cầu nhôm tăng mạnh dẫn đến tăng nhu cầu alumin trên thế giới.

Trên cơ sở trữ lượng, chất lượng tài nguyên bô-xít của nước ta cũng như nhu cầu và thị trường nhôm, alumin trên thế giới, có thể khẳng định Việt Nam có đủ điều kiện phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến bô-xít và nếu được phát triển một cách bền vững, sẽ đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu trong một thời gian dài. Việc triển khai các dự án thăm dò, khai thác bô-xít, chế biến alumin tại Tây Nguyên là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên trước mắt và lâu dài là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ Đại hội IX cho đến Đại hội X.

Tại thông báo 245 của Bộ Chính trị đã kết luận: "Chủ trương thăm dò, khai thác, chế biến bô-xít là chủ trương nhất quán từ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng đến nay. Triển khai các Nghị quyết Đại hội, trong 2 nhiệm kỳ, Bộ Chính trị đã nhiều lần bàn và ra các Nghị quyết, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng ngành công nghiệp bô-xít, alumin, nhôm, phục vụ phát triển kinh tế đất nước nói chung, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên nói riêng".

2. Về việc lập và phê duyệt Quy hoạch

Trong quá trình lập, thẩm định và trình duyệt Quy hoạch, Bộ Công nghiệp trước đây và sau này là Bộ Công Thương đã chỉ đạo tổ chức nhiều cuộc hội thảo với sự tham gia của các bộ, ngành và địa phương liên quan và một số nhà sản xuất alumin và nhôm lớn trên thế giới. Quy hoạch đã được gửi lấy ý kiến góp ý chính thức của các bộ, ngành và địa phương liên quan, đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thẩm định, góp ý và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Để triển khai các dự án khai thác bô-xit, sản xuất alumin dự kiến trong Quy hoạch, sẽ phải tiến hành nghiên cứu, lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) và Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho từng dự án và trình duyệt theo quy định hiện hành.
Việc lập, thẩm định và trình duyệt Dự án quy hoạch đã đảm bảo quy trình chặt chẽ, công khai và phù hợp quy định hiện hành. Tuy chưa có một Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐCM) riêng (do tại thời điểm xây dựng quy hoạch năm 2005-2006 chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung và kinh phí lập ĐCM), nhưng trong dự án Quy hoạch đã đề cập nội dung cơ bản của ĐCM và việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch là đảm bảo đúng Luật.

Về việc Quy hoạch bô-xít không phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đã được làm rõ tại Hội thảo khoa học ngày 09 tháng 4 năm 2009 như sau: Theo quy định tại Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khóa 11 (Nghị quyết 66), chỉ có các dự án, công trình quan trọng quốc gia thì Chính phủ phải trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư. Quy hoạch bô-xít cũng như nhiều quy hoạch khác (quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các vùng, địa phương, quy hoạch các ngành kinh tế - kỹ thuật như ngành điện, dầu khí, khoáng sản, thép v.v...) không phải là dự án đầu tư, vì vậy không chịu sự điều chỉnh của Nghị quyết 66. Theo luật pháp hiện hành, thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng, quy hoạch phát triển ngành là Thủ tướng Chính phủ.

Tiếp thu các ý kiến góp ý, trong bối cảnh có những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu hiện nay, Bộ Chính trị và Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo về việc điều chỉnh lại Quy hoạch bô-xít. Thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao tại văn bản số 650/TTg-KTN ngày 29 tháng 4 năm 2009, Bộ Công Thương đang tiến hành công tác triển khai việc rà soát tình hình triển khai các dự án, cập nhật tình hình và dự báo mới nhất về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, từ đó đề xuất điều chỉnh dự án Quy hoạch bô-xít cùng với việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược để trình duyệt theo quy định.

3. Về việc triển khai các dự án bô-xít

Các dự án bô-xít đã và đang triển khai đều có trong danh mục và tuân thủ theo Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ - TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007, đảm bảo tính công khai, minh bạch và tuân thủ quy chế quản lý dự án đầu tư hiện hành.
Đến nay, Thủ tướng Chính phủ mới thông qua chủ trương thực hiện hai dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đăk Nông 1). Dự án Tân Rai đã được phê duyệt và đang triển khai thực hiện. Đối với dự án Nhân Cơ chỉ triển khai thực hiện sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và kết quả tính toán, kiểm tra lại hiệu quả kinh tế cho thấy dự án có hiệu quả.
Thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm chủ trì thực hiện việc kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả dự án alumin Nhân Cơ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ, tuân thủ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Thông báo 245 : "Riêng dự án Nhân Cơ, cần rà soát lại toàn bộ các vấn đề có liên quan, nhất là việc đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, nếu thực sự có hiệu quả và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường thì mới tiếp tục triển khai thực hiện".

4. Về lựa chọn sản phẩm của các dự án

Ngành công nghiệp nhôm là ngành sản xuất sử dụng nhiều điện năng và yêu cầu vốn đầu tư lớn, suất đầu tư nhà máy điện phân nhôm trung bình khoảng 4.500 - 5.000 USD/tấn công suất, trong khi suất đầu tư nhà máy alumin khoảng 800 - 1.400 USD/tấn công suất, tiêu hao điện năng cho 1 tấn nhôm điện phân khoảng 13.000 - 14.000 kWh/tấn, cho 1 tấn alumin khoảng 200 - 256 kWh/tấn. Các nước sản xuất nhiều alumin là Úc, Trung Quốc, Mỹ, Brazin và Jamaica. Sản lượng alumin sản xuất trên thế giới năm 2007 đạt 72 triệu tấn, dự kiến năm 2010 đạt khoảng 80 triệu tấn.

Việt Nam có nguồn bô-xít lớn, nhưng nguồn tài chính có hạn, nguồn điện năng hiện còn thiếu, giá điện công nghiệp bình quân hiện ở mức lớn hơn 5 US cent/kwh, với giá điện như trên và nhu cầu điện cho toàn bộ nền kinh tế dự kiến sẽ còn tiếp tục gia tăng trong tương lai gần, việc điện phân ra nhôm kim loại sẽ không khả thi. Vì vậy, trước mắt, để đảm bảo hiệu quả kinh tế, sẽ ưu tiên đầu tư các dự án sản xuất alumin, đó là hướng đi đúng và phù hợp với hoàn cảnh thực tế Việt Nam cũng như kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp bô-xít-alumin-nhôm trên thế giới, bản thân alumin đã là sản phẩm chế biến của quặng bô-xít, không phải nguyên liệu thô. Việc đầu tư nhà máy điện phân nhôm cũng đã được dự kiến trên cơ sở đầu tư đồng bộ Tổ hợp Nhà máy điện - Nhà máy điện phân nhôm (TKV đang triển khai các công tác chuẩn bị cho dự án thủy điện Đồng Nai 5 phục vụ cho dự án luyện nhôm).

5. Về quy hoạch sản lượng các dự án

Quy hoạch được lập trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và khu vực đang trong giai đoạn tăng trưởng, nhu cầu và giá cả sản phẩm nhôm và alumin cao và tăng liên tục, các đối tác hợp tác đầu tư đều thể hiện mong muốn bao tiêu sản phẩm alumin. Mặc dù Quy hoạch đã phân tích, dự báo diễn biến của thị trường song trước tình hình cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu hiện nay thì sơ bộ thấy rằng về số lượng và sản lượng các dự án alumin đưa ra có phần thiên cao, cần phải được rà soát, đánh giá lại. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng Chính phủ mới đồng ý cho triển khai hai dự án tại Tân Rai và Nhân Cơ theo phương thức TKV tự đầu tư để thử nghiệm công nghệ và thị trường. Các dự án khác (quy mô dự kiến hầu hết đều lớn hơn so với dự án Tân Rai và Nhân Cơ) đều đang ở giai đoạn điều tra, thăm dò và nghiên cứu lập dự án.

Chính phủ thống nhất với ý kiến góp ý về việc cần thiết phải xem xét, điều chỉnh và thời sự hóa một cách thích hợp các mục tiêu và giải pháp đầu tư khai thác chế biến quặng bô-xít trong Quy hoạch. Ngoài 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ, các dự án đầu tư sau này cần được xem xét phù hợp với các điều kiện về thị trường có tính đến tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay và yếu tố môi trường, xã hội.

Bộ Chính trị đã có ý kiến kết luận "rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xit và triển khai 2 dự án nói trên. Trong đó, lưu ý chỉ đạo chặt chẽ về sử dụng công nghệ, bảo vệ môi trường, hoàn thổ, trồng rừng, đền bù tái định cư, những vấn đề xã hội, bảo đảm đời sống cho đồng bào thuộc diện phải thu hồi đất, quản lý tốt lao động nước ngoài và trật tự an toàn xã hội trong vùng dự án".

6. Về địa điểm đặt nhà máy alumin

Một số ý kiến góp ý đề nghị xem xét chuyển địa điểm nhà máy alumin tại khu vực Tây Nguyên ra khu vực ven biển. Phương án này đã được tính đến khi xây dựng dự án, song xét hiệu quả tổng thể về mặt kinh tế - xã hội đối với toàn vùng thì đặt nhà máy tại Tây Nguyên hợp lý hơn. Chủ trương của Đảng và Nhà nước xây dựng phát triển phát triển ngành sản xuất alumin trước hết nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Nguyên - địa bàn đang hết sức khó khăn về kinh tế - xã hội.

Phương án bố trí nhà máy alumin tại khu vực Tây Nguyên có thể sẽ hiệu quả kinh tế thấp hơn so với phương án bố trí tại khu vực ven biển (vận chuyển tinh quặng bằng đường ống), nhưng đảm bảo yếu tố tích cực góp phần phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên thông qua việc xây dựng tuyến đường sắt đa dụng, tạo thêm công ăn việc làm cho lao động địa phương, tạo điều kiện cho việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và các loại hình dịch vụ, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân địa phương, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

Cân nhắc tất cả các yếu tố trên, Quy hoạch đã định hướng địa điểm các nhà máy alumin đặt tại khu vực Tây Nguyên là hợp lý, phù hợp với chủ trương của Đảng và Chính phủ, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân địa phương.

Một số ý kiến vẫn tỏ ra nghi ngại về tính hợp lý và hiệu quả kinh tế của việc bố trí các nhà máy alumin tại Tây Nguyên và đề nghị xem xét phương án bố trí nhà máy alumin tại khu vực ven biển. Tuy nhiên, Chính phủ cho rằng chính việc phát triển các nhà máy alumin tại Tây Nguyên tuy có giảm bớt hiệu quả kinh tế của dự án nhưng lại đạt được hiệu quả tổng hợp, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống các dân tộc Tây Nguyên, đảm bảo phát triển hài hòa giữa kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội.

Về vấn đề này, tại Thông báo số 14-TB/TW ngày 15 tháng 8 năm 2006 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về dự án khai thác bô-xít, sản xuất alumin tại Đăk Nông đã xác định: "Các nhà máy chế biến alumin và luyện nhôm cần đặt tại tỉnh Đăk Nông, để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng".

7. Về diện tích chiếm đất, rừng của các dự án

Về ý kiến góp ý cho rằng khai thác bô-xít chiếm nhiều đất rừng, Bộ Công Thương và Tập đoàn TKV đã báo cáo về vấn đề này như sau.
Đối với tỉnh Đăk Nông, tổng diện tích dự kiến sẽ khai thác trong cả đời dự án của toàn bộ các mỏ bô-xít khoảng 52.200 ha, chiếm 8,6% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (6515,3 Km2). Trước mắt, khi chỉ triển khai dự án Nhân Cơ thì diện tích khai thác mỏ bô-xít chỉ chiếm 1,53% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Nếu tính theo năm giai đoạn một của dự án Nhân Cơ thì diện tích khai thác mỏ bô-xít (khoảng 50-60 ha/năm ở nơi thân quặng dày và 70-100 ha/năm ở nơi thân quặng mỏng) chỉ chiếm 0,01% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Nếu tính tối đa theo năm cho các dự án ở Đăk Nông thì diện tích khai thác mỏ bô-xít (khoảng 800-900 ha/năm) cũng chỉ chiếm 0,14% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.

Đối với tỉnh Lâm Đồng, tổng diện tích các mỏ bô-xít dự kiến sẽ khai thác chiếm 1,4% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (9772,2 Km2). Riêng dự án Tân Rai thì diện tích khai thác mỏ bô-xít chỉ chiếm 0,3% diện tích toàn tỉnh. Nếu tính theo năm của giai đoạn một dự án Tân Rai thì diện tích khai thác mỏ bô-xít (khoảng 50 - 60 ha/năm ở nơi thân quặng dày và 70 - 100ha/năm ở nơi thân quặng mỏng) chỉ chiếm 0,006% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.

Ngoài ra, do đặc điểm cấu tạo địa chất - thổ nhưỡng của các khoáng sàng bô-xít, nơi có quặng bô-xít thực tế hầu như không thể tồn tại được các cây có giá trị công nghiệp mà chủ yếu là các cây dạng bụi và cỏ dại mọc cằn cỗi trên lớp đất phong hóa dày 0,5 - 1m. Cây có giá trị kinh tế chỉ mọc được ở những nơi có tầng phủ dày và giàu chất mùn. Như vậy, việc khai thác các mỏ bô-xít không phải là yếu tố tác động lớn đến việc làm mất đất rừng hoặc đất trồng cây công nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tài Nguyên và Môi trường và Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương liên quan thẩm định kế hoạch sử dụng đất, kế hoạch thu hồi đất và giao đất của hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ, phù hợp với tiến độ thi công cuốn chiếu và hoàn thổ của dự án này, hạn chế ảnh hưởng đối với hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của địa phương, bảo vệ môi trường, hướng dẫn địa phương và Chủ đầu tư thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệpo theo quy định để thực hiện dự án khai thác bô-xít, kiểm tra, giám sát việc di dân tái định cư theo quy định của pháp luật.

