Warning: Methods with the same name as their class will not be constructors in a future version of PHP; vBulletinHook has a deprecated constructor in ..../includes/class_hook.php on line 27
Đọc và suy ngẫm [Archive] - CAUDUONGBKDN

PDA

View Full Version : Đọc và suy ngẫm



nbc
26/06/09, 11:06 AM
Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị


26/06/2009 05:31 (GMT + 7)

"Bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền... đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm?"
Tôi chỉ là Ashkenazy

Tôi xin được bắt đầu bài viết này bằng một câu chuyện có thật xảy ra ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1995. Chuyện như sau: Trong một chuyến đi bằng đường hàng không, do trục trặc, nghệ sỹ Piano lớn của thời đại chúng ta là Vladimir Ashkenazy đã phải dừng lại ở TP HCM hai ngày.

Tất nhiên một nghệ sỹ lớn như Ashkenazy khó lòng mà không bị phát hiện ra trong thế giới nhiều thông tin này. Và ông đã được mời tổ chức một buổi hoà nhạc nho nhỏ cho những người hâm mộ. Với sự khiêm tốn vốn có ở những người vĩ đại, ông chỉ muốn biểu diễn ở phòng nhỏ trong Nhạc viện TPHCM và chủ yếu dành cho một công chúng hẹp, trong giới nhà nghề. Việc này tất nhiên được nhạc viện thành phố chú ý ngay và họ muốn biến chuyến thăm bất đắc dĩ này quảng cáo thêm cho uy tín của nhạc viện.

Người lãnh đạo nhạc viện lúc đó là một giáo sư, tiến sỹ, nghệ sỹ nhân dân đã dẫn đầu một nhóm giáo sư, tiến sỹ của nhạc viện TPHCM đón tiếp Ashkenazy.

Trong buổi tiếp, sau khi trân trọng giới thiệu với Ashkenazy từng thành viên của ta với đầy đủ chức danh, học vị, thì việc mà phía ta muốn hỏi ông ta, để đưa vào programe (tờ in chương trình) và giới thiệu khi biểu diễn là: Ashkenazy là gì? Thạc sỹ, tiến sỹ, giáo sư hay là gì gì hơn thế nữa ? Và câu trả lời là: Tôi chỉ là Ashkenazy.

Tưởng khách không hiểu. Chủ lại hỏi lại và gợi ý thêm cho dễ hiểu hơn: chắc một nghệ sỹ lớn như ông thì phải có tham gia giảng dạy, vậy khi đó chức danh và học vị của ông là gì? Câu trả lời vẫn không thay đổi: Tôi chỉ là Ashkenazy.

Ô hay! Lạ cái ông này, cỡ như ông ta ít nhất cũng phải có một chức danh gì chứ? hay ông ta giấu? Và cuộc gặng hỏi vẫn tiếp tục. Tuy vậy, truy mãi, cuối cùng, dù đông người, ta đã phải chịu thua một mình ông, vì câu trả lời vẫn chỉ có thế, dù đã được pha thêm chút khó chịu: Tôi chỉ là Ashkenazy!



http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2009/06/bangcap2.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2009/06/bangcap2.jpg)

Người đứng giữa cầm quyển sách là Ashkenazy - ông không
nhìn vào ống kính. (Ảnh do tác giả cung cấp).

Cách giới thiệu một cuộc hoà nhạc ngày nay và cái tên cha sinh mẹ đẻ

Trên thế giới thì hàng trăm năm nay, khi giới thiệu một buổi biểu diễn nhạc chuyên nghiệp (hoặc in trên bìa CD) chỉ đơn giản như sau, ví dụ:

1/Về tác giả : Sonate số 2, giọng Si giáng thứ của F.Chopin.

2/Về biểu diễn: Piano : V.Ashkenazy

Cách đây khoảng trên hai chục năm, ở Việt Nam ta cũng tương tự như vậy. Nhưng bây giờ thì khác xa rồi, thường họ sẽ giới thiệu theo công thức như sau:

1/ Về tác giả: Tên tác phẩm, của + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú). + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên tác giả

2/ Về biểu diễn: Độc tấu + tên nhạc cụ, do + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú) + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên người + biểu diễn

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2009/06/bangcap.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2009/06/bangcap.jpg)
Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp.Ảnh minh họa: ree-scores.com.


Mời bạn đọc thử lắp những chức danh, danh hiệu này trước những tên tuổi như: Mozart, Beethoven, Chopin ….. hoặc: Karajan, Rubinstein, Horowitz vv… bạn sẽ thấy nó hài hước tới mức nào ngay. Thêm bất cứ cái gì trước những cái tên đó, đều là một sự xúc phạm khó tha thứ. Bản thân nó đã là vàng mười. Sự sâu sắc luôn mộc mạc, giản dị. Ngược lại với sự son phấn loè loẹt, hàng mã.

Và không chỉ dừng lại ở các cuộc biểu diễn, mà ngay cả trong các cuộc họp hành, hiếu hỷ. Khi mời ai lên phát biểu, người ta cũng luôn luôn phủ đầu làm tối tăm mặt mũi cử toạ bằng một tràng dài các chức danh, học vị, chức vụ quản lý, chức vụ Đảng, cuối cùng mới đến tên người. Điều này dần dần đã thành thói quen, gây sự thiếu thân thiện và tủi phận với những kẻ chỉ có cụt lủn mỗi cái tên cha sinh mẹ đẻ. Họ cảm thấy hẫng như mình thiếu hẳn một cái đuôi.

Cuộc họp nội bộ ngày xưa thì giản dị: “Mời anh Trí” hay “Mời chị Tuệ” lên phát biểu. Chỉ vỏn vẹn có 3 từ thôi, mà sao thân mật, ấm cúng và hiệu quả biết bao. Còn bây giờ thì phải khoảng trên dưới 30 từ. Cũng theo công thức trên, ta lại cùng nghép thử, ví dụ:

Xin kính mời + chức danh + học vị + toàn bộ danh hiệu đã được phong + toàn bộ giải thưởng đã được tặng + toàn bộ chức vụ quản lý, chức vụ Đảng đang có + Ông(Bà) + họ tên đầy đủ + lên phát biểu.

Mời bạn tham khảo thêm tên và tước hiệu của cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) một đại thần triều Nguyễn phong kiến như sau: Hiệp biện Đại học sỹ, lãnh Lễ bộ thượng thư, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, sung Kinh diên giảng quan, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Văn thần phò mã đô uý, Phan Thanh Giản, tự Tĩnh Bá, hiệu Ước Phu. (50 từ)

Ôi, nếu cụ sống lại và đến dự một cuộc họp nội bộ của chúng ta ngày nay, và được ta giới thiệu cụ với đầy đủ chức danh như trên, thì chắc cụ rất hãnh diện. Vì lũ con cháu chúng ta sao mà giống thời các cụ thế! tiếp nối được truyền thống cha ông xưa. Và vẫn đang liên tục phát triển.

Đây là hiện tượng phổ biến trên toàn quốc khoảng hai chục năm nay chứ không chỉ riêng ở một đơn vị nào, và nó vẫn còn đang phát triển theo hướng rườm rà hơn nữa. Tôi sợ với đà này, một ngày nào đó, ngay trong gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng… hoặc bạn bè gặp nhau ngoài phố, khi gọi nhau cũng phải kèm theo những danh hiệu rườm rà đã kể trên thì thực là rồ dại.

Vậy bạn đọc nghĩ sao về những hiện tượng này? Bản chất của những hiện tượng này là gì?

Một cuộc chạy đua chức danh trên toàn quốc “trồng lúa thu hoạch khoai”

Ta tự hào về chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa (mà hiện nay chỉ có người dân ở một số ít nước được hưởng là: Triều Tiên, Cu ba, Lào và Trung Quốc) mọi người đều bình đẳng. Nhưng thực chất thì người ta đang dựa theo chức quyền để phân chia đẳng cấp, quyền lợi, tất nhiên chức càng cao, bổng lộc càng lớn.

Lúc sống đã vậy, tận tới lúc chết chôn ở đâu cũng có tiêu chuẩn dựa theo chức tước. Vì thế cả xã hội đều trọng chức quyền. Mà muốn có chức quyền thì cần có bằng cấp, cộng thêm danh hiệu Đảng viên, là người ta có thể tiến thân, có thể trở thành lực lượng lãnh đạo với nhiều bổng lộc mà không cần phải có thực lực.

Đó là nguyên nhân sâu xa đã và đang dẫn đến việc nhiều kẻ cơ hội đổ xô đi săn bằng cấp bằng mọi giá. Đua bằng cấp, chức danh chứ không đua tài năng. Bởi đua tài năng, cuộc đua dưới ánh mặt trời, thì khó hơn nhiều, dễ lộ chân tướng và dễ bị thua. Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp. Nhìn vào con đường để trở thành thạc sỹ, tiến sỹ hiện nay ở nước ta đã bị biến chất. Nhiều người có lòng tự trọng không khỏi ngại ngùng và muốn lánh xa.

Bản thân bằng cấp và chức danh chân chính, lương thiện thì rất có ích cho xã hội. Trước kia, số giáo sư, tiến sĩ ở ta không nhiều, nhưng đó là những tên tuổi như: Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Mạnh Tường... Còn ngày nay thì đúng là “Ta tự hào đi lên. Ôi Việt Nam” giáo sư nhiều đến mức có thể “ra ngõ gặp giáo sư”. Với thực trạng này thì nền học thuật của nước nhà có nguy cơ trở thành hữu danh, vô thực.

Trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp, để chơi đàn, hát, làm được concert thì khó quá, muốn thế phải rèn luyện hàng ngày, phải hy sinh rất nhiều mà lại không oai bằng rẽ ngang đi làm tiến sỹ, đơn giản hơn, chóng được thăng chức với nhiều bổng lộc hơn.

Kết quả là: mục đích cuối cùng và duy nhất của âm nhạc là tiếng đàn, tiếng hát, những buổi concert và viết những tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp thì dần dần không còn ai làm, thay vào đó là rất nhiều tiến sỹ âm nhạc ra đời. Có được cái bằng tiến sỹ, phần lớn không ai chơi đàn và hát nữa. Tiền của nhân dân bỏ ra đào tạo họ để mang lại tiếng đàn tiếng hát cho đời đã trở thành vô ích vì sai mục đích. Trồng lúa thì lại thu hoạch khoai!

Hướng dẫn làm luận văn tiến sỹ chéo ngành chéo nghề

Ở hầu hết các trung tâm đào tạo đại học của Việt Nam trên toàn quốc hiện nay, để có được chức danh thạc sỹ, tiến sỹ, phải có người hướng dẫn viết luận văn, luận án. Đó là các giáo sư, phó giáo sư. Nhưng để đào tạo ra càng nhiều, càng nhanh và để “phổ cập” học vị thạc sỹ, tiến sỹ, người ta đã sử dụng các giáo sư hoặc phó giáo sư nghề này, hướng dẫn luận văn cho các thạc sỹ, tiến sỹ nghề khác.

Tuy cùng là một ngành, nhưng càng lên cao, càng phải chuyên sâu, và cùng một ngành nhưng rất nhiều nghề hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như trong ngành thể thao thì môn cờ tướng với bắn súng hoặc đấm bốc, không hề có liên quan đến nhau. Hoặc trong ngành điện ảnh thì nghề viết kịch bản và nghề tạo khói lửa, cũng không hề có liên quan. Nghề nào cũng vậy. Nên dù biện minh rằng, đó là “hướng dẫn phương pháp luận” thì cũng chỉ là ngụy biện, và không thể chấp nhận được.
Thử tưởng tượng trong cùng ngành y. Giáo sư chuyên nghề phụ khoa lại đi hướng dẫn luận văn cho tiến sỹ chuyên nghề nha khoa thì có được không? Bởi vì hai bộ phận này của cơ thể chúng ta là hoàn toàn khác nhau, có những chức năng hoàn toàn khác nhau. Vậy mà chéo ngành chéo nghề vẫn vô tư hướng dẫn đã trở thành bình thường từ lâu.

Vậy xin hỏi cấp trên có biết vấn đề này không? Với những sự hướng dẫn như vậy, những bản luận văn đó có giá trị gì không? Và trong việc này liệu có thể tránh được tiêu cực không? Có được cái bằng cấp ấy, có đáng tự hào để mời mọi người đi khao “rửa bằng” không? Có lẽ sự “rửa bằng” nghĩa đen lại chính xác hơn vì nó vốn không được sạch sẽ cho lắm.

Theo chúng tôi, cấp bộ hãy cho dừng ngay kiểu hướng dẫn trái ngành trái nghề như hiện nay ở hầu hết các cơ sở đào tạo trên cả nước. Và cho rà soát lại tất cả các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã có. Nếu không phải do người hướng dẫn có cùng chuyên môn thì cho thu hồi lại, và các luận văn đó phải được làm lại, với sự hướng dẫn của các giáo sư cùng chuyên ngành và công khai việc này trong giới chuyên ngành.

Các danh hiệu, giải thưởng, câu chuyện cười ra nước mắt
Vườn hoa chỉ có 2 loại hoa

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2009/06/bangcap3.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/54/2009/06/bangcap3.jpg)

Hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, làm nên tên tuổi riêng của mìnhẢnh minh họa: byond.com.

Định kỳ một hai năm gì đó, ta có những đợt phong tặng danh hiệu nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ Nhân dân và trao tặng các giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Việc này không phải do người Việt Nam ta nghĩ ra, mà do chúng ta học tập từ Liên Xô cũ. Họ phong nghệ sỹ Công Huân, nghệ sỹ Nhân dân, giải Xtalin, giải Lê Nin về văn học nghệ thuật ( ví dụ Giao Hưởng số 11 của Shotstakovich được giải Xtalin năm 1953 vv…).

Sau khi Liên Xô tan vỡ, họ đã bỏ thói quen đã có từ hàng chục năm này. Rất nhiều cách tổ chức dập theo kiểu Liên Xô cũ như: nền kinh tế có kế hoạch, hành chính bao cấp, phân phối theo tem phiếu v.v… ta đã bỏ. Nhưng không hiểu vì sao cái thói quen trao những danh hiệu và giải thưởng văn học nghệ thuật học từ họ thì ta lại vẫn duy trì, bởi nó là một phần đồng bộ trong tư duy cấu thành chế độ bao cấp, cơ chế xin cho?

Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh bằng máu và nước mắt một quy luật là: những chính sách dập khuôn theo ngoại bang sớm muộn rồi cũng gây những hậu quả xấu, thậm chí là những thảm hoạ dân tộc.