8. Về công nghệ áp dụng

Về các ý kiến lo ngại công nghệ Trung Quốc không còn phù hợp, đối tác Trung Quốc không có công nghệ nguồn, không chuyển giao công nghệ tiên tiến v.v...

Thực tế, cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều lựa chọn công nghệ Bayer hòa tách bô-xít ở nhiệt độ 145 độ C - áp suất 5 atm cho hiệu suất hòa tách đạt 85,5% và hiệu suất thu hồi alumin toàn bộ đạt 83,6%. Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm alumin và mức tiêu hao nguyên liệu, năng lượng đều lấy theo tiêu chuẩn quốc tế của các nước có ngành công nghiệp alumin-nhôm tiên tiến. Đây là loại công nghệ ít phức tạp nhưng có hiệu quả. Hiện nay, trên thế giới, công nghệ này vẫn là công nghệ chính để sản xuất alumin.
Cơ sở để lựa chọn công nghệ này dựa trên kết quả nghiên cứu công nghệ thực tế. Quặng bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ đều đã được lấy mẫu, thử nghiệm công nghệ và cho kết quả tốt. Trong hợp đồng dự án đều yêu cầu các đối tác cam kết thực hiện đúng hồ sơ mời thầu (công nghệ Bayer tiên tiến, sản phẩm đủ tiêu chuẩn điện phân nhôm và xuất khẩu).

Trung Quốc có kinh nghiệm, có công nghệ sản xuất alumin (kể cả đối với quặng gipxit là loại quặng khó xử lý hơn) và là một trong các nhà sản xuất alumin-nhôm hàng đầu thế giới hiện nay. Sản phẩm alumin và nhôm sản xuất theo công nghệ thực tế đang áp dụng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Như vậy, công nghệ Trung Quốc đã được kiểm chứng qua thực tế và có thể áp dụng cho các dự án ở Việt Nam.

Tập đoàn TKV cam kết có trách nhiệm kiểm tra, giám sát và tiếp nhận việc chuyển giao công nghệ theo đúng như hồ sơ mời thầu, đảm bảo công nghệ tiên tiến.

Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì giám sát và đánh giá kết qủa việc chuyển giao và ứng
dụng công nghệ đối với hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ.

9. Về hạ tầng cơ sở và đào tạo nguồn nhân lực cho dự án:

a) Cung cấp nước :

Tập đoàn TKV đã giải trình về nguồn nước cấp nước cho các dựán alumin chủ yếu là nước mặt.
Theo phương án thiết kế, cung cấp nước cho 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ sử dụng 100% nước mặt ( không sử dụng nước ngầm). Theo tính toán, nhu cầu nước cho nhà máy alumin với công suất 0,6 triệu tấn/năm yêu cầu khoảng 28 triệu m3/năm (đã tính dự phòng 15%), trong đó nước tuần hoàn khoảng 12 triệu m3/năm, lượng nước cần cấp bổ sung hàng năm khoảng 16 triệu m3/năm. Với lượng mưa trung bình ở Đăk Nông và Lâm Đồng khoảng 2.000- 2.500 mm/năm và nếu không lưu giữ một phần lượng nước mặt này thì lượng nước trên cũng chảy về Sông Đồng Nai và đổ ra biển, về mùa mưa, lượng nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt khu vực là dư thưa.

Bằng giải pháp tôn cao đập của các hồ hiện có Nhân Cơ và Cầu Tư (đối với dự án Nhân Cơ) để tăng dung tích chứa nước và tận dụng các thung lũng để đắp đập tạo hồ chứa mới Cai Bảng (đối với dự án Tân Rai) cùng với việc sử dụng khoảng 50 - 60% nước tuần hoàn, theo tính toán của cơ quan tư vấn chuyên ngành thủy lợi, lượng nước tích tụ trong các hồ chứa theo thiết kế (đã tính đến các yếu tố bốc hơi và thấm) không những đủ cho sản xuất mà còn dư thừa để cấp bổ sung cho sản xuất nông nghiệp trong khu vực, cụ thể như sau :

- Đối với dự án Tân Rai :

Hồ Cai Bảng thiết kế có diện tích lưu vực 134 km2, , diện tích hồ 222 ha, dung tích chứa nước 17,2 triệu m3 (đã trừ lượng nước bốc hơi, thấm v.v..)

- Đối với dự án Nhân Cơ :

Với giải pháp tôn cao đập của các hồ Nhân Cơ và Cầu Tư hiện có, sẽ tăng dung tích chứa nước của 2 hồ trên từ 2,08 triệu m3. Đảm bảo đủ nguồn nước cho dự án, không ảnh hưởng đến nước sản xuất và nước sinh hoạt của địa phương.
Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu phải đánh giá cân bằng nước cho toàn khu ực có tính tác động đến lưu vực sông Đồng Nai trong quá trình rà soát điều chỉnh Quy hoạch bô-xít.

b) Vận chuyển alumin :

Do Nhà máy alumin đặt tại Tây Nguyên, cảng biển dự kiến xây dựng tại Khu vực Kê Gà (Bình Thuận), do đó, để vận chuyển sản phẩm alumin ra cảng biển chỉ có phương án bằng đường bộ, sử dụng đường ô tô trong giai đoạn đầu (dự kiến đến năm 2014-2015) và chuyển sang vận chuyển đường sắt (giai đoạn sau năm 2015), như vậy, việc xem xét đầu tư tuyến đường sắt và cảng biển là cần thiết, Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo giao TKV làm chủ đầu tư, kết hợp với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, các tối tác nước ngoài hợp tác đầu tư về bô-xít cùng hợp tác nghiên cứu để xây dựng và vận hành tuyến đường sắt trên. Hiện nay, TKV và Tư vấn TEDI đang khẩn trương hoàn tất Báo cáo đầu tư (Báo cáo tiền khả thi) dự án tuyến đường sắt, dự kiến cuối năm 2009 trình duyệt.

Các dự án alumin công suất lớn chỉ có thể đưa vào vận hành sau khi xây dựng xong tuyến đường sắt trên. Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo thiết kế tuyến đường sắt đa dụng, ngoài việc vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm của các dự án alumin, sẽ đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa, hành khách giữa khu vực Tây Nguyên và duyên hải miền Trung Nam Bộ.

Việc xem xét và so sánh phương án đầu tư tuyến đường sắt đi cảng ở khu vực Bà Rịa- Vũng Tàu và hiệu quả kinh tế của tuyến đường sắt lựa chọn sẽ được đề cập trong Báo cáo đầu tư và sẽ trình Chính phủ xem xét để báo cáo Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư (nếu thuộc tiêu chí dự án quan trọng quốc gia theo Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29/6/2006).
Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo Tập đoàn TKV lập phương án vận tải sản phẩm đối với các dự án Tân Rai và Nhân Cơ tối ưu nhất để triển khai thực hiện dự án đi vào hoạt động.

c) Cung cấp điện :

Bộ Công Thương và Tập đoàn TKV đã làm rõ: Nhu cầu tiêu hao điện cho sản xuất alumin không lớn, bình quân khoảng 200-256 kWh/năm (tương đương nhà máy điện công suất 30 MW), Tại các nhà máy alumin sẽ đầu tư các nhà máy nhiệt điện tựùng với quy mô khoảng 30 MW, chỉ sử dụng nguồn điện lưới trong giai đoạn thi công dự án và là nguồn dự phòng cho sản xuất.
Tuy nhiên, việc luyện nhôm lại yêu cầu một sản lượng điện rất lớn, khoảng từ 13.500 - 14.00 kWh/tấn nhôm (để sản xuất 100 ngàn tấn nhôm, yêu cầu lượng điện của Nhà máy có công suất 200 MW). Chỉ có những nước có tiềm năng dồi dào về thủy điện hoặc có nguồn điện giá rẻ khác mới có thể triển khai điện phân nhôm có hiệu quả, vì vậy, ý kiến góp ý về việc cần phải phát triển hạ nguồn (luyện nhôm) trước là không hợp lý và không thực tế.

Chính phủ nhất tí với ý kiến góp ý là trong bối cảnh nước ta còn thiếu điện như hiện nay thì việc xây dựng Nhà máy điện phân nhôm ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015 phải được cân nhắc hết sức thận trọng.

d) Về nguồn lực cho các dự án:

Lao động cần cho mỗi dự án Tân Rai (hoặc Nhân Cơ) cần khoảng 1.500 - 1.700 người. Trong đó phần nhà máy alumin là 700- 800 người. Phần mỏ tuyển khoảng 800 - 900 người. Để đáp ứng nhu cầu này, TKV đã và đang tích cực và chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực theo các hướng: cử đi đào tạo ở nước ngoài (gồm cả thông qua các hợp đồng EPC - có nội dung đào tạo và chuyển giao công nghệ) và đào tạo trong nước bằng kinh phí của TKV, trênnguyeen tắc ưu tiên trước hết đào tạo con em đồng bào dân tộc địa phương;
Về vấn đề này, TKV đã kí kết Chương trình phối hợp hành động phát triển bền vững công nghiệp nhôm gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đăk Nông với UBND tỉnh Đăk Nông và sẽ kí kết với UBND tỉnh Lâm Đồng bản Chương trình hành động tương tự và cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc thỏa thuận trên.
Tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 09 tháng 4 năm 2009, đại diện UBND tỉnh Lâm Đồng đã xác nhận và đánh giá cao trách nhiệm của TKV đã thực hiện trong công tác đào tạo chuẩn bị nguồn lực cho dự án, công tác xã hội và hỗ trợ đồng bào địa phương.

10. Về hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án

Hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án bô-xít là vấn đề then chốt và có nhiềy ý kiến xung quanh vấn đề này.

a) Hiệu quả kinh tế:

Nhiều ý kiến góp ý tỏ ra nghi ngại về kết quả tính toán hiệu quả kinh tế của TKV đối với 2 dự án đã được phân tích, tính toán và cập nhật theo tình hình mới, tính toán đầy đủ các chi phí; kết quả cho thấy dự án Tân Rai và Nhân Cơ với phương thức vận tải bằng ô tô trong giai đoạn đầu là có hiệu quả kinh tế: giá trị hiện tại thực (NPV) là 1.477 tỷ đồng (Tân Rai) và 1.010 tỷ đồng (Nhân Cơ); tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRRR) là 11,4% (Tân Rai) và 10,6% (Nhân Cơ). Đây là các chỉ tiêu có thể chấp nhận được; hơn nữa, phần tài chính của dự án đã được các tổ chức tín dụng thẩm định và đồng ý cho chủ đầu tư vay (khoảng 70% tổng vốn đầu tư). Khi chuyển sang phương thức vận tải đường sắt thì các dự án trên sẽ có hiệu quả kinh tế cao hơn ( vì chi phí vận tải đường sắt rẻ hơn so với vận tải ô tô), thời gian thu hồi vốn khoảng 13 năm, những năm đầu của dự án có một số năm lỗ (lỗ kế hoạch), tuy nhiên đánh giá cả đời dự án là có hiệu quả kinh tế. So với một số dự án alumin đang xây dựng và mới đưa vào vận hành ở một số nước như Trung Quốc và Braxin thì dự án Việt Nam có nhiều lợi thế hơn về điều kiện khai thác, vận chuyển, chi phí vận hành thấp. Ngoài ra, hiện nay một số nhà sản xuất alumin lớn trên thế giới như Chalco, Alcoa, BHPB, UC-Russal vẫn đang thể hiện mong muốn hợp tác đầu tư sản xuất alumin tại Việt Nam v.v..., vì vậy có cơ sở để tin cậy và an tâm về hiệu quả kinh tế.

Về giá bán alumin : Giá nhôm trên thị trường hiện nay đang ở mức giá sàn rất thấp (1.426 USD/tấn, giá giao 3 tháng), giảm khoảng 70% so với giá nhôm thời kỳ 2006-2007. Giá alumin cũng tương ứng giảm theo làm ảnh hưởng đến hiệu quả của dự án. Tuy nhiên, các dự án alumin Tây Nguyên đều có tuổi đời dự án trên 50 năm, vì vậy, hiệu quả kinh tế của dự án được tính toán dựa trên cơ sở dự báo, phân tích và lựa chọn giá bán alumin bình quân cho cả giai đoạn tồn tại của dự án 362 USD/tấn là phù hợp quy định. Ngoài ra, cần lưu ý đến yếu tố mang tính quy luật của thị trường kim loại thế giới - đó là giá cả diễn biến có tính chu kỳ, sau một chù kỳ giảm sẽ tiếp đến chu kỳ tăng. Về nhu cầu, xu hướng gia tăng sử dụng nhôm kim loại trên thế giới sẽ vẫn tiếp tục chưa có loại vật liệu mới nào thay thế hoàn toàn được nhôm, ngược lại nhôm và hợp kim nhôm đang dần thế chỗ cho thép và các loại vật liệu truyền thống trong rất nhiều ngành, vì thế nhu cầu về nhôm sẽ còn tiếp tục duy trì và gia tăng trong nhiều năm tới.

Sau giải trình của Tập đoàn TKV, vẫn còn nhiều ý kiến nghi ngại về hiệu quả kinh tế và tính rủi ro của dự án.
Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tính toán, đánh giá lại hiệu quả dự án alumin Nhân Cơ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

b) Hiệu quả xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên :

Một số ý kiến góp ý bày tỏ lo ngại việc triển khai các dự án bô-xít không có hiệu quả xã hội, làm xói mòn bản sắc văn hóa Tây Nguyên.
Tại Hội thảo khoa học, đại diện các địa phương Lâm Đông, Đăk Nông và Tập đoàn TKV đã báo cáo làm rõ thêm hiệu quả xã hội của các dự án bô-xít Tây Nguyên thông qua các tác động tích cực to lớn như sau :
Sự hình thành cụm kinh tế công nghiệp bô-xít - alumin trong khu vực sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế dịch vụ như giao thông vận tải, cơ khí, xây dựng, phát triển đô thị, thương mại, khách sạn và du kịch, vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống... Đây là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực từ thuần nông lâm nghiệp sang kinh tế đa ngành nghề, trong đó công nghiệp - dịch vụ là thành phần kinh tế cơ bản.
Hoạt động khai thác bô-xít và sản xuất alumin sẽ tạo ra những cộng đồng dân cư mới, những đô thị mới. Tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn con em dân tộc địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần ổn định tình hình an ninh-chính trị trên địa bàn khu vực Tây Nguyên.

Để phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên, không thể chỉ dựa vào phát triển cây công nghiệp như cà phê, chè và cao su, mà phải tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của Tây Nguyên, đặc biệt là lợi thế về thủy điện và khoảng sản (chủ yếu là bô-xít) mà các địa phương khác không có. Do bô-xít được khai thác trên những diện tích không thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, mật độ rừng che phủ thấp và với chu kỳ sử dụng - hoàn thổ - cải tạo đất ngắn (4-5 năm), vì vậy công nghiệp khai thác và chế biến bô-xít tuy có ảnh hưởng nhưng không thể là yếu tố cản trở việc phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên.

Tuy nhiên, ở chừng mực nhất định, dự án khai thác và chế biến bô-xít ở Tây Nguyên - giống như phát triển công nghiệp nói chung - cũng sẽ tác động đến đời sống kinh tế, phong tục - tập quán và văn hóa xã hội của một bộ phận nhỏ người dân bản địa.
Theo số liệu của hai dự án thí điểm thì dự án Tân Rai có tổng số hộ bị ảnh hưởng là 1.639 hộ, trong đó có 404 hộ đồng bào dân tộc, cần tài định cư 700 hộ trong đó có 230 hộ đồng bào dân tộc. Dự án Nhân Cơ có 861 hộ bị ảnh hưởng, trong đó có 15 hộ đồng bào dân tộc và cần tái định cư là 83 hộ, không có hộ đồng bào dân tộc cần tái định cư.

Việc phát triển một nền công nghiệp bô-xít - alumin có hiệu quả sẽ đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc phát triển kinh tế, xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa khu vực Tây Nguyên.

Các địa phương Lâm Đồng và Đăk Nông đều thể hiện mong muốn và ủng hộ việc triển khai nhanh dự án.

Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn địa phương và Chủ đầu tư thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, đất rừng để thực hiện dự án khai thác bô-xít theo quy định, kiểm tra, giám sát việc di dân tái định cư theo quy định của pháp luật. Đồng thời giao cho Ủy ban nhân dân các tỉnh có hoạt động khoáng sản bô-xít chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư, bảo đảm đời sống nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ, đặc biệt quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển phong tục, tập quán và giữ gìn bản sắc của đồng bào dân tộc trong quá trình bố trí tái định cư.

11. Về tác động môi trường của các dự án bô-xít

Đây là vấn đề có nhiều ý kiến góp ý bày tỏ sự lo ngại và quan tâm lớn.
Qua việc trình bày các giải pháp bảo vệ môi trường và hoàn thổ đã áp dụng tại Úc và Trung Quốc của các Tập đoàn nước ngoài Alcoa, Chalco và giải trình bổ sung của Tập đoàn TKV tại cuộc Hội thảo khoa học cho thấy :

Kết quả phân tích bùn đỏ của bô-xít Tây Nguyên đã có kết luận tin cậy về thành phần bùn đỏ không có chất gây độc hại cho môi trường, không có chất phóng xạ và không thuộc loại rác thải nguy hiểm. Tuy nhiên trong phần dung dịch bùn đỏ còn lượng kiềm dư nhất định, độ PH≥12,5, lượng kiềm này có thể thẩm thấu, gây tác hại cho đất xung quanh và làm ô nhiễm nguồn nước, vì vậy phải xử lý huyền phù bùn đỏ theo tiêu chuẩn xử lý chất thải nguy hiểm.

Hiện nay, công nghệ hiện đại thải và chứa cách ly bùn đỏ đã đạt hiệu quả gần như an toàn tuyệt đối đối với môi trường và đang được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.

Phương pháp thải ướt bùn đỏ dự kiến áp dùn cho dự án alumin Tân Rai và Nhân Cơ tuy đã được áp dụng thành công ở một số nước (Úc, Trung Quốc) với các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đồng bộ như chống thấm bùn đỏ, thu hồi nước từ hồ bùn đỏ, kiểm tra nguồn nước và tái tạo sinh thái hồ bùn đỏ và TKV cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc và đẩy đủ các giải pháp trên, tuy nhiên vấn đề này vẫn gây sự lo ngại của không ít người. Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ thành lập các tổ giám sát công tác môi trường ngay từ khi xây dựng nhà máy alumin Tân Rai (và Nhân Cơ). Khai thác và chế biến bô-xít Tây Nguyên không thể tránh khỏi gây ra những tác động môi trường nhất định, tuy nhiên kinh nghiệm thực tế của thế giới cho thấy những tác động môi trường này hoàn toàn có thể kiểm soát và không chế tới mức an toàn cần thiết, vấn đề quan trọng là cần tăng cường công tác quản lý, kiểm tra và giám sát các giải pháp bảo vệ môi trường ngay trong quá trình xây dựng cũng như trong suốt quá trình vận hành các dự án alumin.

Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo 245, Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Công Thương và Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan kiểm tra, giám sát các giải pháp bảo vệ môi trường, cụ thể như sau :

- Thẩm định thiết kế kỹ thuật của hồ bùn đỏ của dự án Tân Rai và Nhân Cơ, đảm bảo an toàn lâu dài đối với môi trường.

- Phối hợp với chính quyền địa phương theo dõi, giám sát chặt chẽ việc thự hiện các giải pháp môi trường đối với hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ.

- Lập và trình duyệt Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.

12. Về vấn đề người lao động nước ngoài tại dự án

Theo báo cáo của Tập đoàn TKV, sự tham gia của lao động nước ngoài và Việt Nam đối với dự án Tân Rai như sau :

a) Giai đoạn xây dựng dự án :

- Phần xây dựng mỏ bô-xít và khai thác quặng bô-xít: Toàn bộ sẽ do lao động Việt Nam thực hiện.

- Phần xây dựng nhà máy tuyển quặng bô-xít: Toàn bộ sẽ do lao động Việt Nam thực hiện.

- Phần xây dựng Nhà máy luyện alumin (gói thầu EPC): chủ yếu do lao động của nhà thầu Chalieco, Trung Quốc thực hiện, một phần do
lao động Việt Nam thực hiện. Số lượng lao động Trung Quốc tại công trường nhà máy alumin hiện nay (tháng 5 năm 2009) khoảng 600 người, lao động Việt Nam khoảng 350 người.

b) Giai đoạn dự án đi vào vận hành:

Toàn bộ lao động là người Việt Nam.

Trong trường hợp cần thiết, thời gian đầu vận hành của nhà máy alumin có thể thuê thêm chuyên gia nước ngoài hướng dẫn (người Trung Quốc hoặc nước khác). Thực tế nhiều dự án EPC đã và đang thực hiện theo hình thức này (như lọc dầu Dung Quất, một loạt nhà máy điện...), giai đoạn đầu thuê một số chuyên gia nước ngoài hướng dẫn vận hành, sau một năm, các cán bộ và công nhân Việt Nam đã tự vận hành được, không phải thuê chuyên gia nước ngoài nữa.
Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho Bộ Công an phối hợp với các địa phương kiểm tra, giám sát chủ đầu tư (TKV) thực hiện đúng quy định hiện hành về lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và bảo đảm an ninh, trật tự trong khu vực.

13. Vấn đề ảnh hưởng đến an ninh - quốc phòng của các dự án bô-xít:

Có một số ý kiến cho rằng Tây Nguyên là địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo như kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 245 - TB/TW, như vậy, dự án bô-xit Tân Rai và Nhân Cơ phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư.
Về vấn đề trên, Chính phủ xin báo cáo như sau: Theo tiêu chí thứ 4 trong Nghị quyết 66 của Quốc hội thì "Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh" thuộc dự án quan trọng quốc gia.
Thông báo số 245-TB/TW ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị xác định: "Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài...". Đến nay, chưa có một quy định hoặc quyết định cụ thể nào của Quốc hội và Chính phủ về "đưa Tây Nguyên vào địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh" và điều chỉnh bởi Nghị quyết 66. Bởi vì nếu như vậy, thì được hiểu là tất cả các dự án ở Tây Nguyên, không trừ một dự án nào, không phụ thuộc vào quy mô, tính chất cũng sẽ phải trình ra Quốc hội để thông qua chủ trương đầu tư.
Xin làm rõ thêm về vấn đề ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng của 2 dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ như sau:

- Cả 2 dự án trên đều do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - doanh nghiệp nhà nước chủ chốt trong ngành khoáng sản làm chủ đầu tư, không phải dự án liên doanh với nước ngoài. Đối với dự án Nhà máy alumin Tân Rai, Công ty Chalieco, Trung Quốc chỉ là đơn vị trúng thầu thi công gói thầu EPC nhà máy alumin với thời hạn thi công 24 tháng, sau khi hoàn thành xây dựng (kèm theo việc đào tạo, chuyển giao công nghệ), nhà thầu Chalieco sẽ bàn giao cho phía Việt Nam tiếp nhận để quản lý, vận hành và rút toàn bộ lao động, trang thiết bị thi công về nước. Dự kiến nhà máy alumin Tân Rai sẽ đưa vào sản xuất cuối năm 2010 hoặc đầu 2011.

- Đối với dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ (cũng như các dự án khai khoáng khác ở Tây Nguyên), trong quá trình khoanh định và bố trí diện tích thăm dò, khai thác và xây dựng các công trình công nghiệp phục vụ khai thác, chủ đầu tư đều phải xin ý kiến thỏa thuận của các bộ và địa phương (trong đó có cơ quan quốc phòng) về việc dự án không thuộc phạm vi diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, di tích lịch sử - văn hóa và không ảnh hưởng đến khu vực phòng thủ quốc phòng... Chỉ khi có văn bản thỏa thuận và xác nhận của các bộ và địa phương liên quan, Bộ Tài nguyên và Môi trường mới cấp Giấy phép thăm dò và khai thác.

- Đến nay, đã có nhiều dự án công nghiệp đầu tư trên địa bàn Tây Nguyên (các dự án thủy điện, khai khoáng, chế biến nông - lâm sản...) và các dự án trên đều phải thực hiện trên nguyên tắc nêu trên.

Như vậy có thể khẳng định rằng 2 dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ do một doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam tự đầu tư trên địa bàn Tây Nguyên, đã được địa phương và các bộ, ngành liên quan thỏa thuận về vị trí, địa điểm (trong đó có liên quan đến an ninh, quốc phòng) đáp ứng các yêu cầu về an ninh, quốc phòng quốc gia và khu vực. Tuy nhiên, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và chủ đầu tư thời gian tới là phải phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong việc quản lý, giám sát hoạt động của nhà thầu cũng như việc quản lý lao động nước ngoài, phù hợp với các quy định của hợp đồng EPC nói riêng và luật pháp Việt Nam nói chung.

V. Kết luận và kiến nghị:

Căn cứ Văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X và các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương tích cực thực hiện các công tác thăm dò, nghiên cứu và lập quy hoạch, dự án đầu tư để triển khai thực hiện. Quá trình này đã được thực hiện trong nhiều năm, công khai, minh bạch, hoàn toàn phù hợp với các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt và hai dự án Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đăk Nông) đã được chuẩn bị để triển khai.

Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 245 - TB/TW ngày 24 tháng 4 năm 2009 về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007 - 2015, có xét đến năm 2025; tiếp thu các ý kiến đúng đắn, tâm huyết của một số nhà khoa học, quản lý... về các vấn đề quy hoạch, môi trường, công nghệ, hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng..., Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan thực hiện các giải pháp nhằm mục tiêu phát triển một số ngành công nghiệp bô-xít hiệu quả, đảm bảo các chỉ tiêu môi trường, hiệu quả kinh tế - xã hội - văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên, đảm bảo an ninh - quốc phòng của khu vực quan trọng này của đất nước (văn bản số 650/TTg - KTN ngày 29 tháng 4 năm 2009).

Chính phủ xin báo cáo Quốc hội và đề nghị các vị đại biểu Quốc hội thường xuyên giám sát quá trình thực hiện các dự án bô-xít.

Thay mặt Chính phủ
Thừa ủy quyền Thủ tướng
Bộ trưởng Bộ Công Thương
Vũ Huy Hoàng (đã ký)

Nguồn: VienNamNet


Mặc dù là một Báo cáo ở tầm Chính phủ trước Quốc hội, nhưng hiện nay có nhiều bài viết của các nhà khoa học, nhà hoạt động môi trường, nhà hoạt động văn hóa - lịch sử, nhà kinh tế, nhà văn, nhà thơ, và các tầng lớp khác trong nhân dân... đang phân tích, phản biện những điểm chưa đúng, chưa hợp lý, chưa triệt để... của bản Báo cáo trên nhiều Diễn đàn.

nbc
30/05/09, 04:46 PM
BÀI PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI BIỂU QH DƯƠNG TRUNG QUỐC (Đai biểu tỉnh Đồng Nai)
Tại Kỳ họp thứ 5, QH khóa XII, ngày 26/05/2009

Kính thưa Quốc Hội,

Báo cáo Chính Phủ tại mỗi kỳ họp của Quốc Hội phải là bức tranh toàn cảnh tình hình đất nước diễn ra giữa 2 kỳ họp và đặt trong tính liên tục của thời gian.