Về việc phong danh hiệu nghệ sỹ, hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, họ làm nên tên tuổi riêng của mình (như Ashkenazy) thì nó mới có giá trị thực, bền lâu và duy nhất. Không ai có thể ghen tỵ với ai được, vì không ai giống ai. Hàng ngàn nghệ sỹ tài năng, thì sẽ có hàng ngàn cái tên khác nhau, có giá trị khác nhau, giống như vườn hoa với muôn hoa, muôn màu khoe sắc, chứ không phải chỉ có 2 loại hoa ưu tú và nhân dân.

Mà muốn được hưởng các danh hiệu này, phải làm đơn xin, cùng sự “vận động” để được phong (ban) tặng từ trên xuống. Trong hoàn cảnh đất nước ta tệ nạn xã hội tràn lan. Khó có thể tránh khỏi nhiều sự tiêu cực trong sự ban tặng danh hiệu, nếu vẫn giữ kiểu cơ chế ban phát như cũ.
Về việc trao giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, đây cũng là một kiểu cơ chế xin cho với những thành phần Ban giám khảo hoàn toàn được chỉ định từ trên, với những tiêu chí chấm giải tuỳ hứng. Người xin trao giải cũng phải làm đơn và “vận động”.

Riêng trong ngành nhạc đã xảy ra những câu chuyện cười ra nước mắt xung quanh việc trao giải thưởng này. Điển hình là trong đợt đua tranh phong tặng năm 2006 (đây nên là đợt phong tặng cuối cùng) cả nước đều biết tới những chuyện “đồng nghiệp tương tàn” mà báo chí gọi là “cơn địa chấn trong làng nhạc”. Nếu ta lại cứ tiếp tục trao giải thì không ai có thể khẳng định rằng những cơn “địa chấn” sẽ không trở thành “động đất”!

Nói tóm lại: Nhà nước ta nên bỏ lối tư duy kiểu dập theo Liên Xô cũ này!

6. Kết

Hãy để cho mọi người đánh giá tài năng và giá trị con người qua công việc. Dù anh có độn vào trước cái tên của anh hàng trăm danh vị đi nữa mà sản phẩm anh làm ra cho xã hội không có, hoặc tồi, hoặc có hại, thì khác nào gỗ mục được sơn son thếp vàng?

Một xã hội lành mạnh và có tương lai, là một xã hội biết tôn trọng những tài năng và những giá trị thực, bất kể họ có hay không có bằng cấp danh vị cao, tiền của nhiều, chức tước lớn.
Đối với người làm nghề nhạc chuyên nghiệp, thì đó là tiếng đàn, tiếng hát của người biểu diễn và tác phẩm của người sáng tác. Anh hãy tự hào về điều đó, và hãy gắn nó với cái tên cha sinh mẹ đẻ, chứ không phải là những thứ bằng cấp, danh hiệu (mà ở nước ta hiện nay của rởm nhiều hơn thật) và chức vụ quản lý anh đang có, đó chỉ là những thứ son phấn nhất thời.

Bảng giá trị tưởng như là chân lý đơn giản và hiển nhiên này lại đang bị lật ngược. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền. Nó đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm? Với tiềm năng trí tuệ thế này, rồi dân tộc Việt Nam ta sẽ đi đến đâu? “Một dân tộc dốt, là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh)

Là một người hoạt động trong nghề nhạc, tôi thấy cần phải viết bài này chỉ vì trách nhiệm công dân, với mong muốn nền học thuật nước nhà - nhất là âm nhạc - ngày càng trở nên lành mạnh và thực chất hơn. Tôi không nhằm vào bất cứ ai và cũng mong đừng ai giật mình bởi tôi luôn luôn kính trọng sâu sắc những giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ chân chính. Tuy không nhiều, nhưng họ có lương tri và trình độ chuyên môn thực sự. Tôi chắc rằng những người này sẽ ủng hộ những ý kiến trên của tôi.

Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói tử tế bây giờ lại trở nên hài hước. Tuy vậy - dù chỉ nhỏ bé như con Dã Tràng - tôi vẫn muốn nói rằng: Đừng sợ thay đổi vì chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân, hãy nghĩ tới một tương lai tốt hơn cho tất cả. Đừng sợ ánh sáng, sợ thuốc đắng và sự thật.

Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu Kiều của : [Giáo sư, tiến sỹ] Nguyễn Du (xin tạ tội với bậc tiền nhân vì sự xúc phạm này) :

“Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”

Chữ “Con đen” ở đây được hiểu là những người dân bình thường.

Đặng Hữu Phúc

Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/7317/index.aspx

nbc
26/06/09, 11:22 AM
Bài viết đầu tiên mà nbc sưa tầm và giới thiệu trong topic này có lẽ là một bài viết khá dài. Với không ít người có thể nói là quá dài, và cũng không ít trong số ấy sẽ không có đủ kiên nhẫn để đọc hết nó.

Không biết có quá lời không nếu nhận định: tình hình chung có lẽ là vậy. Thời gian thì có hạn, một ngày chỉ có 24 giờ với biết bao nhiêu công việc cần phải làm, bao nhiêu thứ cần phải biết... Dài thế thì đọc làm sao cho hết chữ được! Đọc rồi không biết có "nên cơm cháo gì không?"

Hẳn là sẽ có những suy nghĩ ấy.

Cuộc sống luôn trôi chảy. Trong cuộc đời mình, mỗi chúng ta như người lữ hành đi trên chặng đường dài, đôi lúc cũng cần phải dừng lại nghỉ ngơi, ngoái đầu xem đoạn đường đời mình đã trải được bao xa; ngước tới xem còn bao nhiêu chặng sẽ phải vượt qua. Và khi ấy, hẳn cũng cần phải triêm nghiệm, suy ngẫm về mình, về đời.

Hy vọng rằng "mảng" này cũng sẽ có những "khách hàng" riêng. :M045:

banglangtim
26/06/09, 02:46 PM
Banglangtim thì nhận thấy ranh giới giữa cái gọi là "Bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền" và cái gọi là "chức danh chân chính, lương thiện thì rất có ích cho xã hội" thật hết sức mỏng manh.

Có thể trong một con người cùng tồn tại cả hai yếu tố này, quan trọng ở chỗ động cơ thực sự đưa họ đi đến mục tiêu là gì thôi. Bây giờ, những người học xong và tiếp tục học lên nữa để "lấy cái bằng tiến sĩ " nhằm "xin việc cho dễ" và thỏa mãn danh vọng thì nhiều chứ chắc không được mấy người nghiên cứu khoa học bằng cả niềm đam mê của mình.

Tất nhiên là có những người như thế nhưng chắc chắn thành phần này sẽ ít hơn, nên chúng ta mới phát sinh ra căn bệnh gọi là bệnh thành tích! Và chúng ta cũng không thể nào phủ nhận sự đóng góp của những tài năng và giá trị thực của xã hội được. Chẳng hạn câu chuyện về gia đình của cố giáo sư Nguyễn Lân, người cha của 8 người con đều là giáo sư, tiến sĩ ,những nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam và đương nhiên là họ đóng góp rât lớn cho sự phát triển của xã hội. Vậy đâu gọi là bệnh thành tích, đâu là giá trị thực của xã hội nhỉ?:M09:

nbc
19/07/09, 10:56 AM
Kẻ sĩ thời nay: có hèn và khiếp nhược?


Bùi Hoàng Tám thực hiện


http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnPhanQuang.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnPhanQuang.jpg)


Nhà văn, nhà báo Phan Quang


1. Thời gian gần đây, câu hỏi về khí phách trí thức mà ngày xưa gọi là chất “Sĩ phu Bắc Hà” được đặt ra trên không ít phương tiện thông tin đại chúng và mỗi người có một câu trả lời khác nhau. Có người cho rằng không ít trí thức thời nay “xu thời và khiếp nhược” nhưng cũng có rất nhiều người cho rằng đó chỉ là số rất ít còn đa số vẫn giữ đươc phẩm tiết. Có cả ý kiến cho rằng trí thức thời nay cơ hội được núp dưới cái bóng của câu thành ngữ: “Một điều nhịn là chín điều lành”… Chúng tôi đã làm cuộc đối thoại với nhà văn, nhà báo Phan Quang, Nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam đồng thời cũng là một trong số những trí thức trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, xung quanh câu hỏi: Trí thức thời nay hèn hay không?

Ông Phan Quang nói:

Nhận định về tầng lớp tinh hoa của đất nước mà nói rằng hèn thì theo tôi là không nên và không đúng với bản chất. Bất cứ một dân tộc nào cũng có những nhược điểm “cố hữu” của mình. Gần đây, có nhiều cuốn sách của các tác giả là người chính nước đó đã viết về tính xấu của dân tộc họ. Ví dụ như người Trung Quốc có cuốn Người Trung Quốc xấu xí chẳng hạn. Rồi người Pháp cũng có những nhận định rất chính xác về các nhược điểm của trí thức Pháp là nói hay mà hành động không phải lúc nào cũng hay như nói…

Nếu nói về những tính xấu của trí thức Việt Nam, ông sẽ nói về điều gì?

Tôi nghĩ cũng không ít đâu. Chẳng hạn, chúng ta đều có dịp nghe giai thoại khá phổ biến: một người Việt Nam thì giỏi hơn một người Nhật, hai người Việt Nam bằng hai người Nhật, và ba người Việt Nam thì kém ba người Nhật. Giai thoại đó đủ nói lên cái tính thiếu hợp tác, kém đoàn kết, thậm chí hay ghen ghét, kèn cựa nhau.

Thưa ông, đúng là tính cách mỗi dân tộc đều có những ưu điểm và cả những nhược điểm nhưng có thể nói khí phách của “sĩ phu” luôn là niềm tự hào của truyền thống dân tộc…?
Đúng. Người trí thức cần phải có khí phách. Trí thức Việt Nam có khí phách. Tôi nghĩ nên gọi “sĩ phu Việt Nam”. Bởi nói sĩ phu Bắc Hà thì còn phải nói đến Hào khí Đồng Nai, đến Khí tiết Ngũ Quảng… Tổ tiên ta rất coi trọng khí phách. Cụ Chu Văn An dâng Thất trảm sớ. Cụ Mạc Đĩnh Chi dám nói thời [gian] đi sứ Bắc triều. Cụ Phan Đình Phùng phản đối Tôn Thất Thuyết ngay tại Triều đình. Cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Thăng Long thất thủ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”… Đó là những phẩm chất cao thượng thể hiện khí phách sĩ phu Việt Nam. Thái Văn Lung, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Tố, Dương Quảng Hàm, Trần Đại Nghĩa… cũng đầy nghĩa khí.

Một Giáo sư rất được coi trọng về phẩm tiết, về sự thẳng thắn, trung thực thì cho rằng trí thức thời nay ít khí phách, hay nói cách khác là hèn và ông cũng không loại trừ mình có những lúc như thế?
Mỗi người đều có quyền có thái độ của mình đối với chính mình. Tôi rất khâm phục những vị có học hàm, học vị cao vì sự học là gian nan, vất vả lắm, sự học tạo nên tri thức của con người. Tuy nhiên không phải ai có học hàm, học vị cao đều là những trí thức đầy đủ, đúng với ý nghĩa của hai từ ấy. Có thực học và có hư học. Hư học không phải chỉ là bằng giả, học giả mà là suốt đời học những điều “hư”, không mấy lợi ích cho đất nước, cho nhân dân. Những người này thời nay không ít. Và có lẽ tại hư học cho nên họ không dám nói và nhất là không có gì nhiều của riêng mình để mà nói. Còn trí thức đích thực thì không hèn, không thể hèn, không được hèn.

Là trí thức, chẳng mấy ai không yêu nước

Ông nghĩ gì về nhận định của TS Chu Hảo: “Trí thức phải là người có năng lực phê phán và hướng dẫn xã hội”?
Trí thức trước hết là công dân cho nên cần phải dấn thân vào đời sống xã hội với tư cách công dân. Dấn thân theo cách nào lại là vấn đề khác. Một nhà khoa học không nhất thiết phải lúc nào cũng phải góp ý về chủ trương, chính sách cụ thể hay trả lời báo chí về thời sự. Họ dấn thân vào những công trình nghiên cứu khoa học của họ và khi đất nước cần điều gì hợp với khả năng của họ, họ sẽ cống hiến hết mình. Tôi nghĩ trí thức không nhất thiết lúc nào phải phát biểu quan điểm chính trị của mình một cách ồn ào. Họ có cách thể hiện riêng, bằng chính các công trình khoa học của họ, bằng thái độ của họ đối với cuộc sống.

Nhưng nếu cả đời chỉ chăm chú với những công trình nghiên cứu khoa học mà không quan tâm đến những biến động của đời sống xã hội, “mũ ni che tai” phải chăng cũng là sự chạy trốn?
Tôi không nói là cả đời trùm chăn. Khi cần thiết, họ sẽ tỏ thái độ vì là trí thức, chẳng mấy ai không có lòng yêu nước. Người trí thức phải có năng lực phê phán, đồng thời cũng phải là người nhiệt thành biểu dương cái hay, cái tốt. Trí thức phải là mẫu mực của xã hội.

Trách nhiệm thuộc về những ai có… trách nhiệm

Tất nhiên “đất nước” và “thể chế” là hai khái niệm nhưng trong trường hợp này xin được đồng nhất. Xin hỏi ông, họ yêu đất nước nhưng đất nước có thực lòng yêu họ không?
Điều này tôi đã có dịp phát biểu trong một cuộc hội thảo về kinh tế trí thức và toàn cầu hóa. Không thể phủ nhận thời gian qua, chính sách của nhà nước ta đối với nhân tài còn nhiều bất cập. Tôi đã từng nghe một nhà trí thức nay đã quá cố nói rằng “Khi trí thức tin Đảng thì trí thức không thật sự được Đảng tin dùng, nay Đảng cần đến trí thức thì trí thức không phải ai cũng thật tin ở Đảng”. Dĩ nhiên đó là câu nói phẫn, mang tính cực đoan nhưng rất đáng được lãnh đạo lắng nghe.

Thưa ông, đặt vấn đề trí thức với Đảng tức là “hai trong một” vì rất nhiều trí thức lớn là đảng viên. Nhưng nếu như trong trí thức có xuất hiện tư tưởng khiếp nhược, hèn, cơ hội, chưa tin tưởng… thì đó là điều đáng thất vọng và ai phải chịu trách nhiệm?
Nếu có những biểu hiện đó thì đương nhiên là Đảng nhận sứ mệnh lãnh đạo đất nước thì Đảng phải chịu trách nhiệm mọi vấn đề. Nói cụ thể hơn, đường lối của Đảng đối với trí thức nhìn chung nhất quán, những yếu kém, bất cập đang được khắc phục dần. Nếu thực tế chưa làm được như đường lối đã đề ra thì trách nhiệm trước hết thuộc về những ai giữ trách nhiệm lãnh đạo.

Trách nhiệm đương nhiên là quan trọng nhưng quan trọng hơn là làm thế nào để người thực tài có thể được trọng dụng?
Theo tôi, chính sách trọng dụng nhân tài không nằm ngoài ba mặt. Thứ nhất, đưa những người có thực tài vào những vị trí xứng đáng, tạo điều kiện tối thiểu về khoa học và đời sống để họ yên tâm làm việc. Sử dụng nhân tài phải đúng như chính sách đã ban hành: Không phân biệt người đó là Đảng viên hay là người ngoài Đảng. Thứ hai, kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai. Thứ ba, các cơ quan đầu não quốc gia phải là tấm gương quy tụ những người có thực tài của đất nước. Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực.

Nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời

Thưa ông, Nghị quyết TW 7 về công tác trí thức ban hành đã khá lâu, ông cảm nhận con đường đi vào đời sống của Nghị quyết này như thế nào?
Để những chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống luôn là con đường gian nan, cần rất nhiều công sức, thời gian và nhất là điều kiện để chủ trương trở thành hiện thực – yếu tố quyết định sự thành công của chủ trương, chính sách. Theo tôi, sau nửa năm ban hành, không biết Nghị quyết này đã ngấm vào chiều sâu thế nào chứ hiện nay dường như có vẻ lặng lẽ. Hay là tại môi trường xã hội bây giờ đang nổi lên nhiều bức xúc về kinh tế, đời sống? Hay tại mảnh đất tiếp nhận là đội ngũ trí thức chưa sẵn sàng? Hay tại trí thức có làm, làm nhiều song ít muốn nói về mình? Hay tại nó ra đời ở thời điểm chưa phù hợp? Rất nhiều câu hỏi mà tôi chưa tìm ra câu trả lời.

Ông có nghĩ rằng việc chuẩn bị chưa chu đáo?

Không. Đây là nghị quyết được chuẩn bị rất kỹ trong một thời gian khá dài, được nhiều trí thức có tên tuổi đóng góp ý kiến và theo tôi nội dung tương đối hoàn chỉnh. Tôi nói tương đối vì chẳng bao giờ có một nghị quyết, một chủ trương đầy đủ và đúng đắn về tất cả mọi vấn đề, hoàn thiện 100%. Tại sao nó chưa nhận được sự đón nhận như mong đợi? Một câu hỏi nữa phải tìm câu trả lời

Hay còn tâm trạng hoài nghi, thưa ông?
Có thể lắm. Tâm trạng trí thức gần đây không ít người dè dặt với những chủ trương, chính sách mới ban hành. Không phải họ hoài nghi mọi thứ mà do kinh nghiệm, nhiều người e bước đầu vồ vập quá, đến khi đi vào cuộc sống lại không được như kỳ vọng thì vỡ mộng nên phần nào còn dè dặt chăng. Tuy nhiên, nếu Nghị quyết đúng, đáp ứng đầy đủ đòi hỏi của đời sống xã hội (tất nhiên là tương đối) thì sớm muộn, nó cũng sẽ đi vào cuộc sống. Trước mắt đành chờ đợi vậy. Cũng cần nói thêm: Nghị quyết có sức sống bền lâu cho nên sự thành bại của nó cũng phải có quá trình. Đây không phải là một cuộc vận động kịp thời như quyên góp, làm từ thiện chống bão, chống lụt chẳng hạn mà có thể đánh giá ngay kết quả đạt được lớn hay nhỏ. Nửa năm chưa đủ thời gian để khẳng định, chỉ vừa đủ để nói lên một điều gì đó có tính cảnh báo xu hướng mà thôi.

Nghề nhiều đam mê nhưng không ít bạc bẽo

Trở lại với quan niệm về trí thức. Theo ông, nhà báo có phải là trí thức?

Có lẽ phải phân định rõ nhà báo và nghề báo. Nhà báo làm nghề báo, là nghề hoạt động trên lĩnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, tinh thần, nghĩa là nghề báo mang tính trí thức và đòi hỏi hàm lượng trí thức. Nhưng không phải nhà báo nào cũng là trí thức. Nói cách khác, hoạt động báo chí là hoạt động trí thức còn ai làm nghề ấy có phải là trí thức không thì còn tùy thuộc nhiều điều kiện khác nữa.

Ông Hữu Thọ trả lời phỏng vấn trên NB&CL chúng tôi dịp Tết vừa qua về báo chí có nói năm 2008 là năm tổn thất nặng nề. Ông có đồng ý với nhận định này?
Trong Lễ trao giải báo chí quốc gia năm 2008, trong khi giao lưu với phóng viên truyền hình, tôi có phát biểu nghề báo có nhiều đam mê nhưng cũng lắm chán chường, không chỉ chán chường mà có khi còn bạc bẽo. Vui cũng nhiều mà buồn cũng không ít. Chuyện cũ qua rồi, buồn lắm chứ, nhắc lại chỉ để nhắc lại và hy vọng chuyện buồn ấy mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm. Riêng tôi vẫn nghĩ, nên có cách xử lý khác những gì đã diễn ra năm 2008. Tự ta làm khó cho ta. Hy vọng rằng sau này mọi việc sẽ được xử lý thấu tình, đạt lý và có lợi cho sự nghiệp chung, cho đất nước hơn.

Xin cám ơn ông!


http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnPhamSong.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnPhamSong.jpg)

GS VS Phạm Song, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế – Chủ tịch Tổng hội Y – Dược Việt Nam


2 – GS VS Phạm Song (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế – Chủ tịch Tổng hội Y – Dược Việt Nam):

Sĩ phu càng không được hèn

Đã là trí thức thì không được hèn. Không có khí tiết, không là trí thức. Không dám nói lên sự thật, không phải là trí thức. Không trung thực, không phải là trí thức. Không dám bảo vệ chân lý, không phải là trí thức… Nói tóm lại, trí thức phải là người vừa có trí dục, vừa có đức dục. Trí thức nói chung đã phải có những phẩm chất đó thì Sĩ phu Bắc Hà yêu cầu còn phải cao hơn nữa.
Có người nói trí thức ta hiện nay có biểu hiện xu thời, cơ hội, khiếp nhược…. Tôi không thấy có sự khiếp nhược của trí thức hiện nay. Ví dụ những người như GS Hoàng Tụy, GS Hồ Ngọc Đại, Nhà văn Nguyên Ngọc, Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung… Họ dám nói lên sự thật, dám phản đối quyết liệt những gì họ cho là sai trái. Những nhà khoa học khác, họ không nói hoặc chưa nói vì chưa có một diễn đàn thuận lợi cho trí thức lên tiếng và lỗi này thuộc về công tác tổ chức.


http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnChuHao.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnChuHao.jpg)

TS Chu Hảo


3 – TS Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ):

Không ít trí thức phải náu mình

Có người nói trí thức của ta tùy thời, có người nói là cơ hội, có người nói nặng hơn là hèn. Theo tôi, ở một mức độ nào đó thì những điều trên đều có. Đó là dấu hiệu khá dài của những phương thức sinh hoạt nặng nề nên để bảo trọng, để không bị loại ra khỏi cuộc chơi, không còn phương tiện sinh sống nên không ít trí thức phải náu mình.

Trong không khí dồn nén thì khó có thể có được một tầng lớp trí thức có đủ dũng cảm và nhân cách.

Tuy nhiên, trừ một số giữ được nhân cách, phẩm hạnh, còn nhiều người tự nhận mình là trí thức, là sĩ phu cũng không đủ dũng cảm để vượt qua những trở ngại tinh thần đó. Do vậy hơn lúc nào hết, đây là thời kỳ cần phải xây dựng một cơ chế dân chủ đảm bảo tự do tư tưởng và độc lập sáng tạo thì mới có thể xây dựng được một tầng lớp trí thức đúng nghĩa với vai trò tinh hoa của dân tộc.


http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnNguyenThiBinh.bmp (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnNguyenThiBinh.bmp)

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:


4 – Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:

Nhiều trí thức luôn giữ được phẩm tiết của mình

Đúng là không ít trí thức ở thời điểm này hay thời điểm khác có biểu hiện xu thời, a dua nhưng cũng rất nhiều trí thức luôn giữ được phẩm tiết của mình. Trí thức Việt Nam chưa đạt tới độ tinh hoa không phải do không có trình độ hay không biết tự trọng. Nguyên nhân có thể là do khâu đào tạo, bồi dưỡng và một nguyên nhân quan trọng nữa là do cách nhìn nhận, đánh giá, sử dụng trí thức nhiều lúc, nhiều nơi chưa đúng và chưa đầy đủ.

5 – Nguyên Phó thủ tướng – Nguyên Chủ tịch Hội Phát triển nguồn Nhân lực và Nhân tài Việt Nam Đoàn Duy Thành:

Theo hiểu biết của tôi thì kẻ sĩ ngày xưa cũng chia làm ba loại. Loại không biết (và không cần biết) chữ thời. Họ hành động để thể hiện chí khí của mình với đời. Loại thứ hai là những người trùm chăn chờ thời nhưng thời không đến, có người vì thế lâm vào bất mãn… Loại thứ ba là những sĩ phu biết chọn chúa mà thờ, chọn thời mà hành động.


http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnHuuTho.jpg (http://bauxitevietnam.info/uploads/2009/07/tnHuuTho.jpg)

Nhà báo Hữu Thọ


6 – Nhà báo Hữu Thọ:

Trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý

Đúng là trong giới trí thức hiện nay cũng có người hèn, không chỉ hèn đâu còn xu nịnh và cơ hội. Nhưng thời nào cũng có kẻ cơ hội, xu nịnh, hèn hạ… song thời nào cũng có những tinh hoa. Nói cả tầng lớp trí thức hèn, theo tôi là nói quá lời. Cứ nghe những cuộc tranh luận ở Mặt trận Tổ quốc, ở Quốc hội, trên các diễn đàn báo chí… thì đâu có phải họ không dám nói.

Đối với khí tiết bảo vệ chân lý, thái độ “trùm chăn”, “mũ ni che tai”, “an phận thủ thường”, trước hết là nó cũng có nguồn gốc sâu xa của người Việt. Đó là bệnh xuê xoa, “năm bỏ làm ba, chín bỏ làm mười”, cái tính “an phận thủ thường” rồi “một điều nhịn là chín điều lành”…

Thứ hai, trách nhiệm bảo vệ chân lý của trí thức là phải có tố chất phản biện lại các nhà quản lý, tức là những người lãnh đạo, cầm quyền nhưng lại phải phân biệt rất rõ phản biện với phản bác.

Năm 1947, Bác Hồ gửi thư cho trí thức Nam bộ, Người đã dùng 4 chữ “Phò chính – Trừ tà”. Chống cái sai nhưng phải phò cái đúng. Cái gì sai thì phản đối, cái gì đúng thì ủng hộ, cái gì thiếu thì bổ sung… trên tinh thần đó thì mới là phản biện. Có ý kiến khác nhau là bình thường.

Tôn trọng ý kiến khác mình là văn hóa cầm quyền cao nhất của người lãnh đạo.

Tôi nghĩ rằng người trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý, lẽ phải theo phương hướng “Phò chính – Trừ tà” mà Bác Hồ đã nêu lên. Nhiều trí thức đã từng hi sinh tính mạng của mình để bảo vệ chính nghĩa của dân tộc. Phải biết tự bảo vệ chính mình để phụng sự đất nước. Trong phản biện thì nên trung thực, thẳng thắn nhưng nên khiêm tốn. Với đặc tính sự thiếu hoàn thiện của nhận thức cho nên cũng nên nghĩ rằng không phải ý kiến nào cũng hoàn hảo, cho nên cũng cần biết lắng nghe.

Nguồn: http://trannhuong.com (http://cauduongbkdn.com/f@rums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Ftrannhuong.com%2Fn ews_detail%2F2009%2FK%25E1%25BA%25BA-S%25C4%25A8-TH%25E1%25BB%259CI-NAY%3A-C%25C3%2593-H%25C3%2588N-V%25C3%2580-KHI%25E1%25BA%25BEP-NH%25C6%25AF%25E1%25BB%25A2C-)

nbc
23/07/09, 12:25 PM
Quyền lực, lý luận và… bánh rán


Quan niệm coi trọng tình cảm hơn lý lẽ đã khiến người Việt không ưa kiện cáo, nhưng lại sa đà vào những cuộc đôi co vặt triền miên. Xưa nay, người Việt thường có xu hướng tìm kiếm cái cốt lõi đời sống, cái tâm thế sinh tồn đằng sau những vấn đề phức tạp để giải quyết cái “căn nguyên của mọi căn nguyên” thay vì đối mặt với chính những vấn đề nan giải....

Lý lẽ của ông chủ

Trong dân gian Việt Nam có câu chuyện vui kể về một ông quan đi ăn cỗ bị tên hầu ăn hết món ngon nên dọc đường về nhà ông ta dở lý lẽ đạo đức ra hành tên hầu. Tên hầu đi trước ngựa thì ông quát “Láo! Sao mày dám đi trước tao?”. Tên hầu đi ngang ông cũng cáu: “Thằng này hỗn thật! Mày lại dám sánh ngang với ông à?!”. Tên hầu vội lùi lại đi sau ngựa, ông càng cáu: “Thằng mất dạy! Ông là tù hay sao mà mày áp giải ông?”.

Tên hầu ức đến phát khóc nhưng vẫn cố nén giận từ tốn hỏi chủ: “Con đi kiểu gì ông cũng nói, con biết làm thê nào cho ông vừa lòng?”. Lúc ấy, ông chủ mới nói toạc cội nguồn những lý lẽ của ông, rằng: “Tại sao lúc nãy mày ăn tranh cái bánh rán của tao?”
Câu trả lời của ông quan bộc lộ cái tâm thế của ông trong lúc đó, cái tâm thế đã đẻ ra những lý lẽ đưa tên hầu vào ngõ cụt. Thực chất của những lý sự mà ông quan đã đưa ra là ông ta đã luôn thay đổi hệ quy chiếu để liên tiếp đặt tên hầu vào vào vị thế của kẻ có tội.