Mục tiêu chống suy giảm kinh tế do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, đương nhiên là một trọng tâm rất quan trọng. Báo cáo của Chính Phủ đã phản ánh nội dung trọng tâm ấy và chúng ta ghi nhận những nỗ lực mạnh mẽ của Chính Phủ. Nhưng những đánh giá về hiệu qủa của nó thì mong thận trọng vì chúng ta đã biết đến nhiều dự báo không chính xác trước những biến động vô lường đang diễn ra.

Tại kỳ họp trước, khi Quốc Hội bàn về điều chỉnh chỉ tiêu phát triển kinh tế, tôi đưa ra quan điểm rằng: rất khó xác định, nên tránh định lượng một cách chủ quan. Và y như rằng đến kỳ họp này Quốc Hội lại phải bàn để hạ chỉ tiêu một lần nữa mà không biết có chính xác được hay không.

Điều đó chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng: trong những đánh giá chúng ta phải hết sức thận trọng.

Nhưng điều chúng tôi muốn phát biểu là giữa 2 kỳ họp không chỉ có vấn đề chống suy giảm kinh tế - một vấn đề mang tính ứng phó do tình huống - mà còn nhiều điều cần nói tại diễn đàn của Quốc Hội, diễn đàn của nhân dân: Chúng ta không chỉ chống đỡ với cơn bão suy giảm của nền kinh tế, nhưng ngoài biển Đông đâu phải sóng yên biển lặng. Chúng ta đang đứng trước những thách đố trong một sự nghiệp lâu dài và chiến lược là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải quốc gia.

Những động thái đang diễn ra trên biển Đông, trong đó có những việc mà Chính Phủ đã phải làm như những tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao, như việc trình lên Liên Hiệp Quốc đăng ký về vùng biển chủ quyền của Việt Nam, vậy mà chúng ta thấy những báo cáo của Chính Phủ chưa tương xứng với độ nóng của tình hình thực tiễn.

Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của Chính Phủ, có sức mạnh của lực lượng quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc Quyết sinh” của người dân. Do vậy, Quốc Hội cần được Chính Phủ cung cấp đầy đủ thông tin để thực hiện sự giám sát cũng như tạo sự đồng thuận của nhân dân trên những lĩnh vực sống còn này.

Bài học lịch sử đã cho thấy: chỉ một sai sót của Chính Phủ, dân tộc phải chịu đựng những hậu quả lâu dài.

Một vấn đề gây nhiều quan tâm của nhiều cử tri vào thời điểm này là dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Việc báo cáo chính thức của Thủ tướng Chính Phủ chỉ lướt qua có vài dòng. Và phải đến kỳ họp Quốc Hội đã diễn ra được 2 ngày, Chính Phủ mới ủy quyền Bộ trưởng Thương Mại có văn bản giải trình theo chỉ đạo của Bộ Chính Trị, cho thấy trong tư duy của Chính Phủ đây vẫn là sự đối phó nhiều hơn là sự nhận thức của tầm quan trọng của vấn đề này.

Tôi không bàn về những vấn đề liên quan đến công nghệ, nhưng tôi đã dự các cuộc hội thảo, đã đọc những phản biện nghiêm túc, công phu theo đúng chức năng, như phản biện của Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam mà tôi là thành viên, thì tôi thấy những luận chứng của Chính Phủ chưa giải đáp những phản biện mà các nhà khoa học đã đưa ra.

Riêng tôi, tôi xin phát biểu dưới góc độ của một người làm công tác nghiên cứu lịch sử, và tôi rất tiếc là có một cử tri lão thành, một hội viên, cũng là Chủ tịch danh dự của Hội Sử học Việt Nam chúng tôi, đó là đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã có tới 3 bức thư phát biểu vấn đề này, mà bức thư cuối cùng đề ngày 20 tháng 5 năm 2009, tức là đúng ngày khai mạc kỳ họp Quốc Hội, gửi các cơ quan lãnh đạo và Quốc Hội, mà rất tiếc đến thời điểm này rất ít đại biểu Quốc Hội biết tới.

Tôi xin bày tỏ quan điểm của tôi bằng những câu hỏi:

Thứ nhất, trong tư duy của Chính Phủ có dự trữ cho tương lai, có để dành cho con cháu không? Hay có chút của nả nào của tổ tiên để lại làm cho bằng hết? Đất đai, than đá, dầu khí, hiện chiếm một tỉ trọng rất cao trong danh thu ngân sách là một biểu hiện. Người phương Bắc, họ có Thập Tam Lăng là 13 ngôi mộ của các hoàng đế, họ chỉ khai quật một vài còn để lại cho con cháu khi đủ tiền, đủ tài. Còn khoáng sản họ mua thô để dự trữ cho tương lai. Tại sao ta không để dành bô-xít cho con cháu làm khi chúng ta có đủ năng lực và đạt được hiệu qủa kinh tế cao nhất?

Ngoài bô-xít, Tây Nguyên còn nhiều tiềm năng khác. Bô-xít không phải là duy nhất. Tổ tiên ta đã dạy "lọt sàng xuống nia" hay còn nhiều câu khuyên hay hơn là "đời cha phải tập ăn nhạt thì đời con mới có nước uống”.

Thứ hai, một câu hỏi được đặt ra là vì sao một chủ trương lớn như thế, quan trọng như thế, có thể làm thay đổi Tây Nguyên như thế, và đã được chuẩn bị lâu như thế mà đến lúc này Quốc Hội mới có cơ hội bàn đến? Phải chăng đây có vấn đề trong cái nguyên lý "ý Đảng lòng dân"? Hay giữa chủ trương của Chính Phủ và lòng dân còn có một khoảng cách? Tôi không dám như đại biểu tỉnh Lâm Đồng, nhân danh là toàn thể nhân dân của tỉnh ủng hộ, tôi chỉ muốn dựa vào ý kiến của một bộ phận mà chính trong văn bản của Bộ Chính Trị đã bày tỏ lòng biết ơn đó là những vị lão thành cách mạng, đó là những nhà khoa học tâm huyết, để nói rằng: Tại sao một vấn đề được đặt ở một tầm mức quan trọng như vậy mà cái bộ phận nhân dân này vẫn cảm thấy chưa đồng thuận? Vậy thì Quốc Hội phải xem chính vai trò của mình: Tại sao đứng ngoài sự việc?

Khi giải trình, Chính Phủ đưa ra hai tiêu chí để dự án này không phải đưa ra Quốc Hội là hạn mức đầu tư chưa đủ và mới là quy hoạch. Vậy mà ai cũng biết rằng việc xây nhà Quốc Hội và mở rộng Hà Nội đã từng đưa ra Quốc Hội đâu phải vì hạn mức đầu tư hay mới là quy hoạch?

Còn ý kiến của đại diện Bộ Thương Mại cho rằng nhiều người không tán thành khai thác bô-xít vì thiếu thông tin, thậm chí bị những thông tin xấu lung lạc. Vậy thì trách nhiệm đầu tiên cũng phải thuộc về Chính Phủ. Chính tôi đây và cũng có thể nhiều vị đại biểu Quốc Hội khác cho đến trước ngày 22 tháng 5, tức là 2 ngày sau kỳ họp này chúng ta mới có một thông tin tương đối đầy đủ. Và ngay tại cuộc hội thảo do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì mà tôi có tham dự vào ngày mùng 9 tháng 4, khi Liên Hiệp các Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam, sau một công trình nghiên cứu đưa ra con số những lao động nước ngoài sử dụng visa du lịch thì ngay lập tức, đại diện của tỉnh Lâm Đồng chỉ đưa ra một con số không đầy 1/10, mà trong khi đó Phó Thủ tướng – người chủ trì - không đưa ra con số nào chính xác, như thế là chúng ta không có đầy đủ thông tin.

Cuối cùng, tôi đoán chắc rằng khi triển khai quy hoạch này, Chính Phủ chưa quan tâm đến lịch sử Tây Nguyên, nhất là lịch sử gắn kết Tây Nguyên với lãnh thổ Tổ quốc của chúng ta. Chúng tôi sẵn sàng phát biểu nếu có thời gian và Chính Phủ muốn lắng nghe, ở một cơ hội khác.

Xin cảm ơn!

DƯƠNG TRUNG QUỐC
Đại biểu Quốc Hội tỉnh Đồng Nai,
Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí “Xưa và Nay”.

Ghi chú:
Video và bản đánh máy gốc được thực hiện bởi mcttTV. Các bạn có thể xem được ở nhiều trang, song bản gốc và đầy đủ thì ở link này: http://thehehochiminh.wordpress.com/2009/05/26/01-5/ (http://thehehochiminh.wordpress.com/2009/05/26/01-5/)
Các bài phát biểu có liên quan của các đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Xuân cũng như bài phát biểu của đại diện tỉnh Lâm Đồng (nơi có dự án Tân Rai), đại diện tỉnh Đắc Nông (có dự án Nhân Cơ) có thể them ở: http://www.youtube.com/mcttTV (http://www.youtube.com/mcttTV)
Blog của đại biểu Dương Trung Quốc: http://360.yahoo.com/quocxuanay (http://360.yahoo.com/quocxuanay)Nguồn: Bauxitevietnam.info (http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090529_baiphatbieuduongtrungquoc.htm)

nbc
30/05/09, 04:54 PM
"Không đưa dự án bô-xít ra Quốc hội là lách luật"


16:00' 26/05/2009 (GMT+7)

Xin "nới" thêm thời gian để phát biểu, ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết - người cuối cùng nêu ý kiến tại phiên thảo luận ở Hội trường về tình hình kinh tế - xã hội sáng nay (26/5) - đề nghị Quốc hội phải xem dự án khai thác bô-xít là công trình quan trọng quốc gia. Quốc hội phải thẩm tra và không quyết định một cách vội vã.

Tiền rất tốn...

Đồng tình với chủ trương phát triển công nghiệp khai khoáng bô-xít và chế tạo nhôm kim loại, nhưng ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết thấy báo cáo Chính phủ gửi QH (http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849417/) vẫn chưa giải đáp được 3 vấn đề mà dư luận nhân dân quan tâm.

Đó là hiệu quả kinh tế tác động đến môi trường tự nhiên và xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Theo ông Thuyết, khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là một "đại dự án liên quan đến rất nhiều vùng và rất nhiều ngành với số tiền rất lớn".


http://www.bauxitevietnam.info/tintuc/vnnlachluat1.jpg (http://www.bauxitevietnam.info/tintuc/vnnlachluat1.jpg)
ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Lân Dũng đề nghị Quốc hội vào cuộc giám sát dự án bô-xít. Ảnh: VA


Theo Quyết định 167 của Chính phủ, dự án này từ nay đến năm 2025 sẽ cần huy động 190.000 -250.000 tỷ đồng vốn đầu tư. Riêng Đăk Nông có đến 4 nhà máy alumin, đánh số từ 1 đến 4, trải dài ở 4 tỉnh là Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai, Bình Phước. Chưa kể, còn có rất nhiều công trình phụ trợ.

Ông Thuyết dẫn chứng, chỉ tính riêng việc xây dựng một đường xe lửa dài 270km, với độ chênh của các điểm đến 700m, trên địa hình hết sức phức tạp, quanh co thì phải tiêu tốn 3,1 tỷ USD.

"Ô tô thì có thể đi được nhưng xe lửa thì chưa biết đi như thế nào, mà nếu được mời đi đường xe lửa chênh vênh như thế, tôi không biết là mình có đủ dũng cảm để đi không. Tiền rất tốn. Ngoài ra, còn phải làm cảng ở Hòn Kê Gà hoặc Hòn Gió, tất cả những tiền này tính vào đâu?", ông Thuyết nêu một loạt câu hỏi.

Vị Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên Nhi đồng QH tự trả lời: "Nếu những tiền này được tính vào sản phẩm alumin thì giá rất cao và như thế, sẽ hoàn toàn không có lãi. Nếu không tính vào mà coi là công trình dân dụng thì có thể nói là vô hình trung, chúng ta lấy tiền thuế của dân để làm lợi cho doanh nghiệp".

Ông Thuyết cũng đưa ra những tính toán đã được các nhà khoa học chỉ ra. Đó là giá alumin chỉ bằng 12% giá nhôm thành phẩm. Alumin là khoáng sản thô, đã được Đại hội 10 BCH Trung ương Đảng xác định phải hạn chế xuất khẩu. "Giá alumin trên thị trường đang xuống thấp, nền kinh tế đang gặp khó khăn, lãi lời chưa thấy đâu, vậy mà oái oăm là Việt Nam lại đi vay vài trăm triệu đôla để làm những nhà máy như ở Tân Rai, Nhân Cơ".

Trong khi đó, ngay Chủ tịch Hội đồng quản trị của TKV cũng nói là 50 ăn, 50 thua. "Nếu bây giờ mình bỏ tiền túi của mình ra thì có bao giờ mình đi kinh doanh theo kiểu chưa nhìn thấy lãi mà đã kinh doanh không?", ông Thuyết lưu ý.

Không quyết định vội

Với thời gian ngắn ngủi còn lại, ông Thuyết cũng bày tỏ quan ngại về các vấn đề môi trường, an ninh, lao động.

Như trong báo cáo của Chính phủ đã nói sẽ xây các hồ chứa nước trên Tây Nguyên vì đằng nào nước cũng chảy xuống Đồng Nai rồi ra biển, ông Thuyết lo ngại, hiện nay đồng bằng Nam Bộ đang khát nước. Tin mới nhất là lượng nước của sông Mê Kông đang giảm xuống, nếu bây giờ xây các hồ, đập, liệu có ảnh hưởng đến đồng bằng Nam Bộ không?

Về bùn đỏ, với lượng alumin sản xuất ra, thì từ năm 2015, mỗi năm thải ra 10 triệu tấn bùn đỏ và hết đời của dự án này là thải ra 1,5 tỷ tấn. "Đấy là những quả bom bùn treo trên cao, trên đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ", ông Thuyết cảnh báo.

Ông Thuyết cũng chỉ ra, vừa qua trong 300 công nhân được đưa đi đào tạo, chỉ có 2 là người của địa phương.

"Nhưng sáng nay tôi rất phấn khởi nghe một ĐBQH của một tỉnh Tây Nguyên nói là dự án sẽ nộp 500 tỷ vào cho địa phương và 1.000 công nhân sẽ được đi đào tạo. Đề nghị Quốc hội ghi nhận lại tất cả những con số đó, vài năm nữa chúng ta kiểm tra lại xem có đúng như thế không", ông Thuyết nhấn mạnh.

Về an ninh, quốc phòng, ông Thuyết cho rằng, rất may có điều chỉnh kịp thời của Bộ Chính trị (http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/) cho nên sự việc mới khác. Nhưng nếu đọc lại Quyết định 167 thì mới thấy vẫn chưa lường trước được tình hình khó khăn này, cho nên trong Quyết định 167 cho phép đầu tư vốn nước ngoài đến 100%. "Chỗ này chúng tôi cho rằng Chính phủ có phần chủ quan", ông Thuyết cảnh báo.

Xin thêm thời gian để nói cho hết ý, ông Nguyễn Minh Thuyết kiến nghị Quốc hội phải xem đây là "công trình quan trọng quốc gia", vì toàn bộ quy hoạch đã tiêu một số tiền gấp 10 lần tiêu chí tiền cho một công trình quan trọng quốc gia.

"Quốc hội phải thẩm tra và cuối năm nay chúng ta sẽ xem xét quyết định, không nên quyết định vội. Bởi vì nếu chúng ta không tính cả cụm dự án, mà chúng ta làm như Khí điện đạm Cà Mau, chúng ta cứ tách từng dự án ra để nói rằng nó chưa đến số tiền Quốc hội yêu cầu đưa vào công trình trọng điểm quốc gia, tôi cho như thế là lách luật", ông Thuyết khẳng định.

ĐB Nguyễn Lân Dũng cũng đề nghị Quốc hội vào cuộc giám sát.

"Nâng cao dân trí"

Phát biểu ngay đầu giờ buổi sáng, hai đại biểu đại diện cho Lâm Đồng và Đăk Nông cũng đã đọc trước Quốc hội bài tham luận kỳ vọng hiệu quả kinh tế của hai dự án, sẽ "làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội Tây Nguyên" và mong cả nước ủng hộ.


http://www.bauxitevietnam.info/tintuc/vnnlachluat2.jpg (http://www.bauxitevietnam.info/tintuc/vnnlachluat2.jpg)
Trưởng đoàn ĐBQH Đăk Nông Điểu K’ré: Công nghiệp bô-xít sẽ góp phần đáng kể tăng trưởng GDP, thêm nguồn thu cho ngân sách tỉnh. Ảnh: TTXVN


Theo Trưởng đoàn ĐBQH Đăk Nông Điểu K’ré, công nghiệp bô-xít trên địa bàn sẽ góp phần đáng kể tăng trưởng GDP, thêm nguồn thu cho ngân sách tỉnh, tạo đà phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch kinh tế.

Tính riêng dự án tổ hợp bô-xít alumin Nhân Cơ giai đoạn 1 với công suất là 650.000 tấn alumin/năm, dự kiến các loại thuế phải nộp bình quân mỗi năm khoảng 547 tỷ đồng, tạo việc làm, nâng cao trình độ sản xuất và tăng thu nhập cho người dân.

Sự hình thành cùng kinh tế khu vực sẽ kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế dịch vụ như giao thông vận tải, thương mại, khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí, dịch vụ ăn uống v.v... Đây là tiền đề tạo nên sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế khu vực, từ thuần nông lâm nghiệp chuyển sang kinh tế đa ngành.

Chưa kể hoạt động khai thác bô-xít sẽ tạo ra những cộng đồng dân cư mới, những đô thị mới đưa ánh sáng văn hóa vào vùng sâu, vùng xa, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao dân trí cho một số bộ phận không nhỏ dân cư.

Trưởng đoàn ĐBQH Lâm Đồng Lê Thanh Phong cũng cho hay, việc khởi công dự án nhà máy bô-xít Tân Rai đã tạo luồng sinh khí mới phấn chấn trong cán bộ và nhân dân tỉnh. Lâm Đồng xác định đó là một trong những công trình trọng điểm của tỉnh.

Đến nay, UBND tỉnh đã quyết định thu hồi 943 ha đất của 743 hộ, tiến hành đền bù cho 586 hộ, trong đó có 100 hộ đồng bào dân tộc thiểu số với số tiền 150 tỷ đồng.

Quan điểm của tỉnh là "không vì vấn đề môi trường mà không khai thác tiềm năng tài nguyên của địa phương để phát triển kinh tế. Nhưng cũng không vì mục tiêu phát triển kinh tế, khai thác tiềm năng mà không đặc biệt quan tâm đến môi trường", ông Phong quả quyết.
Lê Nhung

Nguồn: VietNamNet

thienchister
30/05/09, 05:42 PM
Mình cũng xin giới thiệu đoạn ghi âm phỏng vấn nhà văn Nguyên Ngọc của báo BCC ( USA ) về vấn đế khai thác bauxite ở Tây Nguyên.Xin mời các bạn :
Lick vào để nghe nhận xét của nhà văn Nguyên Ngọc (http://www.bbc.co.uk/vietnamese/av/2009/04/090410_nguyen_ngoc_audio.shtml)

nbc
30/05/09, 08:39 PM
Mình cũng xin giới thiệu đoạn ghi âm phỏng vấn nhà văn Nguyên Ngọc của báo BCC ( USA ) về vấn đế khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Hoan nghênh bạn thienchister đã hưởng đề tài này. Tuy nhiên, nbc cũng xin có vài điểm lưu mọi người khi tham gia trao đổi về chủ đề này:

1. Đây là một vấn đề hiện đang rất "nóng" trên chính trường nước ta hiện nay; tuy nhiên vấn đề này cũng được nhiều "cơ quan" cho là "nhạy cảm". Nếu bạn sử dụng các nguồn được các "cơ quan" này cho là "không chính thống" thì có thể sẽ bị quy kết, chụp mũ là "...dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng..." (1) thì rất phiền hà đấy bạn ạ. Mà BBC (chứ không phải BCC) - một đài của UK chứ không phải của USA như bạn đã dẫn - là đài mà trước đây đã được coi là "đài địch" đấy.

Vậy, để cho "chắc ăn", không bị ảnh hưởng đến công việc (làm ăn, học tập...) của chúng ta, và giữ an toàn cho trang nhà, ta chỉ nên dùng những nguồn được coi là "chính thống", "hợp lệ" ở ta hiện nay.

2. Ở "tầm" của CauduongBKDN, nếu chúng ta có những bài viết mang tính chất thảo luận (nếu có), chỉ nên nằm trong khuôn khổ những phân tích, đánh giá về mặt kinh tế, môi trường, văn hóa... của các dự án bauxite đang (và sẽ được triển khai???); Không nên dùng những lời lẽ quá mạnh, hoặc mang tính chỉ trích... dễ bị cho là "xuyên tạc - kích động"

Cám ơn mọi người đã quan tâm đọc bài.

(1) dẫn Thông cáo báo chí (http://www.bauxitevietnam.info/ykien/090501_chamdiemchothongcao.htm) của Bộ Công thương do ông Thứ trưởng Lê Dương Quang công bố ngày 18/04/2009, phản bác Bản Kiến nghị (http://www.bauxitevietnam.info/thongbao/090412_Thukiennghi.htm) đối với chủ trương khai thác bauxite Tây nguyên của các công dân Việt Nam (đợt 1 có 135 người ký tên, đến nay đã có trên 1800 chữ ký được chính thức công bố). Bản thông cáo này đã gây ra một làn sóng phẫn nỗ khá lớn, có nhiều bài viết phân tích những sai trái của bản Thông cáo này của các nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ... đăng trên nhiều diễn đàn.

nbc
31/05/09, 05:06 AM
Đại kế hoạch bô - xít ở Tây Nguyên bị phản đối quyết liệt


24/10/2008 07:55 (GMT + 7)

Mặc dù quy hoạch khổng lồ về khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên đã bắt đầu được triển khai, các nhà khoa học đang phản biện quyết liệt. Một trong những phản biện đó lại chính từ bên trong đơn vị thực hiện.

Trong hai ngày 22 và 23/10 vừa qua, tại tỉnh Đắk Nông đã diễn ra một hội thảo khoa học về quy hoạch ngành khai thác quặng nhôm (bô - xít) ở Tây Nguyên. Mặc dù quy hoạch đã bắt đầu được triển khai, các nhà khoa học đang phản biện quyết liệt.

Một trong những phản biện đó lại chính từ bên trong đơn vị thực hiện, chuyên gia Nguyễn Thành Sơn của Tập đoàn Than và Khoáng sản (TKV). Tuần Việt Nam xin giới thiệu những điểm chính trong phản biện của ông
.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh1.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh1.jpg)

Màu xanh Tây Nguyên (ảnh: agroviet)

Trong những năm 80 của thế kỷ trước, Chính phủ VN đã từng đề xuất đưa dự án khai thác bô - xít ở Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên của khối hợp tác COMECON. Các nước thành viên của COMECON, đặc biệt là Liên Xô, khi đó rất cần bô - xít cho nhu cầu công nghiệp quốc phòng. Tuy nhiên, Hội đồng COMECON đã quyết định không triển khai dự án, thay vào đó, đã tích cực giúp VN triển khai các dự án cao su, cà phê và chè.

Các chuyên gia khi đó đã nhận định: nếu triển khai các dự án bô - xít, về môi trường sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nước của vùng Tây Nguyên, không đủ nước để phát triển được cây công nghiệp cao su, chè và cà phê.
Về sinh thái, sẽ ảnh hưởng xấu đến khí hậu của toàn vùng miền Nam Trung Bộ và Campuchia, hạn hán sẽ kéo dài, lũ lụt sẽ thường xuyên xẩy ra hơn.
Về kỹ thuật, không thể lưu giữ một khối lượng khổng lồ bùn đỏ (red mud) ở trên cao nguyên, chỉ có thể tuyển bô - xít ở vùng đồng bằng ven biển để chôn cất bùn đỏ gần bờ biển.
Về kinh tế, các dự án bô - xít không có hiệu quả và không thể giúp VN phát triển bằng các dự án cao su, cà phê, và chè.
Tính đúng đắn và hiệu quả của những quyết định của COMECON đến nay càng thể hiện rõ.
Một quy hoạch phát triển bô - xít “chẳng giống ai” hiện nay

Sau hơn 20 năm “án binh bất động”, năm 2007 Việt Nam đã thông qua một quy hoạch phát triển ngành bô - xít-nhôm rất hoành tráng. Đây là quy hoạch một ngành kinh tế hoàn toàn mới, lần đầu tiên được phê duyệt của VN.

Lẽ ra, chúng ta nên thuê trực tiếp một tổ chức tư vấn nước ngoài có tên tuổi thực hiện (tương tự như qui hoạch ngành khí của tập đoàn Dầu khí VN đang lập, hay quy hoạch đầu tiên của các ngành than, điện… trước đây do Liên Xô giúp). Quy hoạch bô - xít-nhôm do tư vấn của VN chưa có kinh nghiệm soạn thảo. Việc soạn thảo chưa dựa vào và không có các thông tin tham khảo cần thiết nên “chẳng giống ai”. Vì vậy, bản quy hoạch này, mặc dù đã được Chính phủ thông qua (QĐ 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007), nhưng còn có quá nhiều vấn đề cần được trao đổi, làm rõ để xác định tính khả thi trên thực tế.

Nhìn chung, quy hoạch bô - xít-nhôm của VN có quá nhiều tham vọng không có cơ sở, quá nhiều dự án không cần thiết, quá nhiều rủi ro không quản lý được, và quá nhiều bất cập chưa được tính đến.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh2.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh2.jpg)

Một cảnh khai thác bô - xít trên thế giới (ảnh: picasaweb)

Mục tiêu của quy hoạch: quá nhiều tham vọng không có cơ sở

Đối với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhôm không phải là nguyên liệu chiến lược. Nhu cầu về nhôm của VN không lớn. Cũng như của thế giới, 30% nhu cầu nhôm được đáp ứng do tái chế nhôm phế liệu. 30% nhu cầu nhôm có thể được thay thế bằng sử dụng các nguyên liệu rẻ tiền khác (sắt, thép, gỗ, nhựa, giấy…) Vì vậy, thị trường nhôm trên thế giới cũng như ở VN chưa khi nào có khủng hoảng hoặc khan hiếm.