Khi tên hầu đi trước, thì ông đặt quan hệ hai người vào hệ quy chiếu đạo đức để phê phán nó không nhường bước chủ. Khi nó đi ngang ông, ông lại đặt quan hệ hai người vào hệ quy chiếu quyền lực để cho rằng tên hầu dám tự coi mình bằng vai bằng lứa với ông. Khi tên hầu đi sau lưng ông, ông lại đặt quan hệ của ông với nó vào hệ quy chiếu hình sự để kết tội nó coi ông là tội phạm.

http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/55/2009/07/lang.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/55/2009/07/lang.jpg)
Ảnh: amthuc365.vn

Ở đây, quyền lực đã tham dự vào lý luận trong vai trò xoay đảo các chuẩn mực, các hệ toạ độ để xem xét hành vi. Không có lý lẽ nào cãi lại được ông quan vì ông nắm quyền quy định luật chơi!
Trong cảnh huống lý luận trở thành bình phong để che đậy và triển khai tâm thế thì mọi đối thoại trong bình diện lý luận là những lỗ lực vô bổ. Dù tên hầu có tìm ra lý lẽ sắc sảo để bác bỏ sự qui tội đầy suy diễn của chủ thì anh ta cũng chỉ đưa mình dấn sâu vào tình thế bế tắc, vì mọi lý lẽ sắc sảo của anh ta đều củng cố và tăng cường cái ý tưởng xấu về anh ta trong tâm thức ông chủ, làm bùng lên ngọn lửa tâm thế tức giận.

Và xét trên bình diện lý luận thì chân lý của anh ta cũng sẽ bắt gặp quyền phủ quyết của ông chủ bởi một siêu lý là: “Mày lại dám dạy khôn ông ư?”, hoặc trắng trợn hơn: ”Ông sai đấy, thì đã làm sao? Mày định đem lý sự để chống lại ông phỏng?”
Vậy là, trong thân phận kẻ tôi tớ thì dù tên hầu có dùng lý luận xác lập được cho mình một chỗ đứng hợp đạo lý trong không gian thực, thì chính hành vi lý luận đúng đắn đó lại là sự vi phạm luật chơi sâu sắc hơn trong không gian quyền lực. ở đây, cuộc đối thoại không phải là cuộc thẩm vấn trong toà án có luật pháp thẩm định, cũng không phải là cuộc đấu trí trong cuộc chơi có luật chơi bảo đảm công bằng, mà là một cuộc xua đuổi, truy kích của người trên với kẻ dưới, một cách triển khai quyền lực, một hình thức phát lộ tâm thế.

Tâm thế chi phối cách nhìn, cách nhìn tạo ra lập luận và lập luận lại luôn luôn biến hóa khôn lường nhờ quyền lực luôn luôn đứng cao hơn các chuẩn mực thành văn hoặc bất thành văn. Đó là tấn bi kịch hài lý luận mà tên hầu đã bị ông quan đẩy vào. Cái trớ trêu ở chỗ khi tên hầu chân thành suy nghĩ về đạo lý và đối chiếu những chuẩn mực đạo lý với hành xử của mình thì ông quan kia lại chỉ nghĩ về cái bánh rán mà thôi!

Hội giả trang của ý chí và quyền lực

Lý luận kiểu ông quan trong câu truyện trên đây tiêu biểu cho cơ chế hoạt động lý luận trong các xã hội phương Đông - nơi dường như các hoạt động lý luận có xu hướng vượt thoát khỏi những hình tướng ổn định của luật chơi khoa học để vong thân trong những hội giả trang của ý chí và quyền lực. Và như vậy, lý luận khó có thể là chỗ dựa của người dân để đòi quyền sống hay công lý.

Vì muốn phân biệt đúng sai trong các cuộc tranh cãi nơi tòa án hay trên công luận, thì điều tiên quyết là chuẩn mực xem xét vấn đề phải rõ ràng và ổn định. Nhưng trong xã hội trọng tình, cảm tính và linh hoạt như xã hội Việt Nam thì các chuẩn mực xem xét mọi vấn đề phần lớn tùy thuộc vào con người cụ thể trong bối cảnh cụ thể.

Nhưng dù trong xã hội Việt Nam cho con người lý luận có lắc lư chảo đảo đến đâu thì cái quan niệm “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” vẫn là một quan niệm ổn định, giống như hòn bi dưới đáy con lật đật. Trong Truyện Kiều có hai phiên tòa quan trọng thì cả hai đều xử theo tình. Trong phiên tòa thứ nhất xử vụ Thúy Kiều bỏ lầu xanh chung sống bất hợp pháp với Thúc Sinh, viên quan mặt sắt đen sì đã tuyên án trị tội Kiều rồi, vậy mà khi thấy Kiều quả thực có tài, người đại diện pháp luật “mặt sắt đen sì” này không ngần ngại phán quyết ngược lại, tha bổng cho Kiều và tuyên bố một luật chơi văn hóa cao hơn luật pháp:



Đã đưa đến trước cửa công
Ngoài thì là lý song trong là tình



Ở phiên tòa thư báo ân báo oán, “chính danh thủ phạm” Hoạn Thư lại được bà lớn Kiều tha bổng cũng chỉ vì Hoạn Thư kể lể chút tình đã giành cho bà lớn.

Chính cái quan niệm coi trọng tình cảm hơn lý lẽ đã khiến người Việt Nam không ưa kiện cáo, nhưng lại sa đà vào những cuộc đôi co vặt triền miên. Câu thành ngữ "kiến kiện củ khoai" chẳng phải và bằng chứng về tâm lý hoài nghi công lý của của cả một cộng đồng đó sao? Cái tính ghét kiện cáo, hơn ghét bất công, ghét kẻ la làng hơn ghét kẻ cắp vẫn là một căn bệnh trầm kha trong tâm lý người Việt chúng ta hôm nay mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong việc xây dung một xã hội pháp quyền.

Khi thấy dân tình kiện tụng các quan hay khuyên “Sao hai bên không ngồi lại với nhau đi?”. Lời khuyên chân tình đó bộc lộ một quan niệm đầy tính tương đối về chân lý, theo đó, những mâu thuẫn khiến người ta đưa nhau đến tụng đình không phải là những mâu thuẫn về định hướng tư tưởng có liên quan đến số phận của cả một cộng đồng, không phải là những chiến lược khoa học kỹ thuật có thể đưa đất nước lùi lại cả trăm năm…mà chỉ là mâu thuẫn giữa hai cá nhân vì những ấm ức liên quan đến quyền lợi hay danh dự nào đó có thể thu xếp được!

Cái quan niệm đơn giản và dung tục đó khiến người ta cư xử với những vụ kiện lớn vì đại nghĩa, những kiến nghị lớn vì quốc kế dân sinh…một cách vô trách nhiệm. Những người kiên quyết kiện Vedan và các công ty hủy hoại môi trường như Vedan vì họ muốn có một môi trường sống lành mạnh cho hàng triệu con người, muốn các công ty vào đầu tư ở Việt Nam phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định về môi trường của Việt Nam.

Những mục đích cao cả này xuất phát từ sự am hiểu về khoa học và tường tận về pháp lý, muốn thuyết phục họ rút đơn hay bác bỏ đơn của họ phải có sự đối thoại khoa học và pháp lý sòng phẳng, nghiêm chỉnh, không thể hòa giải theo lối khuyên nguyên đơn ngồi lại với bị đơn để thỏa thuận những điều kiện gì đó, trong khi vấn đề môi trường đe dọa quốc kế dân sinh trong những đơn từ kiến nghị kia vẫn con nguyên đấy!

Nghĩa là, không thể phớt lờ khía cạnh khoa học và pháp lý của vấn đề, đem quyền lực ra đẻ xoay đảo chuẩn mực, thay đổi luật chơi theo kiểu ý chí luận, đánh bùn sang ao.
http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/55/2009/07/law1.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/55/2009/07/law1.jpg)
Ảnh: byu.edu

Chiếc bánh rán và siêu giải quyết
Xưa nay, người Việt chúng ta thường có xu hướng tìm kiếm cái cốt lõi đời sống, cái tâm thế sinh tồn đằng sau những vấn đề phức tạp để giải quyết cái “căn nguyên của mọi căn nguyên” thay vì đối mặt với chính những vấn đề nan giải. Chúng ta hay nói, “rốt cục là”, “cốt tuý vấn đề là” , “thực chất là...”, “chung quy là....” chính là chúng ta đang làm cái thao tác giải mã của ông quan khi nói ra vấn đề cái bánh rán trong bữa tiệc kia.

Chiếc bánh rán tung ra như một siêu giải quyết, đập tan mọi lý lẽ, xóa hết mọi ngụy biện, tên hầu dù đúng đến mấy cũng phải cúi đầu. Đó là dùng bản lĩnh hành động, "dằn mặt" để giải quyết sự bế tắc nan giải của bài toán lý luận mà lịch sử xã hội đặt ra.
Người ta vẫn nói rằng những bế tắc của lý luận chỉ có thể giải quyết bằng hành động lịch sử hành động trong đời sống xã hội là như vậy đó! Triết lý với cây búa đập vỡ các thần tượng của Nietzsche hay tư tưởng nói rằng “Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí” của K.Marx tuy khác nhau về bản chất nhưng có cùng một định hướng ứng xử theo lối siêu giải quyết.

Ta cần hiểu siêu giải quyết trong các tư tưởng của họ là siêu giải quyết trong phạm vi toàn xã hội và ở cấp độ những nhiệm vụ lịch sử của môt thời kỳ. Nếu áp dụng máy móc tư tưởng đó vào các việc cụ thể trong đời sống thì chỉ dẫm đến sự can thiệp thô bạo vào lô gích đặc thù cuả một lĩnh vực, đánh tráo vấn đề, xí xoá vô nguyên tắc dẫn đến những hành vi bạo lực vi phạm luật pháp và luật chơi, tương tự như người chơi cờ bị chiếu tướng, không gỡ được nước chiếu bí thì quay sang tát tai đối thủ hay cầm cả bàn cờ đập lên đầu anh ta.
Tình trạng đơn giản hoá, đánh tráo vấn đề, đánh tráo chuẩn mực, đánh tráo nhiệm vụ đẫn đến đảo ngược công tội, lẫn lộn trắng đen là một hiện tượng khá phổ biến hiện nay, mà cơ chế ở chiều sâu của tâm thức là thói tuỳ tiện manh mún và thực dụng trong nhận định suy tư và lý luận. Lẽ ra phải bắt kẻ cắp thì lại kết tội kẻ la làng là gây ồn, lễ ra phải xem xét phân minh rành rọt là rõ đúng sai trong các quan hệ mâu thuẫn thì lại kêu gọi đoàn kết, bỏ qua....

Hậu quả của tâm thức ngại lý luận, sợ lý luận, lười lý luận, dùng các hành vi phi lý luận để phủ quyết bản thân hoạt động lý luận sẽ dẫn xã hội đến tình trạng hỗn loạn u mê trong tầng tầng ngộ nhận chân thành và nguỵ biện.

Đỗ Minh Tuấn

* Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Nguồn: http://tuanvietnam.net (http://cauduongbkdn.com/f@rums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Ftuanvietnam.net%2F vn%2Fthongtindachieu%2F7466%2Findex.aspx)

nbc
31/07/09, 07:43 AM
Lý lẽ của ông chủ

Trong dân gian Việt Nam có câu chuyện vui kể về một ông quan đi ăn cỗ bị tên hầu ăn hết món ngon nên dọc đường về nhà ông ta dở lý lẽ đạo đức ra hành tên hầu. Tên hầu đi trước ngựa thì ông quát “Láo! Sao mày dám đi trước tao?”. Tên hầu đi ngang ông cũng cáu: “Thằng này hỗn thật! Mày lại dám sánh ngang với ông à?!”. Tên hầu vội lùi lại đi sau ngựa, ông càng cáu: “Thằng mất dạy! Ông là tù hay sao mà mày áp giải ông?”.

Tên hầu ức đến phát khóc nhưng vẫn cố nén giận từ tốn hỏi chủ: “Con đi kiểu gì ông cũng nói, con biết làm thê nào cho ông vừa lòng?”. Lúc ấy, ông chủ mới nói toạc cội nguồn những lý lẽ của ông, rằng: “Tại sao lúc nãy mày ăn tranh cái bánh rán của tao?”

Câu trả lời của ông quan bộc lộ cái tâm thế của ông trong lúc đó, cái tâm thế đã đẻ ra những lý lẽ đưa tên hầu vào ngõ cụt. Thực chất của những lý sự mà ông quan đã đưa ra là ông ta đã luôn thay đổi hệ quy chiếu để liên tiếp đặt tên hầu vào vào vị thế của kẻ có tội.


Ngẫm lại câu chuyện dân gian này, nbc thấy trong quá trình hỏi đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp, nếu không cẩn thận người giảng viên cũng rất dễ sa vào tâm thế của ông quan kia: liên tục thay đổi hệ quy chiếu để chất vấn SV, song có thể không phải để tìm ra chân tướng của sự việc, mà để chứng minh rằng mình (GV) đúng, và SV sai.

Điều này thật tệ hại (cho cả GV và SV), cần phải có đủ "tâm" và "trí" để không sa vào tình trạng ấy.

nbc
31/07/09, 08:07 AM
Giáo dục để thành nhân


Bằng một định nghĩa đơn giản đến bất ngờ nhưng hết sức xác đáng về sự trưởng thành: “Khả năng liên hệ một cách phù hợp với những thực tiễn khác ngoài thực tiễn của cá nhân mình”, Giáo dục vì cuộc sống mở ra cho các nhà giáo, các bậc cha mẹ, các nhà hoạt động xã hội nhận diện cái làm nên sự trưởng thành của một con người không nằm đâu khác ngoài chính bản thân con người...




Đề kiểm tra học kỳ II môn giáo dục công dân lớp 10 ở một trường THPT có các câu hỏi trắc nghiệm như thế này: câu 3: Lương tâm tồn tại ở mấy trạng thái?; câu 7: Yêu đương quá sớm là điều nên tránh thứ mấy trong tình yêu?; câu 12: Nuôi dưỡng và giáo dục con cái là chức năng thứ mấy của gia đình?



Đây là đoạn mở đầu của chuyên đề “Môn giáo dục công dân trong trường phổ thông: Khó, khô và... khổ (http://cauduongbkdn.com/f@rums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fwww.tuoitre.com.vn %2FTianyon%2FIndex.aspx%3FArticleID%3D318831%26Cha nnelID%3D123)” đăng trên tuần báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 21-09, ra ngày 31-5-2009. Những người được hỏi đều cho biết đã bật cười dù không vui chút nào khi đọc qua đoạn văn trên.