Việt Nam là nước còn nghèo (về vốn và khoáng sản) và đói (về năng lượng), nhưng đã có quy hoạch phát triển một ngành bô - xít-nhôm đầy tham vọng. Tham vọng lớn là tốt, nhưng cần phải có cơ sở.
Nguồn lực phát triển các dự án alumina-nhôm của Tập đoàn Than – Khoáng sản (TKV) hiện nay chỉ là quyết tâm chính trị và ý chí trên giấy. Nhân lực và tri thức công nghệ gần như bằng 0. Các cán bộ quản lý chỉ đạo từ cấp Tập đoàn đến các cán bộ kỹ thuật trực tiếp làm việc với các “đại gia” nước ngoài và đưa ra các quyết định về alumina chỉ có chuyên môn về khai thác than lộ thiên ở Quảng Ninh. Khai thác bô - xít chỉ là khâu đơn giản nhất trong tất cả các khâu làm alumina, còn dễ hơn so với khai thác than ở Quảng Ninh.

Nguồn lực bằng 0, nhưng tổng số dự án lên tới 15 (trong khi cả thế giới chỉ có khoảng 55), tổng công suất thiết kế các dự án của VN lên tới 18 triệu tấn/năm (cả thế giới chỉ có 74 triệu tấn/năm), qui mô bình quân của các dự án của VN cũng ngang ngửa với thế giới (1,3 triệu tấn/năm, sản lượng của VN là 15 triệu tấn/năm, trong khi cả thế giới có 70 triệu tấn/năm.

Quy hoạch có quá nhiều dự án không cần thiết

Phần lớn các dự án chỉ tập chung vào khâu khai thác bô - xít để chế biến thành alumina. Alumina chưa phải là nhôm kim loại (aluminium). Xuất khẩu alumina là xuất khẩu quặng bô - xít đã được tinh chế, chỉ phục vụ cho các nhà máy luyện nhôm đang khan hiếm alumina của nước ngoài.
Ở Lâm Đồng, dự kiến khai thác tới 3,96 triệu tấn bô - xít, chế biến khoảng 1,2 triệu tấn alumina. Dự án khai thác bô - xít Nhân Cơ có công suất tới 1,8 triệu tấn/năm, dự kiến chế biến thành 0,6 triệu tấn alumina. Khu vực Măng Đen-Kon Hà có dự án khai thác bô - xít lên tới 9 triệu tấn/năm, dự án chế biến alumina lên tới 1,5 triệu tấn/năm.

Có thể nói, nếu triển khai theo qui hoạch này, toàn bộ vùng Tây Nguyên của VN sẽ biến thành “sân sau”, là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy luyện nhôm của các đại gia ở nước ngoài. Kể cả tới cuối thế kỷ này, mặc dù Tây Nguyên sẽ phải trả giá về sinh thái, môi trường, nhưng, ngành công nghiệp nhôm của VN vẫn là con số 0. Khâu điện phân nhôm có công suất được quy hoạch rất khiêm tốn, chỉ 0,2-0,4 triệu tấn/năm, nhưng còn rất xa vời, ngay trên giấy (trong quy hoạch) cũng rất khó tìm ra.

Vấn đề đường sắt và cảng biển, chỉ là “đâm lao, phải theo lao”, thực sự không cần thiết. Những sai lầm chiến lược đã dẫn đến nhiều sai lầm chiến thuật. Sai lầm chiến lược của chúng ta là chỉ tận dụng khai thác nguồn bô - xít trên Tây Nguyên để xuất khẩu quặng dưới dạng alumina. Việc xuất khẩu quặng alumina dẫn đến phải xây dựng đường sắt và cảng biển với qui mô lớn, có năng lực thông qua (cả đường sắt và cảng biển) tới 30 triệu tấn/năm.

Với cung độ ngắn (khoảng 200-300km), nhưng chênh lệch độ cao lớn (hàng trăm mét) giữa Tây Nguyên với Bình Thuận, trước đây, các chuyên gia của COMECON chỉ dám nghĩ tới đường sắt trong phương án không để lại bùn đỏ trên Tây Nguyên, đưa bô - xít xuống gần biển để tuyển thành alumina và lưu giữ bùn đỏ một cách an toàn bên cạnh bờ biển. Nhưng phương án này cũng quá tốn kém và rất không hiệu quả.

Nếu xét về mặt quốc phòng, tuyến đường sắt “chẳng giống ai” Tây Nguyên - Bình Thuận này cũng chẳng có ý nghĩa gì, và cũng không có lợi thế cơ động hay an toàn như đường bộ. Còn nếu để vận chuyển alumina ra biển xuất khẩu, hiện nay có phương thức “băng tải ống” rẻ tiền hơn, và thân thiện với môi trường hơn nhiều.


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh3.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/24_anh3.jpg)

Vận chuyển quặng bô - xít (ảnh: picasaweb)

Quy hoạch có quá nhiều rủi ro không quản lý được

Bình thường, nếu dự án có một rủi ro nào đó không quản lý được, chúng ta đã phải xem xét lại. Việc phát triển bô - xít trên Tây Nguyên có quá nhiều rủi ro không quản lý được.

Trước hết là rủi ro về thị trường. Nguyên liệu alumina của chúng ta chủ yếu để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Thị trường trong nước nhu cầu về nhôm không lớn, cũng không đủ điện để luyện alumina thành nhôm. Thị trường nước ngoài, mặc dù nhu cầu nguyên liệu alumina để luyện nhôm rất lớn, nhưng vì chi phí vận tải cao, Việt Nam chỉ có thể bán rẻ nguyên liệu alumina cho các nhà máy luyện nhôm trong khu vực.

Thứ hai là rủi ro về tài chính. Nhu cầu vốn để phát triển rất nóng ngành bô - xít như của VN sẽ rất lớn. Phương thức huy động vốn chủ yếu là đi vay nước ngoài. Trong khi đó, chỉ tiêu hoàn vốn nội tại (IRR) của dự án Nhân Cơ chỉ có 14,98% (được tính từ trước thời kỳ khủng hoảng tài chính và trước khi giá năng lượng tăng). Khâu luyện nhôm có giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế nhất thì không nằm ở Tây Nguyên. Toàn bộ lãi suất vay và chi phí môi trường đắt đỏ đều nhằm vào quặng alumina xuất khẩu.

Thứ ba là rủi ro về tài nguyên. Chỉ duy nhất có mỏ “1 tháng 5”, và mỏ Gia Nghĩa có trữ lượng được phê duyệt. Hầu như toàn bộ tài nguyên bô - xít còn lại chưa được đánh giá đúng mức cần thiết, số liệu không thống nhất, điều tra địa chất chưa đạt yêu cầu.

Thứ tư, rủi ro về kỹ thuật. Công nghệ tuyển bô - xít thành alumina của VN dựa trên qui trình Bayer, bản chất của qui trình này là chuyển hoá ô xít nhôm ngậm nước trong quặng bô - xít bằng dung dịch kiềm nồng độ cao và ở nhiệt độ cao để thành aluminat natri. Thành phần khoáng vật của quặng nhôm trong trong quặng bô - xít có nhiều dạng khác nhau và có phản ứng rất khác nhau với dung dịch NaOH. Ngoài thành phần khoáng vật, các chất khác lẫn trong quặng bô - xít cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình kiềm hoá. Quặng bô - xít của VN, trong các báo cáo địa chất chưa được nghiên cứu kỹ về mặt khoáng vật, chưa có thử nghiệm công nghiệp các phản ứng cơ bản.

Thứ năm, rủi ro về công nghệ. Qui trình Bayer phổ biến khắp thế giới. Nhưng thiết bị kỹ thuật để thực hiện qui trình này (cũng giống như nhà máy điện nguyên tử) đối với VN cũng là con số 0. Chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài. Nhà máy alumina là nhà máy hóa chất, sử dụng NaOH nồng độ cao, ở nhiệt độ lớn.

Thứ sáu, rủi ro về môi trường sinh thái. Đối với các dự án đang triển khai, chúng ta mới chỉ có đánh giá tác động về môi trường cục bộ của dự án, chưa có nghiên cứu về vấn đề sinh thái toàn vùng. Ngoài ra, cơ quan thực hiện và thẩm tra các báo cáo đánh giá tác động môi trường của VN cũng có nhiều rủi ro do trình độ chuyên môn rất hạn chế, không có kinh nghiệm.

Quy hoạch có quá nhiều bất cập không được tính đến

Bất cập thứ nhất: sự không cân đối giữa các khâu đầu nguồn và cuối nguồn: các dự án tuyển luyện để bán quặng có công suất lên tới hơn 18 triệu tấn/năm. Nhưng các dự án chế tạo (điện phân) nhôm kim loại có công suất chỉ 0,2-0,4 triệu tấn/năm.

Bất cập thứ hai: Các dự án đều triển khai ở vùng rất nhậy cảm về môi trường và xã hội nhưng không có thử nghiệm trước.

Bất cập thứ ba: Các dự án tuyển luyện bô - xít cần rất nhiều nước, được triển khai ở vùng hiếm nước (Tây Nguyên còn đang thiếu nước cho các cây công nghiệp cau su, chè, cà phê, điều…)
Bất cập thứ tư: Mất cân đối về cung cấp điện trên địa bàn có hệ thống nguồn và lưới điện hiện còn đang kém phát triển. Các dự án luyện cán nhôm cần rất nhiều điện. Việt Nam còn đang thiếu điện, và sẽ không có nguồn thuỷ điện rẻ tiền để đảm bảo cho các dự án nhôm.
Bất cập thứ năm: Các dự án hạ tầng (đường sắt, cảng biển, điện) triển khai sau các dự án khai thác bô - xít và sản xuất alumina.

Nguyễn Thành Sơn

Nguồn: TuanVietNamNet (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5134/index.aspx)

Bài viết trên là loại bài viết của TS Nguyễn Thành Sơn - một chuyên gia về khai thác khoáng sản, hiện đang công tác tại Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam (TKV) đã được đăng trên TuanVietNamNet từ khá lâu.

Cho đến hiện nay, TS Nguyễn Thành Sơn vẫn tiếp tục có nhiều bài viết, bài phân tích có giá trị công bố trên nhiều phương tiện thông tin trong và ngoài nước về vấn đề khai thác bauxite của TKV mà ông đang là một thành viên - song với cương vị là hội viên Hội KHKT Việt Nam phản biện dự án này.

nbc
31/05/09, 12:04 PM
Nguy cơ hiện hữu trong các dự án bô - xít trên Tây Nguyên
25/10/2008 08:40 (GMT + 7)

Phản biện về quy hoạch các dự án bô - xít - alumina tại Tây Nguyên, trong bài trước (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5134/index.aspx), TS. Nguyễn Thành Sơn nêu ra các rủi ro của ngành bauxite. Tuần Việt Nam xin giới thiệu tiếp phần phân tích cụ thể về các nguy cơ chính của việc triển khai dự án.

>> Bài 1: Đại kế hoạch bô - xít ở Tây Nguyên bị phản đối quyết liệt (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//5134/index.aspx)


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_hoa-ca-fe-thinkquest.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_hoa-ca-fe-thinkquest.jpg)

Cà phê đã trở thành một phần không thể thiếu của thảm thực vật Tây Nguyên
(ảnh: thinkquest)

Thứ nhất, đó là nguy cơ chiếm dụng diện tích đất lớn, nhưng mang lại hiệu quả thấp, tạo ít việc làm trên một địa bàn kinh tế kém phát triển và nhạy cảm về xã hội.

Thứ hai, dự án phải lưu giữ một khối lượng lớn bùn đỏ (bom bẩn) trên cao nguyên, gây ra nguy không chỉ về môi trường mà còn về an ninh.

Thứ ba, dự án làm tổn thất hết sức nghiêm trọng nguồn nước hiện đang còn thiếu để phát triển các cây công nghiệp quý hiếm và rất có hiệu quả (cà phê, cao su, chè, điều…)

Thứ tư, điều chắc chắn là môi trường và sinh thái sẽ bị thay đổi, trong khi hậu quả của sự thay đổi này chưa thể lường được.

Nguy cơ chiếm dụng đất là không thể tránh khỏi

Phần lớn, tới 95% bô - xít trên thế giới khai thác lộ thiên. Trong ngành mỏ, đây là phương thức khai thác đòi hỏi chiếm dụng nhiều đất, có tác hại huỷ diệt hệ thực vật và động vật (flora & fauna), làm xói mòn trôi lấp đất (soil erosion). Mức độ chiếm dụng đất của các dự án bô - xít trên Tây Nguyên rất lớn. Diện tích rừng & thảm thực vật bị phá huỷ trong khâu khai thác bình quân 30 - 50ha/triệu tấn bô - xít, diện tích mặt bằng bị chiếm dụng để tuyển bô - xít bình quân 150 ha/triệu tấn, và diện tích mặt bằng bị chiếm dụng để tuyển alumina 450 ha/triệu tấn.

Việc chiếm dụng đất lớn, nhưng lại mâu thuẫn với việc tạo ra chỗ làm việc cho cư dân. Ví dụ, dự án Tân Rai có diện tích chiếm đất tới 4.200ha, nhưng chỉ tạo ra chỗ làm việc cho tổng số 1.668 lao động. Như vậy, bình quân dự án bô - xít cần 2,5ha để tạo ra một việc làm.

Phần lớn các dự án trên thế giới (VN không là ngoại lệ) đều lẩn tránh việc xác định danh mục các ngành nghề của nhà máy alumina có thể phù hợp để sử dụng lao động tại chỗ. Các cơ sở sản xuất alumina về bản chất là các nhà máy hóa chất, đòi hỏi công nhân phải được đào tạo ở trình độ cao, với số lượng không cần nhiều, khả năng tạo ra chỗ làm việc là không đáng kể. Khâu khai thác bô - xít thì cần có mức độ cơ giới hóa cao, càng không thể tạo ra việc làm cho dân cư tại chỗ.

Các chủ đầu tư thường vận hành các dự án bô - xít hay alumina bằng lực lượng công nhân được thuê từ nơi khác đến, vì rẻ hơn nhiều so với đào tạo cư dân tại chỗ. Điều duy nhất, như các chuyên gia thường đánh giá, các dự án bô - xít và alumina có thể tạo ra cho cư dân tại chỗ là chất thải và bùn đỏ.

Bùn đỏ: là nguy cơ hiện hữu lớn nhất


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_Red-Mud-lake.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_Red-Mud-lake.jpg)

Một hồ chứa bùn đỏ ở Ấn Độ từ khai thác bô - xít (ảnh: redmud.org)

Bùn đỏ (red mud) gồm các thành phần không thể hoà tan, trơ, không biến chất và tồn tại mãi mãi như Hematit (Fe2O3), Natri silico aluminate, Canxi titanat, Monohydrate nhôm (Al2O3.H2O), Trihydrate nhôm (Al2O3.3H2O)…

Bùn đỏ là chất thải không thể tránh được của khâu chế biến bô - xít. Trên thế giới, chưa có nước công nghiệp phát triển nào (kể cả Mỹ) có thể xử lý được vấn đề bùn đỏ một cách hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của xã hội (chỉ đáp ứng được khả năng của nhà đầu tư). Australia là nước có lợi thế về địa hình (bằng phằng, có lớp đá gốc), khí hậu (rất ít mưa) và dân cư (rất thưa) thuận lợi cho việc chế biến bô - xít tại chỗ và chôn cất bùn đỏ.

Ở Việt Nam, nếu chế biến bô - xít thành alumina trên Tây Nguyên sẽ bắt buộc phải tạo ra các hồ chứa bùn đỏ thường xuyên đe dọa tình hình an ninh trên địa bàn (các hồ “red mud” có thể bị biến thành bom bẩn “mud bomb”). Lượng bom bẩn tạo ra trên Tây Nguyên sẽ lớn gấp 3 lần lượng alumina thu được từ Tây Nguyên để xuất khẩu. Ngoài ra, còn phải thường xuyên tồn chứa một lượng lớn hoá chất độc hại (để chế biến bô - xít) trong các kho trên Tây Nguyên.

Chỉ riêng dự án của công ty cổ phần Nhân Cơ, theo báo cáo đánh giá tác động môi trường, phần đuôi quặng nước thải và bùn thải có khối lượng tới hơn 11 triệu m3/năm. Dung tích hồ thải bùn đỏ 15 năm: 8.754.780m3. Tổng lượng bùn thải vào hồ: 1733 tấn/ngày. Lượng nước thải phải bơm đi từ hồ: 5.959.212m3/năm. Với qui mô như vậy, thiệt hại do vỡ đập không thể kiểm soát được, nguy cơ vỡ đập không thể lường trước được.

Tương tự, dự án Tân Rai có lượng bùn đỏ thải ra môi trường: 826.944m3/năm, lượng bùn oxalat thải ra môi trường 28.800m3/năm, lượng nước thải ra môi trường (sau tuần hoàn) 4,625 triệu m3/năm. Khối lượng quặng bô - xít khai thác của dự án này lên tới 2,32 triệu m3/năm, dẫn đến nguy cơ tổng lượng bùn đỏ phải tích trên cao nguyên cả đời dự án Tân Rai 80-90 triệu m3. Nhưng tổng dung tích của hồ chứa của dự án chỉ có 20,25 triệu m3, số còn lại không biết chứa ở đâu?
Ai sẽ là người chịu trách nhiệm về số bùn này: chủ đầu tư hay người dân địa phương?

Nguy cơ làm mất nguồn nước không có gì thay thế

Cả hai khâu tuyển bô - xít và tuyển alumina trên Tây Nguyên đều đòi hỏi rất nhiều nước. Dự án Nhân Cơ có tổng mức tiêu dùng nước 14,832 triệu m3/năm, trong đó để tuyển quặng cần 12 triệu m3/năm, để sản xuất alumina cần 2,4 triệu m3/năm, trong khi cấp cho sinh hoạt chỉ là 0,432 triệu m3/năm.
Dự án Tân Rai có dự kiến xây đập chắn nước để đáp ứng nhu cầu của dự án khoảng 18 triệu m3/năm. Nước thải ra sau tuần hoàn là 4,625 triệu m3/năm. Như vậy, nguồn nước cho cà phê, cao su và các nhu cầu khác bị mất đi 13,375 triệu m3/năm.

Nguy cơ thay đổi môi trường và sinh thái là đương nhiên

Vấn đề môi trường chủ yếu liên quan đến các chất thải. Các chất thải không thể tránh được trong các dự án bô - xít gồm: (i) trong khai thác bô - xít, khối lượng chất thải rắn rất lớn, bình quân lượng đất đá phủ phải bốc lên và đổ thải 1m3/tấn bô - xít; (ii) trong khâu tuyển quặng bô - xít, lượng chất thải bình quân 1tấn/tấn quặng nguyên khai; (iii) trong khâu tuyển alumina lượng chất thải (gồm bùn đỏ, bùn oxalate, và nước thải) bình quân trên 2m3/tấn; và cuối cùng, (iv) trong khâu luyện nhôm, lượng chất thải độc hại (gồm chất thải cathode, phát thải fluoride) bình quân 1kg/tấn.

Chúng ta hoàn toàn có thể xác định được cái giá phải trả (định lượng) về ô nhiễm môi trường của các dự án bô - xít trên Tây Nguyên trong tất cả các khâu.

Về vấn đề sinh thái, ngoài các nguy cơ phá hủy môi trường tại chỗ, các dự án bô - xít alumina còn có những ảnh hưởng tiêu cực không thể tránh được đến hệ sinh thái trên qui mô rộng lớn.

Trong khâu khai thác bô - xít, nguy cơ hiện hữu là thảm thực vật và động vật của Tây nguyên (Flora & Fauna) sẽ bị thay đổi. Trong khâu tuyển alumina nguy cơ hiện hữu là tiêu dùng nhiều nước, phải xây đập chắn, sẽ ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của các dòng chảy. Các biến đổi dị thường về thời tiết và khí hậu khu vực miền trung có nguy cơ sẽ xẩy ra gay gắt hơn (thiệt hại do các biến đổi dị thường về thời tiết hiện nay đã tới 4000 - 5000 tỷ đồng/năm).

TS Nguyễn Thành Sơn

Nguồn: TuanVietNamNet (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5145/index.aspx)

nbc
31/05/09, 07:44 PM
Đại dự án bô - xít Tây Nguyên: người trong cuộc đề xuất gì?

26/10/2008 14:39 (GMT + 7)

Hiện vẫn chưa có một đánh giá tác động môi trường chiến lược của đại dự án bô - xít ở Tây Nguyên, mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã có yêu cầu cụ thể. Còn câu hỏi tỉnh Đăk Nông đặt ra là: liệu dự án bô - xít có phải là cửa thoát nghèo cho tỉnh, hay còn có thể làm gì khác? Cùng với việc phản biện qui hoạch bô - xít Tây Nguyên, TS. Nguyễn Thành Sơn đã đề cập đến việc phải có chiến lược phát triển bền vững cho Tây Nguyên.

>> Bài 1: Đại kế hoạch bô - xít ở Tây Nguyên bị phản đối quyết liệt (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam//5134/index.aspx)
>> Bài 2: Nguy cơ hiện hữu trong các dự án bô - xít trên Tây Nguyên (http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5145/index.aspx)



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh3.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh3.jpg)

Môi trường sinh thái Tây Nguyên (ảnh: dvpub-chanelvn)

Phát triển bền vững Tây Nguyên như thế nào?

Từ những năm 80, khi bàn về phát triển thủy điện, trên tạp chí “Năng lượng” chúng tôi đã đề xuất thành lập một Ủy ban quốc gia về phát triển kinh tế Tây Nguyên. Cũng giống như thủy điện, việc phát triển bô - xít rất cần có một ủy ban của Chính phủ chuyên về Tây Nguyên để xử lý những vấn đề vĩ mô: môi trường, sinh thái, dân cư, cộng đồng, an ninh xã hội… Chúng ta không thể trông cậy vào các đối tác nước ngoài như Vedan hay Miwon.

Với số vốn có hạn, chúng ta nên ưu tiên đầu tư cho phát triển cây công nghiệp có giá trị lớn trong kim ngạch xuất khẩu, có hiệu quả kinh tế - xã hội – môi trường cao hơn nhiều so với quặng alumina.

Thủ tướng đã có các quyết định số 168/2001/QÐ-TTg và 304/2005/QÐ-TTg về phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên, về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên. Đây là những quyết định cần thiết và sáng suốt, nhằm tôn tạo và phát triển các môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế, xã hội và nhân văn của Tây Nguyên.

Với 127 tỷ đồng tiền phạt Vedan làm ô nhiễm môi trường (mà chưa chắc đã thu được), chúng ta có thể cải tạo được sông Thị Vải để nàng Kiều dám trẫm mình trong làn nước “xanh như ngọc” của cụ Nguyễn Du.

Nhưng với 127 tỷ đô la Mỹ (không phải tỷ đồng), chúng ta không thể đưa hàng trăm triệu tấn bùn đỏ trên cao nguyên đi chôn cất an toàn vĩnh viễn ở vùng có đá gốc, bằng phẳng, ít mưa như của thế giới, để Tây Nguyên của anh hùng Núp sẽ có hàng triệu khách du lịch đến cưỡi voi bản Đôn, và để các đối tác nước ngoài đến mua cao su, cà phê, chè, hoa, rau, quả của Tây Nguyên được ngủ trong các khách sạn “5 sao 4 không” của Đà Lạt (không điều hòa, không ma túy, không mại dâm, và không cờ bạc).

Cần rút ra các bài học chưa thuộc từ các dự án có yếu tố nước ngoài


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh%201.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh%201.jpg)

Hồ thải bùn đỏ của mỏ khai thác bô - xít ở Ấn Độ
(ảnh: red mud project)

Nếu Tây Nguyên - mái nhà của miền Trung - sẽ bốc cháy vì bùn đỏ (giống như sông Thị Vải đang bốc mùi hôi thối ở Đồng Nai), liệu chúng ta có cách gì để “chữa cháy”.

Hay cũng giống như hôm nay, UBND tỉnh Đồng Nai không thể đóng cửa được Vedan của một chủ tư nhân Đài Loan ngay trên đất của mình? Mùi không chỉ bốc lên từ sông Thị Vải.

Vấn đề “bùn đỏ” của bô - xít hiện đang “cháy” thực sự (mặc dù chỉ trên giấy) trong các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án trên Tây Nguyên.

Nhưng, hy vọng khái niệm Tây Nguyên gắn liền với “đất đỏ bazan” không bị đổi thành “bùn đỏ bô - xít” để các cháu học sinh không phải học lại bài địa lý đã thuộc.

Phát triển bền vững Tây Nguyên là bài toán không khó giải. Chỉ có điều chúng ta có muốn giải hay không? Muốn giải thì phải học thuộc bài, và ai là người giải? Liệu các đối tác nước ngoài (những người rất thuộc bài) đang khát alumina của VN có thật lòng giúp chúng ta giải bài toán “bùn đỏ” này một cách khách quan, trung thực, đầy trách nhiệm như những chuyên gia của COMECON ngày xưa hay không?

Ngày nay, chúng ta may mắn hơn Nguyễn Du, đã hiểu rõ về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Hãy nghiêm chỉnh thực hiện các quyết định nêu trên của Thủ tướng, để cùng Chính phủ giữ lại mầu xanh cho Tây Nguyên hùng vĩ, để mộ các anh hùng liệt sỹ của chúng ta còn được lưu lại trên Tây Nguyên dưới bóng mát của cây cao su và cà phê, chứ không phải nằm bên cạnh những bãi bùn đỏ rộng hàng trăm hécta do chính chúng ta (là con, em, và đồng đội của các anh hùng liệt sỹ) tạo ra.

Khuyến nghị đối với dự án bô - xít thử nghiệm


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh2.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh2.jpg)

Khai thác bô - xít ở Ấn Độ (ảnh: Gosaliagroup)

Để khắc phục những vấn đề tồn tại và để giải đáp những câu hỏi còn bỏ ngỏ về phát triển bền vững Tây Nguyên, giải pháp duy nhất với dự án bô - xít là triển khai thử nghiệm.

Quy mô thử nghiệm chỉ nên giới hạn dưới 1,5 triệu tấn bô - xít/năm. Địa điểm có thể trên cơ sở khu mỏ bô - xít Gia Nghĩa hoặc tốt nhất là khu mỏ “1 tháng 5” vì khu mỏ này có trữ lượng được phê duyệt tương đối lớn, và có thể đại diện cho bô - xít toàn vùng Tây Nguyên.

Về phương thức thử nghiệm, cần có sự giám sát toàn diện của cộng đồng xã hội thông qua chính quyền địa phương trong việc đưa ra các quyết định và thực hiện cam kết.

Mục tiêu thử nghiệm cần làm rõ những vấn đề khách quan và chủ quan còn bỏ ngỏ của các dự án, những câu hỏi lớn và quan trọng chưa có giải đáp của chủ đầu tư liên quan đến 10 nhóm vấn đề như sau:

1. Vấn đề xã hội: phản ứng của xã hội và cư dân địa phương về các dự án bô - xít như thế nào? Phương án thu hồi đất và đền bù cho dân? Phương án hoàn thổ của chủ đầu tư? Khả năng tạo việc làm cho cư dân tại chỗ? Vấn nạn “bô - xít tặc” trên Tây Nguyên (thuận lợi hơn nhiều so với “than thổ phỉ” ở Quảng Ninh) liệu có xẩy ra? Ngăn chặn thế nào?