Có điều gì không nghiêm túc trong đề kiểm tra này? Thật ra cách ra đề là rất nghiêm túc, nhưng ai cũng bật cười vì từ cách ra đề ấy, thiên hạ nhận ra rằng các môn đạo đức, giáo dục công dân, vốn phải là những môn học của cảm xúc, của trải nghiệm, nhưng hiện nay lại được giảng dạy răm rắp trong nhà trường theo đúng kiểu lý thuyết của một hệ thống khái niệm. Chuyện này giống hệt như thay vì cho con trẻ leo lên yên để tập chạy xe đạp, người lớn lại kỳ công giảng giải cho chúng học thuyết về sự cân bằng!

Nhưng căn bệnh nô lệ kiến thức nào chỉ có ở nước ta! Đọc Giáo dục vì cuộc sống (*), chúng ta sẽ thấy hiện ra một câu chuyện toàn cầu, khi nhân loại thường đánh đồng giữa trí khôn và kiến thức, độc tôn lối giảng dạy lý thuyết đi kèm với việc xem nhẹ những kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống, chăm bẳm đào tạo những năng lực kỹ thuật mà đánh mất các giá trị tinh thần... Các nền giáo dục hiện đang bị điều khiển bởi ước muốn của các bậc cha mẹ.

Người lớn muốn con cái sau này làm gì? Bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, nhà lãnh đạo, nhà khoa học, hoặc sẽ làm vợ của những nhân vật kể trên? “Bởi vì đa số các bậc cha mẹ muốn con mình có được thuận lợi về vật chất, nên hệ thống giáo dục hiện đại được triển khai chủ yếu dựa theo mục tiêu này. Rất ít quan tâm, nếu không muốn nói là không có sự quan tâm, được dành cho việc giúp học sinh sinh viên thành nhân”.

Hai chữ thành nhân, theo cách tác giả J. Donald Walters trình bày trong sách, đòi hỏi “thực hành một hệ thống giáo dục chuẩn bị cho trẻ em có bản lĩnh đối đầu với những thử thách của cuộc sống, chứ không chỉ giúp trẻ có được việc làm hoặc thực hiện những đeo đuổi về mặt trí tuệ”, và “toàn bộ cuộc sống là giáo dục, một nền giáo dục không chỉ giới hạn trong những năm tháng đến trường”. Đó cũng chính là mục đích của tác phẩm được các chuyên gia giáo dục của Mỹ đánh giá là “hiện tượng sư phạm hiếm có” này.

Bằng một định nghĩa đơn giản đến bất ngờ nhưng hết sức xác đáng về sự trưởng thành: “Khả năng liên hệ một cách phù hợp với những thực tiễn khác ngoài thực tiễn của cá nhân mình”, Giáo dục vì cuộc sống mở ra cho các nhà giáo, các bậc cha mẹ, các nhà hoạt động xã hội nhận diện cái làm nên sự trưởng thành của một con người không nằm đâu khác ngoài chính bản thân con người, với bốn công cụ: năng lượng thể chất và sự tự kiềm chế bản thân (1), sự bình ổn cảm xúc và tình cảm mở rộng (2), sức mạnh năng động và sự kiên trì của ý chí (3), trí tuệ sáng suốt và thực tế (4).

Sự phát triển của một con người phụ thuộc vào sự phát triển toàn vẹn và hoàn thiện của cả “công thức” bốn mặt trên, không được bóp méo hay thổi phồng một mặt nào. Và bằng cách chỉ ra các giai đoạn trưởng thành của trẻ với những năm tháng đặt nền móng, những năm phát triển tình cảm, ý chí, tư duy, Giáo dục vì cuộc sống bàn đến chương trình học trong nhà trường, gợi ý về việc nhân bản hóa cách giảng dạy từ toán, lịch sử đến cả ngoại ngữ. Cuốn sách đề xuất mô hình những ngôi trường mang tên Ananda, theo tiếng Phạn, đó là niềm vui.

Giáo dục vì cuộc sống còn là một cuộc đối thoại về nghệ thuật sống dành cho mọi người, xứng đáng xếp chung ngăn sách với Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường, Hành trình nội tại của Osho, dù đó không phải là mục đích chính của tác giả - một nhà giáo, nhà văn, nhà thuyết giảng, nhà hoạt động xã hội, nhà soạn nhạc, và một nhiếp ảnh gia, trong tác phẩm này.

DUYÊN TRƯỜNG

(*) Giáo dục vì cuộc sống - chuẩn bị cho trẻ em bản lĩnh để đối đầu với những thách thức trong cuộc sống. J.Donald Walters, Hà Hải Châu dịch, NXB Trẻ, 2009.


Nguồn: TuoiTre Online

boulder
31/07/09, 04:49 PM
Chào thầy,

Em thấy những bài báo thầy sưu tầm có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống hiện nay, là một trong những thách thức rất lớn và nỗi trăn trở của những trí thức thực thụ của xã hội. Nhưng liệu những thách thức ấy, những trăn trở ấy có phải tự nhiên mà nó phát sinh hay không? hay là do chính con người chúng ta tạo nên một cách cố ý và vô tình?

1. Về thực tại của cái danh, học vị, học hàm, chức vụ chính quyền, chức vụ về Đảng thì đều do xã hội ta tạo nên cả. Hiện nay, đúng như những bài báo đã nói, khi giới thiệu một người là phải giới thiệu đầy đủ tất cả các chức danh, học vị, học hàm và chờ đến dài cái cổ mới nghe thấy cái tên. Tuy nhiên, việc giới thiệu này có khi nào là bắt buộc không? có khi nào là không cần không?
+ Theo em thấy là hầu hết hiện nay khi giới thiệu đều dùng đến nó và hình như điều đó là bắt buộc thì phải. Nếu không giới thiệu thì người ta sẽ không biết người được giới thiệu là ai cả, học hành ra sao, có quyền lực gì không? Và một điều quan trọng hơn với những người được giới thiệu là thấy rất oai thì đúng hơn.
+ Và một lý do nữa là khi giới thiệu đều là lính hết, nếu giới thiệu sếp mình mà chỉ giới thiệu cụt ngủn cái tên không thì có mà "hết đường sống" rồi ấy chứ.
Thế này chính là do xã hội ta đã quá trọng chức quyền, bằng cấp nên phải làm như thế thôi thầy ạ. Thử hỏi, nếu trong một hội đồng bảo vệ đề tài khoa học này nọ, khi giới thiệu cụt ngủn cái tên không thì sao nhỉ? Thì lập tức những người không biết sẽ nói ngay rằng: "ông này chẳng có tiến sĩ, giáo sư gì hết mà cũng ngồi đây bảo vệ, không biết trình độ của ổng tới đâu đây". Hoặc là đơn giản hơn, khi giới thiệu một thầy hiệu trưởng đứng lên phát biểu, có ai dám giới thiệu là thầy ... gì đó không? hay là phải giới thiệu đầy đủ là GS. TS. Bí thư Đảng ủy nhà trường ....sẽ có vài lời phát biểu với chúng ta??? ---> Cho nên vô hình trung, đôi lúc chúng ta cũng là những người tạo ra cái thói quen đó phải không thầy?

2. Về chữ DANH, xã hội hiện tại của chúng ta là một xã hội trọng danh dự, trọng bằng cấp mà.
+ Nếu một người đủ trình độ, kinh nghiệm và bản lĩnh để làm lãnh đạo mà không có bằng TS, thử hỏi có được cơ cấu làm lãnh đạo hay không? Ngược lại, nếu muốn bổ nhiệm một vị trí từ cấp trưởng khoa trở lên, trưởng phòng trở lên trong cơ chế hành chính sự nghiệp nhà nước. Có thể không cần bằng TS nhưng nếu không có Đảng thì PA25 cũng không chấp nhận đâu. Đó âu cũng là đặc trưng của chế độ XHCN.
+ Thêm một ví dụ nữa, khi một người viết một bài báo để đăng lên tạp chí khoa học có danh tiếng. Cho là chất lượng bài viết rất tốt, nếu giả sử tác giả bài viết đó chỉ để mỗi họ tên và cơ quan công tác, liệu bài viết đó được đăng hay là phải chờ một thời gian khá dài mới có phản hồi từ Ban biên tập. Ngược lại, nếu để tên tác giả là TS hoặc GS.TS ... thử xem thế nào?
+ Và bằng cấp thì sao, nếu như không có bằng đại học chính quy, bằng cao học, bằng TS thì đừng có mơ sẽ có một việc làm tốt trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước. Em thấy như FPT rất hay, làm việc theo kiểu của Microsoft, không quan tâm đến bằng cấp, nếu phỏng vấn ok và làm việc có hiệu quả thì thu nhận và có lương cao. Sau một thời gian nếu thi level lên được thì tăng lương và không quy định bất kỳ một thời gian cụ thể nào. Nếu ai muốn làm lãnh đạo thì phấn đấu đến một mức level nào đó sẽ làm được. Đấy là cái dở của nhà nước.
---> Thử hỏi, nếu như chúng ta làm việc trong môi trường nhà nước mà muốn phấn đấu cho sự nghiệp thì phải làm sao? Thì phải có bằng cấp, có Đảng, có nằm trong quy hoạch. Không gì khác ngoài cải Danh, hư là thực mà thực là hư.

PS. Thưa thầy, còn nhiều điều em muốn viết nữa, những cái nhức nhối của riêng bản thân và những cái đã từng chiêm nghiệm của bản thân. Hẹn ở lần khác ạ. Em cũng còn nhỏ tuổi, chiêm nghiệm cuộc đời chưa nhiều, nếu có quan điểm nào sai lệch thì mong thầy uốn nắn giúp ạ. Tks in advance.

nbc
05/08/09, 11:27 AM
Bài viết sau đây được thực hiện từ năm 2006, nhưng có lẽ cho đến thời điểm này, tình hình cũng chẳng sáng sửa hơn được bao nhiêu, mà có khi còn "tối" thêm vì đầu tư làm đường mới vẫn diễn ra khá đều đặn, nhưng phân bổ nguồn vốn cho công tác bảo trì đường xá thì không tăng theo kịp với tốc độ kia.

Thiếu kinh phí bảo trì đường bộ: Căn bênh không thuốc chữa?

08:34' PM - Thứ tư, 01/03/2006

Năm nay kinh phí cho bảo trì đường bộ chỉ đáp ứng được gần 50% nhu cầu.

Những năm trước, kinh phí cấp cũng rất thấp và những năm tới đây có lẽ tình hình cũng không khá hơn.

Bao năm qua, các giải pháp đề ra để giải quyết nguồn tài chính ổn định và lâu dàicho bảo trì đường bộ, đều không khả thi.

Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Nhu cầu vốn cho công tác quản lý bảo trì đường bộ". Theo Đề án này, với toàn hệ thống trên 17.000 km quốc lộ các loại, nhu cầu kinh phí cho 1 năm công tác quản lý và bảo trì là 2.962 tỉ đồng (Tính từ 2004 về trước là 2.062 tỉ đồng/năm.

Từ 2005, các đường mới được cải tạo nâng cấp, xây dựng mới trong đó có gần 1.000km đường Hồ Chí Minh, sẽ đến chu kì phải sửa chữa định kì, kinh phí tăng lên là 900 tỉ đồng/năm).

Mặc dù ghi nhận nhu cầu vốn cho bảo trì đường bộ là như vậy, nhưng năm 2005, tổng nguồn vốn kế hoạch được cấp, kể cả bổ sung cho bảo trì đường bộ là 1.001,625 tỉ đồng. Số kinh phí này chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu thực tế.

Để đảm bảo giao thông, Cục ĐBVN tập trung giải quyết các nhu cầu đột xuất cấp bách như khắc phục các điểm đen, cầu yếu, hậu quả bão lũ, bảo đảm ATGT. Dù vậy, khối lượng đã thực hiện cũng vượt so với kế hoạch vốn trên 40 tỉ đồng.

Năm 2006, theo thông báo kế hoạch vốn của Bộ Tài chính và Bộ GTVT vừa công bố, kinh phí cho quản lý, bảo trì đường bộ được phân bổ 1.671,46 tỉ đồng.

Theo ông Đoàn Văn Tiến - Phó cục trưởng Cục ĐBVN thì Cục phải trả trên 300 tỉ đồng nợ khối lượng các đơn vị đã thực hiện từ 2004 về trước, tổng kinh phí còn lại cho năm kế hoạch 2006 chỉ còn 1.300 tỉ đồng cũng chưa đáp ứng được 50% nhu cầu bảo trì đường bộ.

2005 và 2006 còn là 2 năm kinh phí được cấp lớn nhất. Theo báo cáo của Cục ĐBVN trong Đề án "Nhu cầu vốn cho công tác quản lý bảo trì đường bộ" trình Thủ tướng Chính phủ, thì thực tế qua các năm từ 1993-2002, nguồn vốn sửa chữa đường bộ được cấp quá thấp.

Nếu trừ nguồn kinh phí duy tu sửa chữa thường xuyên hàng năm, số kinh phí còn lại cho công tác sửa chữa định kì (gồm sửa chữa vừa và sửa chữa lớn) chỉ thực hiện được khối lượng rất thấp so với khối lượng cần được sửa chữa theo chu kì.

Năm cao nhất (năm 2001) chỉ đạt 17,7% khối lượng cần được sửa chữa. Năm thấp nhất (năm 2000) chỉ đạt 12% khối lượng cần sửa chữa theo chu kì. Đó là chưa tính phần khối lượng xây dựng cơ bản.

Các đơn vị sửa chữa và bảo dưỡng đường bộ cho biết: Sửa chữa định kì, theo quy trình thì cứ định kì 5 năm/lần tiến hành sửa chữa vừa và 15 năm/lần sửa chữa lớn đường loại bêtông nhựa; hoặc 4 năm/lần sửa chữa vừa và 12 năm/lần sửa chữa lớn loại đường đá nhựa thấm nhập v.v... Song nhiều tuyến quốc lộ quan trọng cũng phải đến 2-3 chu kì mới có thể sửa chữa định kì một lần.

Tuyến QL21 từ ngày đầu tư xây dựng mới đến vừa qua là trên 30 năm mới có thể tiến hành sửa chữa lớn, mà cũng chỉ triển khai được trên một phần tuyến đường.

Công tác bảo dưỡng thường xuyên cũng chỉ có thể đảm bảo những hạng mục cốt tử nhất là vá lấp ổ gà, khơi thông cống rãnh, phát quang mở rộng tầm nhìn, sơn lại vạch sơn, bổ sung cọc tiêu biển báo.

Trong khi Tiêu chuẩn kĩ thuật bảo dưỡng thường xuyên đường bộ 22 TCN 306-03, Định mức bảo dưỡng thường xuyên đường bộ quy định rất cụ thể tới 33 hạng mục công việc (đối với đường bê tông nhựa 7 mét).

Không có đủ tiền dành cho bảo trì đường bộ có nghĩa là công tác bảo trì đường không được thực hiện kịp thời, không đúng chu kì, khiến cho việc đi lại kém thuận lợi, kém an toàn và làm cho đường chóng hư hỏng xuống cấp.

Thiếu tiền cho bảo trì đường còn có nghĩa là chồng chất thêm gánh nặng cho việc đầu tư xây dựng mới, vốn đã rất khó khăn do đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn.

Nói về vốn cho bảo trì đường bộ, thì đa số các nước trên thế giới đều không sao có đủ tiền cho công tác này nếu chỉ trông vào ngân sách Nhà nước cấp hàng năm.

Thêm nữa, là nguồn chi ngân sách luôn không ổn định vì phải phụ thuộc vào thu ngân sách hàng năm. Đa số các nước đã đi đến giải pháp chung là thành lập Quỹ bảo trì đường bộ.

Quỹ này có thể tập hợp nhiều nguồn thu: Phí sử dụng đường bộ, phí đường bộ thu qua giá xăng dầu, thu qua giá săm lốp, thu từ trông giữ xe, từ đấu thầu quyền thu phí đường bộ v.v... tuỳ theo chính sách cụ thể của từng quốc gia. Mục đích của quỹ là sử dụng chi riêng cho bảo trì đường bộ, nhằm đảm bảo nguồn tài chính ổn định và lâu dài cho công tác quản lý, bảo trì đường bộ.

Vì hệ thống đường bộ được coi là một tài sản khổng lồ có sinh lãi. Việc đầu tư đầy đủ cho quản lý và bảo trì được coi là một công việc kinh doanh nhằm bảo toàn vốn và sinh lời, nên được tính toán khoa học và thực hiện tốt.

Trên thế giới hiện có khoảng trên bảy chục quốc gia đã thành lập Quỹ này. CHDCND Lào, năm 2003 vừa qua cũng đã đưa vào vận hành Quỹ bảo trì đường bộ. VN từ những năm 1996 đã đặt vấn đề sớm thành lập Quỹ bảo trì đường bộ. Từ đó đến nay, vấn đề được nhắc lại 2-3 lần nữa.

Song theo Cục ĐBVN, cả năm 2005 việc thành lập Quỹ này không được bàn thảo đến và không biết là VN bao giờ sẽ thành lập, thậm chí có thành lập Quỹ này nữa hay không.

Trong khi đó, một số kế hoạch tìm nguồn vốn cho bảo trì đường bộ như nhượng quyền thu phí các quốc lộ, đã không thực hiện được, và đường bộ vẫn tiếp tục hết năm này đến năm khác thiếu trầm trọng kinh phí bảo trì.

Ph.D


Nguồn: http://www.giaothongvantai.com.vn (http://cauduongbkdn.com/f@rums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fwww.giaothongvanta i.com.vn%2FDesktop.aspx%2FNews%2FTin-noi-bat%2FThieu_kinh_phi_bao_tri_duong_bo_Can_benh_kho ng_thuoc_chua%2F)

nbc
12/08/09, 05:44 PM
Nguyên Phó Thủ tướng chỉ ra khuyết điểm công tác cán bộ


Cập nhật lúc 06:36, Thứ Tư, 12/08/2009 (GMT+7)
,
Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh chỉ ra những khuyết điểm trong công tác cán bộ: quan niệm không rõ về tranh luận dân chủ, không tôn trọng người trẻ, coi nhẹ chuyên gia, không ưa những người có tài trội hơn mình, thiên vị với người thân, thành kiến, gạt bỏ những người có quan niệm, ý kiến trái với mình...

"Đức" thể hiện ở dân chủ

Lịch sử chứng minh rằng: Ở mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc, nếu không có những nhân tài - người vừa có đức vừa có tài ở tầm quốc gia và ở cơ sở - thì không có sự phát triển, không có tiến bộ xã hội. Không có những nhân tài ở tầm quốc gia nắm trọng trách lãnh đạo, quản lý nhà nước, thì đất nước dậm chân tại chỗ, hoặc thụt lùi, sa sút. Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài là nội dung quan trọng nhất trong công tác cán bộ của Đảng, của từng đảng bộ, từng cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành.


[/URL][URL="http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200908/original/images1844048_0.jpg"]http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200908/original/images1844048_0.jpg (http://cauduongbkdn.com/f@rums/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fimages.vietnamnet. vn%2Fdataimages%2F200908%2Foriginal%2Fimages184404 8_0.jpg)
Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh (trái) giờ giải lao một phiên họp của Đoàn chủ tịch UBTƯMTTQVN. Ảnh: VA

Thế nào là đức? Theo tôi, đức hiểu theo hai phạm trù: Đạo đức của người công dân và đạo đức của người lãnh đạo. Đạo đức của công dân, con người Việt Nam được thể hiện ở phẩm chất giàu lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, sống trong sáng, làm điều thiện...

Đạo đức của người lãnh đạo không chỉ bao gồm đạo đức công dân, mà còn phải bao gồm cả đạo đức của người lãnh đạo - đạo đức cách mạng.

Điều đó thể hiện trước hết ở trung thành với lý tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Trung thành nhưng không thụ động, giáo điều, bảo thủ, trì trệ, né tránh khó khăn, ngại những thay đổi tiến bộ có lợi cho cách mạng, cho Đảng, cho dân. Như vậy, nội dung đức của người cán bộ, người lãnh đạo có thay đổi, có khác nhau trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau. Đức còn phải thể hiện ở trung thực, dân chủ trong công tác cán bộ và trong công tác lãnh đạo.

Thế nào là tài? Theo tôi, tài phải hiểu theo yêu cầu của vị trí công tác. Cán bộ chuyên môn, thực hành cần giỏi về kỹ thuật, kỹ năng. Cán bộ lãnh đạo chính trị, tham mưu, tư vấn ở cấp đề ra đường lối, chính sách ở loại công việc về lao động trí óc cần có năng lực tư duy, tổng hợp, năng lực khái quát, trừu tượng hóa.

Trong một người, đức và tài không tách biệt mà hòa quyện chặt chẽ. Tuy nhiên, không ít người đức mỏng hơn tài hoặc ngược lại. Nhưng đã lựa chọn người làm cán bộ lãnh đạo, quản lý thì phải có đức, tài tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Nếu không, sẽ hỏng cả cán bộ và thiệt hại cho Đảng, cho dân.

Thiếu đức, kém tài, bố trí lãnh đạo làm gì?

Nếu thiếu đức và kém tài thì sao gọi được là cán bộ lãnh đạo, bố trí vào vị trí lãnh đạo để làm gì? Hiện tượng chảy máu chất xám đang nhắc nhở chúng ta về việc trọng dụng người có đức, có tài. Đồng thời, nguy cơ tụt hậu xa hơn, cả về kinh tế và xã hội, cũng nhắc nhở chúng ta, nhắc nhở Đảng ta về vấn đề cốt tử này.

Trong việc phát hiện và bồi dưỡng, sử dụng nhân tài ở nước ta thời gian qua không ít khuyết điểm. Có nhiều nguyên nhân, trong đó các nguyên nhân chủ quan cần đặc biệt chú ý đến:

Nguyên nhân về nhận thức, quan niệm không đúng, không đầy đủ về đức và tài, về người có đức, người có tài trong các thời kỳ lịch sử khác nhau; định kiến, thành kiến về thành phần giai cấp, thành phần xuất thân, về cơ cấu thành phần địa phương trong cơ quan lãnh đạo, quan niệm máy móc, khắt khe về lối sống, cách sinh hoạt của cá nhân; quan niệm không rõ về giữ gìn đoàn kết nội bộ và thảo luận, tranh luận dân chủ, thẳng thắn trong tổ chức; không tôn trọng người còn trẻ chưa có kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý; chú trọng cán bộ lãnh đạo, quản lý, coi nhẹ chuyên gia, cán bộ nghiên cứu, coi trọng kinh nghiệm hơn tri thức khoa học...

Nguyên nhân về tư tưởng của những cán bộ trong cơ quan lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị như: đố kỵ, kèn cựa, không ưa những người có tài trội hơn mình, thiên vị với người thân, thành kiến, gạt bỏ những người có quan niệm, ý kiến trái với mình... Những biểu hiện về nhận thức và về tư tưởng thường có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Những yếu kém, khuyết điểm tạo một thực trạng nghịch lý là lực lượng cán bộ của Đảng và Nhà nước ta rất phong phú, nhân tài không ít mà trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý lại thiếu hụt cán bộ tài năng.

Từ nhận thức và tư tưởng không đúng, không rõ dẫn đến những sai lệch về phương pháp: Lựa chọn để phát hiện cán bộ một cách hình thức qua phiếu tín nhiệm trong khi chưa chuẩn bị tốt về tư tưởng cho những người được hỏi ý kiến và bỏ phiếu, cán bộ lãnh đạo không tìm hiểu kỹ lưỡng qua tiếp xúc trực tiếp, thu hẹp nguồn đối tượng lựa chọn vào những cán bộ đã ở cơ quan lãnh đạo, quản lý kế cận; thiếu phương pháp khoa học và tinh thần dân chủ trong việc nhận xét, đánh giá hiệu quả công tác, chế độ trách nhiệm và thẩm quyền giữa tập thể và cá nhân không rõ, làm cho khó thấy rõ người giỏi; áp dụng máy móc tiêu chuẩn về trình độ học vấn, bằng cấp, qua trường lớp quy định...
Những yếu kém, khuyết điểm về nhận thức, tư tưởng và phương pháp đã hạn chế kết quả phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng những người có đức, có tài trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tạo một thực trạng nghịch lý là lực lượng cán bộ của Đảng và Nhà nước ta rất phong phú, nhân tài không ít mà trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý lại thiếu hụt cán bộ tài năng. Điều này dẫn đến nguy cơ làm giảm khả năng cạnh tranh và kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.

Trong cơ chế phát hiện người có đức, có tài, không nên thu hẹp đối tượng phát hiện chỉ trong phạm vi những cán bộ đã và đang công tác ở vị trí chức vụ gần sát với yêu cầu sử dụng đề bạt. Cần mở rộng nguồn phát hiện, tới những cán bộ xuất sắc, có triển vọng ở cấp dưới nữa, và rất coi trọng phát hiện trong những cán bộ, chuyên viên nghiên cứu giỏi.

Phát hiện nhân tài cần có quan điểm đúng về thành phần giai cấp, thành phần xuất thân, không định kiến, không máy móc, cứng nhắc, ấu trĩ.

Cần đặc biệt nhấn mạnh khả năng và trách nhiệm của bí thư cấp ủy, của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phát hiện, giới thiệu nhân tài. Theo quan niệm của tôi, một trong những điểm thể hiện trách nhiệm và tài năng của bí thư đảng, của người đứng đầu cơ quan là thấy được, phát hiện được và giới thiệu được nhân tài - cán bộ giỏi, đức độ để làm cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.

Lập hội đồng tư vấn

Sau khi có cơ chế phát hiện nhân tài để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng, cần thành lập một bộ phận tại Ban Tổ chức Trung ương để nghiên cứu, theo dõi sâu việc thực hiện các quy định trong cơ chế.

Cần cân nhắc kỹ việc thành lập Hội đồng tuyển chọn người có đức, có tài để bố trí vào các cơ quan lãnh đạo quản lý của Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Đây là Hội đồng tư vấn hay Hội đồng có thẩm quyền quyết định tuyển chọn?

Ở một vài nước, Hội đồng tuyển chọn nhân tài có quyền hạn rất lớn, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu nhà nước (tổng thống hoặc thủ tướng). Theo thể chế quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay, hình thức này không phù hợp.

Nên lập những Hội đồng tư vấn tuyển chọn cán bộ tài năng, giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng hoặc Ban Tổ chức Trung ương xem xét, thẩm định những trường hợp cụ thể. Chỉ nên lập những Hội đồng tư vấn này khi cần thiết, không phải là cơ quan tư vấn thường xuyên.

Thành phần các Hội đồng này là những cán bộ có uy tín, có hiểu biết rộng, không nên có thành viên là lãnh đạo đương chức của cơ quan, tổ chức cần tuyển chọn cán bộ.

Nguyễn Khánh
Ủy viên Đoàn chủ tịch UBTƯMTTQVN
Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng

Nguồn: VietNamNET

nguyenlan
12/08/09, 09:46 PM
Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

Những năm gần đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ và nhiều nước khác, bằng nhiều con đường khác nhau. Người có học bổng, chức trợ giảng (teaching assistant - TA), hoặc trợ nghiên cứu (research assistant - RA), người thì du học tự túc. Tôi không nhớ chính xác là đã đọc ở đâu đó rằng có hơn nghìn du học sinh mỗi năm sang Mỹ. Nhiều người trong số họ theo học tiến sĩ (Ph.D).

Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.

Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: "tại sao lại học Ph.D?", "có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?", "làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?", "tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?", "học Ph.D xong rồi làm gì?", vân vân.

Có lẽ ta cần một luận án ... Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).

Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và "hành nghề" Ph.D ở Mỹ.



Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.

Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.



1. Ph.D là gì ?


Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19. (Ơ Y' cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)

Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là "thầy" (teacher), và "chuyên gia", "chức trách" (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Ảu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.

Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.

Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi "hành nghề" một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.

Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.

Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng "nhai lại": đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).

Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?



2. "Nghề" Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai


Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ "nghiên cứu sinh" vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mài mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.

Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi "có đáng không?" Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và ... philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.

Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).

Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi ... gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, ...), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.

Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời "ở mãi kinh kỳ với bút nghiên", ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: "về hay ở", "về thì đâm đầu vào đâu?". Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.

Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. "Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng".

Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.

Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.

(Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa . Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students.)

Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man vềđề tài "định trị Ph.D" sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại "giỏi, khá, trung bình" (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi "định trị Ph.D" của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, ...

Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.

Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.

Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng ... "bổ củi". (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)

Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.

Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là "dỏm" hay "xịn". Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm "lọt lưới" cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.

Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.

Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.

Tóm lại, công việc "định trị Ph.D" hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!

Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.

(Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu "cạnh tranh khắc nghiệt" khác.)

Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

3. Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?
Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:


a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.
b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.
c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.
d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.
e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.
f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.
g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.
h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.
i) Ðể thay đổi thế giới quan.
......
z) Tất cả các lý do trên.

Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?

Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.

Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.

Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: "đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn" (Don't let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.

Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.

Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.

Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định "giảng đạo" về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ "hám bằng cấp" hay "oai oách" là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích "tiếng tăm" cũng vậy. "Học giỏi", theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và "nhai lại" những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo - khả năng sống còn của Ph.D.

Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê". Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì "xã hội cần nó", hay "nó kiếm ra tiền".

Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.

Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.

Ðấy là nói về "động lực" học Ph.D. Thế còn "khả năng" thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi "ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?"

Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

4. Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý
Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một "trạng nguyên" vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.

Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là "thành nhân"? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có "đóng góp" nhiều hơn cho xã hội, hay ai "hạnh phúc" hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa "tôn trọng tri thức" và "hám bằng cấp".

Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.

Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm "hy vọng" của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

5. Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu
Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. "Nghề" Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.

Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi "con đường đau khổ" này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!

Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.

Thứ bảy, 29 tháng 11, 2003.
NQH.

huuthoqt1984
12/08/09, 10:12 PM
...

Trách nhiệm đương nhiên là quan trọng nhưng quan trọng hơn là làm thế nào để người thực tài có thể được trọng dụng?
Theo tôi, chính sách trọng dụng nhân tài không nằm ngoài ba mặt. Thứ nhất, đưa những người có thực tài vào những vị trí xứng đáng, tạo điều kiện tối thiểu về khoa học và đời sống để họ yên tâm làm việc. Sử dụng nhân tài phải đúng như chính sách đã ban hành: Không phân biệt người đó là Đảng viên hay là người ngoài Đảng. Thứ hai, kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai. Thứ ba, các cơ quan đầu não quốc gia phải là tấm gương quy tụ những người có thực tài của đất nước. Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực.
....

http://trannhuong.com

Đọc các bài viết trên Topic này, bản thân tôi thấy tâm đắc với ý kiến trên của nhà văn, nhà báo Phan Quang. Nhưng có lẽ đây chỉ là ý kiến riêng của ông, cũng như một số không nhiều các nhà tri thức khác, và có lẽ đó cũng chỉ là một ý kiến nên chúng ta cũng không nên hy vọng nhiều vào tính thực tiễn của nó.

"... Không phân biệt người đó là Đảng viên hay là người ngoài Đảng ..."
Với tình hình, cơ chế như hiện nay thì điều trên có khả năng thực hiện được trong các cơ quan, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, nước ngoài mà thôi. Đối với cơ quan, ban nghành, doanh nghiệp nhà nước nếu không là Đảng viên thì đừng bao giờ mong được trọng dụng.

"... kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai..."

Với cơ chế như nước ta hiện nay, liệu một người đã có chức, có quyền, có địa vị, học vị cao (mặc dù theo năng lực thì không thể) có thể dể dàng bị đuổi khỏi cương vị hay không? Hay sợ vị này có mối liên hệ quá "rắc rối" cuối cùng lại thôi, hòa cả làng?

" ...Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực..."

Bịt lối đi tắt, có lẽ đây là một ý kiến hay. Nhưng không biết ai, cơ quan nào, ...có đủ khả năng để bịt nó đây, hay bịt chổ này lại để trống chổ khác?! Không cần nói ra chắc mọi người cũng đều có thể dể dàng nhận thấy một quy luật hiện nay là:
Người có (nhiều)tiền thì quyền năng nằm trong tay họ, còn người có quyền thì không thể không nhiều tiền.
=> Như vậy quyền và tiền rất ít khi tách rời nhau.

P/S: Tôi không biết ở các nơi khác thế nào chứ ở tỉnh tôi, chỉ nói đến ngành Giao Thông có một nguyên tắc chung:
NGƯỜI CÓ QUYỀN + NGƯỜI CÓ TIỀN = LIÊN DOANH CHIA CHÁC THẶNG DƯ
Những điều trên là nhìn nhận riêng của bản thân, có thể có người cho rằng tôi bi quan, nhưng không. Tôi vẫn lạc quan bước trên con đường mà tôi đã chọn

nbc
24/08/09, 04:28 PM
Một nhà máy đường, một trường đại học


Câu trên đây không phải nói cho có vần có vè mà là phản ánh thực trạng đã và đang diễn ra ở hầu hết các tỉnh, đặc biệt là ở miền Trung. Mang tư duy theo lối “cả nước có gì thì mình có nấy” nên nhiều tỉnh chạy đua để có nhà máy đường trước đây và trường đại học hiện nay.

Nhà máy đường với kết cục của nó ra sao hẳn mọi người đều biết. Nhà máy đường Quảng Bình thì bán xới hai năm rồi, Nhà máy đường Quảng Nam thì trở thành đống sắt từ bốn vụ mía qua; đến như Quảng Ngãi từng được xem là vựa mía của cả nước mà một nhà máy đường của tỉnh này cũng phải tháo dỡ chuyển lên huyện An Khê tỉnh Gia Lai để “lánh nạn”! Vì sao? Vì tất cả đều chăm chắm vào việc xây nhà máy chứ hoàn toàn không mấy quan tâm đến việc hình thành vùng nguyên liệu bền vững. Khi xây xong nhà máy đường thì cũng là lúc không biết lấy gì ép! Nguyên liệu mới là yếu tố quan trọng nhất để nhà máy đường tồn tại. Rất tiếc là những nhà quản lý các tỉnh lại không quyết liệt với vấn đề mấu chốt này.

Nếu như 10 năm trước, tỉnh nào cũng rộ lên chuyện xây nhà máy đường thì ba năm qua đã “chuyển hệ” sang xây trường đại học. Các tỉnh miền Trung hiện nay coi như cơ bản đã “phủ sóng” xong hệ thống trường đại học cho “tỉnh nhà”. Tỉnh thì nâng cấp từ trường cao đẳng, tỉnh thì xây hẳn trường đại học “nguyên đai nguyên kiện”. Các trung tâm lớn như Huế, Đà Nẵng hay Quy Nhơn chỉ cách các tỉnh cận kề không đáng là bao, thế nhưng, thay vì tập trung nâng cấp cơ sở vật chất các trường đại học tại các trung tâm này thì Bộ Giáo dục - Đào tạo lại bật đèn xanh để các tỉnh lân cận đua nhau thành lập trường đại học!

Cũng như xây nhà máy đường, các tỉnh hầu như chỉ chú trọng đến việc xây trường, còn chất lượng đào tạo thì không được quan tâm đúng mức. Các chỉ số từ kỳ tuyển sinh vừa qua đã phản ảnh một thực tế quan ngại về chất lượng “đầu vào” của các trường đại học thuộc các tỉnh lẻ. Đại học Phú Yên có 784 thí sinh dự thi thì chỉ có hơn 1,5% đạt 15 điểm (ba môn), nghĩa là chỉ khoảng trên 10 em! Trường Đại học Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) có 2.418 thí sinh dự thi nhưng chỉ có 232 thí sinh từ 13 điểm trở lên, thiếu 168 chỉ tiêu. Có ngành như tiếng Anh, gần 400 thí sinh dự thi nhưng chỉ có 5 thí sinh đạt điểm sàn! Đại học Quảng Nam, chỉ tiêu 550, số đủ điểm sàn là 274. Để lấp đầy chỗ trống trên đây, các trường gần như mở toang cửa để đón thí sinh nhưng sẽ rất khó khăn. Vì sao? Vì như trên đã đề cập, chất lượng đào tạo mới là điều quyết định sự tồn tại của một trường đại học. Nhiều thí sinh chấp nhận học ngoài công lập ở các trường đại học tại TP.HCM hoặc Hà Nội hơn là học trường công lập mà ở tỉnh lẻ.

Lấy lý do là tạo điều kiện cho con em trong tỉnh học đại học, song những em khá thì đi nơi khác học, những em muốn học ở quê thì lại không đủ điểm sàn! Hàng ngàn tỉ đồng từ ngân sách nhà nước đã đầu tư vào các trường đại học tỉnh lẻ này chỉ để nhận về một mớ bùng nhùng không lối thoát, trong khi đó, các khu kinh tế rất cần công nhân lành nghề thì tuyển mãi không ra!

Các trường đại học liệu có “nối gót” các nhà máy đường?

Trà Sơn


Nguồn: Thanh Niên Online

nbc
04/09/09, 11:19 PM
Năng lực và bằng cấp

04/09/2009 0:22

Mới đây, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã dành thời gian trả lời trực tuyến những vấn đề giáo dục nước nhà nhân khai giảng năm học mới. Theo thống kê, có đến 2.500 câu hỏi được gửi đến Bộ trưởng và ông chỉ có thể trả lời 30 câu hỏi "đinh" trong số hàng ngàn câu hỏi kia.

Phần lớn các câu hỏi đều xoay quanh chủ đề về chất lượng giáo dục kể từ khi Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nhậm chức đến nay cùng với hàng loạt những thay đổi trong quản lý, điều hành hệ thống giáo dục.
Có lẽ điều mà nhiều người chú ý qua 30 câu trả lời của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân là lời khuyến dụ này: “Các em học sinh cần hiểu rằng năng lực thực sự bước vào đời mới là vốn quý nhất”. Câu này được một vài tờ báo “diễn nôm” ra là “Năng lực thực sự còn hơn cả bằng cấp”.

Thực ra, câu này không mới nhưng chưa bao giờ cũ cả. Bất cứ một nhà lãnh đạo hay một nhà quản lý nào khi đứng trước đám đông cũng đều đề cập đến chuyện năng lực của thuộc cấp mới là chính yếu, còn bằng cấp chỉ để “tham khảo” mà thôi. Tuy nhiên, giữa “quan niệm” và thực tế dùng người là cả một khoảng cách lớn.

Nếu chỉ quan tâm đến năng lực thực sự thì sẽ không có chuyện “chạy bằng” một cách ồ ạt như hiện nay. Bất cứ một nhà tuyển dụng nào thuộc hệ thống nhà nước cũng đều “sơ tuyển” trên hồ sơ trước khi phỏng vấn trực tiếp người dự tuyển. Có thể con người cụ thể ấy, vì một lý do nào đó hoặc chưa được đào tạo bài bản, song bằng con đường tự học, họ đã trở thành những tài năng thực sự, tuy nhiên, ngay từ vòng sơ tuyển, họ đã bị loại rồi. Vì vậy, cái “vốn quý nhất” - tức “năng lực thực sự” - của người ấy đã không có cơ may để phát triển. Vậy thì, ai sẽ là người phát hiện và thẩm định “năng lực thực sự” kia?

Một tiến sĩ tham gia dạy lớp báo chí chưa hẳn đã hay hơn một nhà báo giỏi có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, thế nhưng, khi trả tiền “đứng lớp”, bao giờ ông tiến sĩ cũng được trả nhiều hơn gấp đôi ông nhà báo. Nghịch lý này buộc con người ta phải “chạy” cho bằng được cái tiến sĩ để được “nhận tiền nhiều hơn”. Trong trường hợp này, năng lực thực sự bị đẩy xuống phần phụ, còn bằng cấp ngoi lên đóng vai trò chính. Chúng ta không trách cứ gì những người phấn đấu để có bằng cấp hoặc học hàm, học vị, song tất cả những thứ đó sẽ là phù du nếu như người sở hữu nó chỉ để “giải quyết khâu oai” với đồng nghiệp hoặc kiếm thêm mấy đồng thù lao mỗi khi lên lớp!

Có thể nói rằng vấn đề bằng cấp và năng lực thực sự hiện đang có một độ vênh rất lớn. Bằng thật nhưng năng lực giả, bi kịch đó đang trĩu vai toàn xã hội chứ không riêng ông Bộ trưởng. Người dân đang cần một sự đổi thay thực sự ở tầm vĩ mô, sửa cả “lỗi hệ thống” mới mong thoát khỏi mớ bùng nhùng hiện nay chứ không chỉ dừng lại ở những lời tuyên bố hay khuyến dụ một cách êm tai dễ nghe.

Trà Sơn


Nguồn: Thanh Nien Online

nbc
08/09/09, 10:10 PM
Viết nhân khai giảng năm học 2009-2010


Tôi có cháu gái đằng vợ tên là Thanh Hòa. Từ ngày học mẫu giáo, cháu vốn khoẻ mạnh, cứng cáp và thông minh. Khi cả bọn cùng lứa với kéo nhau lên lớp 1 trường Phan Phù Tiên, quận Thanh Xuân (Hà Nội), Hòa đương nhiên vẫn là đầu đàn, là lớp trưởng.

Gặp nhau năm Hòa lên lớp 2, vẫn với thành tích học tập tốt, vẫn lớp trưởng, qùa thưởng dịp đó rất to. Vui chuyện, hỏi cháu về nhiệm vụ lớp trưởng, Hòa bẽn lẽn: nào hô các bạn đứng dậy chào thầy cô, nào lo trực nhật, lau bảng, nhắc các bạn giữ trật tự trong lớp... nhiều lắm!

- Thế khi gặp các bạn ẩu đả, nghịch ngợm, chế diễu nhau ngoái lớp thì làm sao?- Bố Hòa hỏi chen vào.

- Thì báo cho cô chủ nhiệm biết, ạ.

- Thế lớp trưởng mắc khuyết điểm, có bạn nào mách cho cô giáo không?

- Có mà dám!

Nghe cháu trả lời, cả nhà nhìn nhau, lặng người, cười.

*

Phương Hiền, con gái tôi, học lớp 2 trường Friedrich-Reimann-Grundschule. Cô chủ nhiệm là bà giáo R.Lipka.

Đã vài lần gặp gỡ nên tại buổi họp phụ huynh đầu năm, từ ngoài cửa, bà đã tươi cười chào: “Lần này, ông có ý kiến gì góp cho lớp đây? Chúng ta có một giờ để trò chuyện cơ đấy!”.

Khi đến lượt trao đổi trực tiếp, tôi hỏi: “Thưa bà, lớp 2A, cháu nào được chọn là lớp trưởng?”(cũng phải nói thêm do khả năng tiếng Đức mà tôi đã dùng từ “lớp trưởng” theo nghĩa hiểu của tiếng Nga, hoặc tiếng Hán Ban trưởng mà người Việt ta lâu nay vẫn hay dùng).