2. Vấn đề đa dạng sinh học: thảm thực vật và nguồn động vật sẽ được quản lý như thế nào để tuân thủ Luật đa dạng sinh học đang được Quốc hội thông qua? Khả năng phục hồi thảm thực vật? Cây gì sẽ trồng được sau khi khai thác bô - xít?


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh41.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh41.jpg)

Do không đủ điện để chế biến nên Ấn Độ phải
xuất quặng thô (ảnh: gosaliagroup)

3. Vấn đề công nghệ: chất lượng bô - xít của VN thích ứng như thế nào để áp dụng qui trình Bayer: độ ổn định của chất lượng, thành phần khoáng chất trong bô - xít của VN tham gia các phản ứng với NaOH có nồng độ khác nhau và ở nhiệt độ khác nhau như thế nào? Công nghệ Bayer phù hợp đến mức độ nào? Thiết bị kỹ thuật của nước ngoài được chế tạo theo tiêu chuẩn nào? Có đạt được các chỉ tiêu và thông số kỹ thuật đề ra? Tiêu hao hoá chất và nguồn cung cấp hoá chất?

4. Vấn đề môi trường: thành phần bùn đỏ? Liệu có chất phóng xạ trong bùn đỏ? Khối lượng và tỷ lệ bùn đỏ? Mức độ độc hại của bùn đỏ? Phương thức chôn cất bùn đỏ an toàn, hiệu quả? Ảnh hưởng của bãi thải bùn đỏ đến môi trường nước ngầm, môi trường không khí? Các bãi chứa bùn đỏ trong điều kiện mưa lũ ở Tây Nguyên cần được thiết kế như thế nào cho phù hợp?

5. Vấn đề sinh thái: các hiện tượng dị thường về khí hậu vốn đang xẩy ra đối với Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung liệu có gia tăng hay giảm bớt do khai thác bô - xít? Khả năng xảy ra các thảm hoạ môi trường ảnh hưởng tới vấn đề sinh thái của toàn vùng? Ảnh hưởng của việc khai thác bô - xít đối với các tỉnh Nam Trung bộ và Campuchia? Các yếu tố thiên nhiên ở Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề bùn đỏ?

6. Vấn đề nước ngọt: tiêu hao nước như thế nào? Ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn nước? Bổ sung nguồn nước tự nhiên? Phục hồi nguồn nước tự nhiên?


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh51.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh51.jpg)

Hồ chứa bùn đỏ ở Ấn Độ tràn ra sông suối, nguồn nước sinh hoạt của dân làng
(ảnh: picasaweb)

7. Vấn đề kinh tế: vốn đầu tư thực và hiệu quả thực của dự án? Huy động vốn? Khả năng thanh toán nợ nước ngoài? Khả năng cạnh tranh của quặng alumina VN trên thị trường thế giới? Mô hình tổ chức sản xuất “không giống ai” của chủ đầu tư? Mô hình quản lý của chúng ta hiện nay có phù hợp để phát triển một ngành công nghiệp hoàn toàn mới?

8. Vấn đề chính sách: việc chế biến và tuyển quặng bô - xít thành quặng alumina với những chi phí cao, phải trả giá đắt về môi trường sinh thái, có nhiều rủi ro chỉ để xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của các đại gia nước ngoài liệu có phù hợp? Liệu có nên cấm không xuất khẩu quặng alumina? Khả năng xây dựng nhà máy luyện nhôm như thế nào? Khả năng đề nghị nhà nước thay đổi chủ trương, chính sách cho phép xuất khẩu quặng bô - xít không qua chế biến như thế nào?

9. Vấn đề về con người: nguồn nhân lực chắp vá của chủ đầu tư có đáp ứng được các yêu cầu đảm bảo vận hành an toàn và hiệu quả các dự án trên thực tế? Cần đào tạo như thế nào? Đào tạo lĩnh vực gì, nghề gì, ở đâu?

10. Vấn đề liên quan đến hành vi ứng xử: dự án thử nghiệm sẽ giúp người dân địa phương hiểu rõ thực sự về quan điểm và thái độ của chủ đầu tư, cũng như của các đối tác nước ngoài đến phát triển kinh tế trên địa bàn như thế nào? Ngược lại, dự án thử nghiệm sẽ giúp chính quyền địa phương biết cần phải làm gì để phối hợp phát triển các ngành kinh tế khác, các dịch vụ hậu cần, cũng như các biện pháp phối hợp và hỗ trợ chủ đầu tư.

Kết luận 3 điểm: nhu cầu - hiệu quả - hiểm họa


http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh4.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/53/2008/10/26_anh4.jpg)

ảnh 4: Đua voi Tây Nguyên (ảnh: vov)

Việc khai thác bô - xít và chế biến quặng alumina chỉ đáp ứng được nhu cầu cần nhập khẩu của các đại gia nhôm trên thế giới. Nền kinh tế chưa có nhu cầu về quặng bô - xít và alumina vì Việt Nam chưa có thừa điện để luyện nhôm.

Khai thác bô - xít trên Tây Nguyên có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh thái toàn vùng rộng lớn. Việc sản xuất alumina trên Tây Nguyên chắc chắn sẽ tạo ra các hồ bùn đỏ có nguy cơ bị mưa lũ cuốn trôi tràn ra toàn vùng rộng, gây ra thảm hoạ về môi trường.

Các dự án bô - xít & alumina kém hiệu quả hơn nhiều lần so với dự án cao su và cà phê (với cùng một số tiền vốn bỏ ra), và không giải quyết được vấn đề việc làm cho dân cư địa phương, làm căng thẳng thêm vấn đề hạ tầng cơ sở vốn đã kém phát triển (điện, nước và giao thông vận tải).

Kiến nghị 4 điểm

Thứ nhất, cần sớm đình chỉ các dự án khai thác và chế biến bô - xít qui mô lớn ở trên Tây Nguyên. Cần rà soát lại việc tuân thủ pháp luật của các dự án này. Ngoài việc phải tuân theo luật Đầu tư, các dự án bô - xít cần tuân theo luật Khoáng sản, các dự án alumina cần tuân theo các văn bản pháp qui về hoá chất độc hại. Về nhiều khía cạnh, các dự án bô - xít và alumina trên Tây Nguyên chưa tuân thủ đúng theo luật và các qui định hiện hành.

Thứ hai, chỉ nên triển khai 1 dự án thử nghiệm và trình diễn cụ thể trên thực tế (thay cho các lời hứa hay cam kết trên giấy của các chủ đầu tư) để tìm ra các câu trả lời cho 10 nhóm vấn đề còn bỏ ngỏ nêu trên, để kịp thời rút kinh nghiệm tránh các nguy cơ có thể xẩy ra, và để không lặp lại các sự việc nghiêm trọng như Vedan.

Thứ ba, cần quan tâm và ưu tiên nước ngọt và có các chính sách thoả đáng khác cho việc phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè, điều…) đúng với tiềm năng của Tây Nguyên, để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, bù đắp cho danh mục dầu thô sắp cạn của VN.

Thứ tư, cần thành lập “Uỷ ban quốc gia về phát triển kinh tế Tây Nguyên” trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội để chỉ đạo toàn diện việc phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên.

Thay cho lời kết, chúng tôi muốn nhắc lại câu nói của một triết gia: “Phát triển chẳng giống ai là cách tự huỷ hoại mình nhanh nhất”.
TS Nguyễn Thành Sơn

Nguồn: TuanVietNamNet

Nhớ lại trong lịch sử: nhiều vị quan thanh liêm,tuy cuộc sống dựa vào nguồn bổng lộc của triều đình cung cấp nhưng vẫn sẵn sàng nói lời "trung ngôn, nghịch nhĩ"; lấy xã tắc, sơn hà làm trọng chứ không vì chút lợi ích riêng mà chỉ biết nhắm mắt, bịt tai; miệng đưa lời a dua, xiểm nịnh trước những sai trái của triều đình...

TS Nguyễn Thành Sơn liệu có phải là một con người như thế của thời nay?

nbc
12/06/09, 11:20 AM
Không thể chia nhỏ dự án bô-xít


18:56' 11/06/2009 (GMT+7) http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif (http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif) - 6 đại biểu đứng lên chất vấn Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng chiều nay (11/6) thì 3 người hỏi về bô-xít.
Sau khi nghe xong câu trả lời, cả ba đều đứng dậy bày tỏ: "Tôi không đồng ý với Bộ trưởng".

"Ắt phải trình Quốc hội quyết định"

Điều mà luật sư Nguyễn Đăng Trừng (TP.HCM) muốn làm rõ là chỉ cần dự án từ 20.000 tỷ đồng trở lên đã phải trình QH thông qua chủ trương đầu tư. "Quy mô quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên nhiều hơn con số này, sao Chính phủ vẫn không trình QH?".


http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200906/original/images1806210_Hoang-1..jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200906/original/images1806210_Hoang-1..jpg)
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: "Việc chia thành các dự án không phải ý kiến Bộ Công thương".
Ảnh: Thanh Sơn


Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho hay, quy hoạch khai thác bô-xít mà Chính phủ phê duyệt năm 2007 đã nêu rõ, bao gồm nhiều dự án, từ khai thác bô-xít đến chế biến thành nhôm, và cả dự án đường sắt từ Tây Nguyên xuống biển, cảng Kê Gà.

"Những dự án này độc lập, có nghĩa là dự án này không phụ thuộc vào dự án kia. Dự án Tân Rai, Nhân Cơ... đều độc lập", ông Hoàng giải thích.

Chưa kể, xây đường sắt là để phục vụ nhân dân đi lại, vận chuyển hàng hóa chứ không chỉ riêng vận chuyển alumina. Tương tự, cảng Kê Gà cũng vậy.

"Như vậy có những dự án vượt qua số tiền 20.000 tỷ đồng, lại có dự án chưa đến mức đó. Hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ, vốn đầu tư chỉ khoảng 12.000 tỷ, không phải trình QH", ông Hoàng nói.

Theo Bộ trưởng Công thương, các dự án giai đoạn sau, như từ Đăk Nông 1 đến Đăk Nông 4 chế biến alumina, hay dự án đường sắt và cảng sau đó thì quy mô đầu tư có thể vượt qua số tiền 20 nghìn tỷ đồng. Khi đó, sẽ phải báo cáo ra Quốc hội.

Ông Hoàng cũng nhắn nhủ, tất cả đã có trong báo cáo Chính phủ gửi QH, đại biểu xem lại.

Không đồng ý với giải thích này, ĐB Nguyễn Đăng Trừng tiếp tục "truy": "Đọc kỹ quy hoạch, rõ ràng dự án bô-xít gồm ba giai đoạn với mười hai dự án gắn bó theo hệ thống. Về bản chất là gắn với nhau và chỉ độc lập khi Bộ tách nhỏ ra để không phải trình QH", ông Trừng thẳng thắn.

Trích lại thông báo Kết luận (http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/) của Bộ Chính trị mới đây, ông Trừng khẳng định, đây là dự án quan trọng cả về môi trường, hiệu quả kinh tế và an ninh quốc phòng. Nên khai thác bô-xít "ắt phải trình QH quyết định".

http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200906/original/images1806212_trung----TS.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200906/original/images1806212_trung----TS.jpg)

ĐB Nguyễn Đăng Trừng: "Dự án chỉ độc lập vì được chia nhỏ". Ảnh: Thanh Sơn


"Không phải là ý Bộ Công thương"

Ngạc nhiên trước giải thích của Bộ trưởng Hoàng, đại biểu Nguyễn Văn Ba (Khánh Hòa) đứng lên "truy": "Rõ ràng nếu không khai thác bô-xít thì không thể nghĩ đến chuyện phải xây đường tàu hay cảng biển. Không thể có chuyện tách ra như vậy để qua mức QH quy định".

Về quy mô dự án Tân Rai và Nhân Cơ, ông Ba phân tích thêm, như Bộ trưởng (http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849972/) Tài nguyên - Môi trường giải thích, báo cáo đánh giá tác động môi trường của những dự án này chưa tính hết các điều kiện đề ra nên đang phải làm lại.

"Tính toán hết các cam kết môi trường, mở rộng đầu tư thì hạn mức đầu tư phải lớn hơn. Vậy Bộ Công thương đã chỉ đạo điều chỉnh tính toán lại chưa?", ông Ba hỏi.

Dẫn lại thông tin báo chí (http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/852012/) đưa ra cảnh báo của các nhà tài trợ về việc khai thác bô-xít sẽ ảnh hưởng đến môi trường, ông Ba đề nghị Bộ Công thương cân nhắc.

Bị truy vấn dồn dập, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng thanh minh, việc chia các dự án quy mô nhỏ như đại biểu "trách" không phải là ý kiến Bộ Công thương.

"Chúng tôi không có thẩm quyền mà đây là quy hoạch phát triển bô-xít đã được Thủ tướng phê duyệt từ trước", ông Hoàng cho hay.

Theo đó, để vận chuyển alumin nếu quy mô ban đầu còn đang nhỏ thì vẫn phương án vận chuyển bằng ôtô. Sau này, khi nào mở rộng quy mô lớn hơn mới tính phương án làm đường sắt. "Nhưng không phải chuyên dùng vận chuyển alumin mà còn phục vụ nhiều hàng hoá khác", ông Hoàng khẳng định.

Lê Nhung

Nguồn: VietNamNet