Thoáng một chút trầm ngâm, bà R.Lipka vui vẻ nói: “Tôi nghĩ là tôi đã hiểu câu hỏi của ông. Vì qua Phương Hiền được biết, ông từng là một đồng nghiệp. Lớp chúng tôi không có học sinh nào được chọn làmObmann hay Chef cả. Ở tuổi cấp một, chúng còn qúa bé để phải chịụ thêm trách nhiệm về hành vi của một bạn khác, dù chỉ là nhắc nhở hoặc để ý rồi trình báo với thầy cô. Nếu phải chịu trách nhiệm thêm về một bạn khác, đứa trẻ dễ ngộ nhận nó có thêm quyền lực và ngược lại đứa bị giám sát sẽ có cảm giác yếm thế, lệ thuộc. Tất nhiên chữ “nếu” chỉ là hãn hữu, nhưng dù 1% chúng tôi cũng không cho phép xảy ra. Tôi nhận thêm lương giáo viên chủ nhiệm để chịu tòan bộ trách nhiệm về họat động của học sinh trong thời gian học tại trường. Trong lớp, mọi em đều được cô giáo phân công trách nhiệm với lớp như nhau”.

Rồi bà giáo hơi mỉm cười, hỏi: “Theo ông, khi các vị phu huynh đều đóng phần thuế học cho con bằng nhau, ông có chấp nhận khi con ông bạn hàng xóm tự nhiên lại là “trưởng" của con mình không? Tất cả các vị phụ huynh của chúng tôi đều không chấp nhận, họ đòi hỏi sự công bằng. Mới vào lớp 1, lớp 2 mà đã có đứa được là “sỹ quan”, đứa là “lính” ư? Xin ông nhớ rằng, dù có tạo ra được một thủ lĩnh thì chúng ta đã đồng thời tạo ra một loạt những đứa nhút nhát và a dua, phụ thuộc thủ lĩnh. Đấy là chưa kể đứa trẻ - được tin cậy kia có nguy cơ bị nhiễm thêm thói xấu: nhòm ngó, mách lẻo, chỉ điểm... Giai đoạn đầu giáo dục cấp một, giúp hình thành chứ không nên định hình tính cách của trẻ.

R.Lipka liếc nhìn đồng hồ: “Giải đáp câu hỏi như vậy có đúng ý ông?”.

Tôi thành thật trả lời rằng rất muốn được nghe bà nói tiếp. Bà cười hiền hậu: “Tất nhiên, đề tài này phải có kết luận! Ông nên biết, khi làm đơn xin tiếp tục nghề dạy tiểu học, tôi đã bảo vệ chính đề tài này tại Hội đồng Phổ thông trung học. Tôi hiểu ngay câu hỏi của ông, vì chính chúng tôi cũng đã qua thời kỳ chuyển hoá Đông - Tây về giáo dục!”.

*

Từ năm lớp 5, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm với lớp vẫn nặng nề như thế. Nhưng do học sinh đã lớn lên, cứng cáp hơn, nề nếp sinh hoạt, tư duy đa dạng nên trong tổ chức của lớp có thêm một chức danh là Klassensprecher. (Xin dịch là “Phát ngôn viên của lớp”).

Vì là chức danh nên nhất định Klassensprecher phải do lớp bầu với đa số tín nhiệm (không cần sự có mặt của các thầy cô).

Mọi học sinh trong lớp đều có quyền tự ứng cử họặc vận động bè bạn bỏ phiếu cho mình. Klassensprecher là cầu nối chỉ truyền đạt những thông tin được các bạn nhờ chuyển đến thầy cô hoặc ngược lại, không được truyền những thông tin cá nhân không được nhờ. (Nếu vi phạm bị coi là mách lẻo hoặc xâm phạm đời tư!).

Đề tài “lớp trưởng” tưởng chỉ là một bài học có tính giáo dục, làm thay đổi tư duy bảo thủ của một nhà giáo cổ hủ, giáo điều như tôi.

Không ngờ, 5 năm sau, khi Phương Hiền vào học lớp 7, tôi lại được chứng kiến sự dân chủ, công bằng và rất giáo dục trong môi trường đào tạo của con mình qua đề tài đó.

Đây là cảm xúc chính để tôi kể lại câu chuyện cho bạn đọc hôm nay.

Học kỳ hai của lớp 7B trường trung học chuyên Charles-Darwin-Oberschule (Gymnasium), quận Trung tâm - Berlin.

Chiều nay, Phương Hiền tỏ ra đăm chiêu, ngồi cắm cúi viết. Thấy con bức xúc, tôi hỏi thì được biết: Jonoar phát ngôn viên lớp 7B phải theo mẹ hồi hương về Cu-ba nên lớp cần bầu một người thay thế. Đã có ứng viên là Magir - một bạn gái da mầu gốc Phi. Magir thành thạo tiếng Pháp - môn ngoại ngữ thứ hai mà nhiều bạn học còn yếu. Magir có năng khiếu bẩm sinh về hoạt động thể dục thể thao. Lời cam kết trước các bạn khi đề nghị bỏ phiếu cho mình của Magir là "Tôi sẽ liên hệ để có sự giúp đỡ của cô giáo dạy tiếng Pháp. Mỗi tuần lớp sẽ có một buổi hội thoại chủ đề Pháp ngữ tại Thư viện quận Trung tâm. Năm nay, trong tuần ngoại khóa, nếu các bạn ở lớp đồng tình, được cô chủ nhiệm chấp nhận, lớp sẽ chọn Paris là địa điểm đi tham quan dã ngoại giáo dục. Tôi xin chuẩn bị đề cương tham quan bằng tiếng Pháp và in gửi trước cho các bạn. Bản thân tôi cam kết sẽ hợp tác với các bạn trong lớp, nâng điểm tóan lên 2,5 để điểm trung bình các môn của tôi trong năm là 2,5. Ngoài ra, về thể dục thể thao, tất nhiên học kỳ này, lớp ta phải có một tờ thông báo nóng hổi WM 2006 tại Đức".

Đọc tờ rơi cam kết của ứng viên, tôi hỏi con gái:

- Magir như vậy, Phương Hiền sẽ thế nào?

- Con thích được thử sức. Trường con chưa có bạn người Việt nào nhận chức danh này. Nhiều bạn trong lớp đề cử con. Chúng nó bảo con cần viết Rede Wahl versprechen (lời cam kết của ứng viên chức danh phát ngôn viên).

- Tự con đánh gía về mình thế nào?

- Con tự tin. Con có học lực tốt nên có thể giúp đỡ được nhiều bạn về môn Toán, Đức văn, Điạ lý, Anh văn.

Còn môn lịch sử, con có thể có thêm sự giúp đỡ của bố để giúp lại các bạn.

- Hoạt động ngoại khóa?

- Tất nhiên chọn Paris làm tuần tham quan giáo dục là tuyệt vời. Chính Magir có thể cộng tác với con và các bạn trong nhóm Tây Âu học. Có hai ngày cắm trại dã ngoại, cô giáo rất ủng hộ việc đi chơi mỏ muối Eisenach và thăm nơi Hitler đã cất giấu hàng vạn bức tranh quý của các bảo tàng chúng cướp được trong chiến tranh.

Ngập ngừng một chút, Phương Hiền thổ lộ thêm một “chi tiết tranh cử” làm tôi bật cười: “Bố ạ, cả lớp con bỏ phiếu kín về món ăn khoái khẩu nhất - 83% phiếu kín khi mở ra ghi là “PHO”. Các bạn sẽ góp tiền, nhờ bố giúp con, nói chú Hoàng chuẩn bị trước, một hai lần vào thứ 7 nào đấy, cả lớp đến ăn. Sẽ rất vui phải không bố?

Chuyện “lớp trưởng” đã đến đoạn kết. Hình ảnh các ứng viên tổng thống Mỹ dốc hết trí tuệ (kéo theo cả vợ con) để thu phục nhân tâm cử tri Mỹ trong các chiến dịch tranh cử cam go, công bằng cứ hiện lên trong óc tôi.

Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder... cho đất nước? Lớp 7B của con gái tôi, liệu mai này có ra đời những thủ lĩnh chân chính từ Klassenspecher?

*

Cháu gái Thanh Hòa kể cả mẫu giáo - đến nay đã 11 năm làm lớp trưởng. Tôi thầm hỏi tương lai của “lớp trưởng chuyên nghiệp” sẽ ra sao? Có “nghề lớp trưởng” rồi, sẽ giúp cho cháu gái tôi có được lợi thế gì khi các kỳ thi sắp tới?!





Trần Đình Ngân (Đức)


Nguồn :Vietnamnet

eveningstar
17/09/09, 09:47 AM
Bài viết của TS. Phan Trung Hiền đăng trên thời báo Kinh Tế Sài Gòn cũng đáng cho chúng ta phải suy ngẫm.
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/23252/

kungfu
21/09/09, 11:21 PM
Ồ,đã gần 3 tháng rồi mình mới đọc bài sưu tập của thầy nbc,va rất thích,hi vọng là sẽ có một dịp nào đó trong cuộc sống sau này mình lại có cơ hội trải nghiệm và suy ngẫm thêm về bài học thầy đã gởi.Thầy hãy yên tâm rằng sinh viên cầu đường không bao gờ thiếu những tâm hồn trung thực và lãng mạn.Chuyên mục này sẽ luôn bổ ích.Ngoài ra,trong dịp gặp gỡ cuối năm,thầy phnam có khuyên chúng mình đọc sách của Nguyễn Hiến Lê,mình vẫn chưa đọc,nhưng cũng không quên là sẽ đọc.Các bạn cùng hưởng ứng nhé.Thanks.............

Ruyubang_do
22/09/09, 09:07 AM
Một nhà máy đường, một trường đại học
....
Hàng ngàn tỉ đồng từ ngân sách nhà nước đã đầu tư vào các trường đại học tỉnh lẻ này chỉ để nhận về một mớ bùng nhùng không lối thoát, trong khi đó, các khu kinh tế rất cần công nhân lành nghề thì tuyển mãi không ra!
Em phải xin lỗi người đã post bài này nhưng thật sự mà nói: chính người đăng bài và người post tại đây, cả các bạn trước sau và cả chính bản thân : có ai ko mong mình và con mình sau này ko có 1 cái bằng ĐH ?

nbc
30/09/09, 11:56 PM
Em phải xin lỗi người đã post bài này nhưng thật sự mà nói: chính người đăng bài và người post tại đây, cả các bạn trước sau và cả chính bản thân : có ai ko mong mình và con mình sau này ko có 1 cái bằng ĐH ?

Nay có người nói rằng: lãnh đạo Hà Nội phải có bằng Tiến sỹ mới có đột phá, vậy có phải: cứ phải có bằng tiến sỹ thì mới lãnh đạo tốt? Mới có đột phá? Xin xem thêm về vấn đề này tại đây (http://www.bauxitevietnam.info/c/10833.html) và tại đây (http://bauxitevietnam.info/c/11346.html) ...và tại đây (http://bauxitevietnam.info/c/11240.html) nữa.

nbc trộm nghĩ: có lẽ không ít người trong chúng ta hiện nay phần nào cũng ngộ nhận về mảnh bằng đại học. Cá nhân nbc đã gặp khá nhiều người, khi hỏi tại sao lo lắng (bằng mọi giá) cho con cái vào đại học, câu trả lời là: để sau này ra trường cháu nó tìm được công ăn việc làm ổn định. Vậy có phải cứ có bằng đại học mới có công ăn việc làm ổn định?

Liên tưởng nghề nghiệp: "một đồ án TK TCTC chỉ được coi là khả thi khi nó phù hợp với tính chất công trình, các điều kiện thi công và khả năng cung cấp các nguồn lực xây dựng của nhà thầu". :Mpetrified:

Thực tế đã trải: một trung cấp trắc địa lương tháng 8 triệu đồng (2007); một thợ hàn lành nghề lương tháng 2.500$ (2006)...

nbc
01/10/09, 12:28 AM
Về việc đào tạo và cấp bằng
tiến sĩ tại Việt Nam

Trần Văn Thọ


Bài này vạch ra một số nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ:[1]
1) Bằng tiến sĩ không phải nhằm đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo để cho phép nhà nước cấp kinh phí đi học tại chức lấy bằng tiến sĩ; bằng tiến sĩ là bước cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học;
2) Nghiên cứu sinh (NCS) không cần phải có đề tài mới để được nhận vào chương trình tiến sĩ, nhưng NCS phải có đủ trình độ để từ quá trình học, nắm được phát triển lý thuyết cơ bản và kiểm chứng lý thuyết bằng thực tiễn trong ngành trên thế giới, từ đó biết được vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp và từ đó có đóng góp mới về mặt học thuật.
3) Luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế như làm sao thu hút đầu tư nước ngoài, hoặc làm sao một địa phương có thể trồng lúa ba vụ; luận án tiến sĩ phải có tính học thuật (academic), triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình; quan trọng nhất luận án phải có tính độc sáng (originality), đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.
Từ những nhận định trên bài viết bàn về yêu cầu thẩm định lại trình độ của giáo sư hướng dẫn, và các trường, viện đào tạo hiện nay, chấm dứt ngay những cơ sở không có tư cách cấp bằng.



Một trong những căn bệnh trầm trọng mà chế độ giao dục đào tạo của Việt Nam trong mấy mươi năm qua gây ra cho xã hội ta là làm lạm phát văn bằng tiến sĩ, là đưa chuẩn mực của học vị cao nhất trong khoa học nầy xuống mức thấp ngoài sự tưởng tượng của người làm khoa học nghiêm túc. Nhiều người, kể cả người viết bài nầy, đã cảnh báo, phê phán vấn đề nầy từ rất sớm và đã có nhiều đề nghị cải cách rất cụ thể và khả thi. Thế nhưng vấn đề nầy không được cấp lãnh đạo cao nhất quan tâm, còn các cơ quan quản lý trực tiếp, chủ yếu là Bộ Giáo dục Đào tạo (GDĐT), thì hầu như bất lực.[2] .

Gần đây nhà nước có vẻ đã thấy không thể không hành động trước tình trạng đã quá trầm trọng. Cụ thể là vào tháng 1/2008 Bộ GD ĐT đã công bố bản Dự thảo qui chế đào tạo tiến sĩ (dưới đây gọi tắt là Dự thảo). Đây là lần đầu tiên vấn đề đào tạo tiến sĩ được đặt ra tương đối nghiêm túc. Tuy nhiên nội dung Dự thảo có nhiều điểm không khả thi, và nhiều điểm cho thấy người đặt chính sách chưa hiểu đúng ý nghĩa của việc đào tạo bậc tiến sĩ và yêu cầu của luận án tiến sĩ. Mặt khác, Dự thảo chủ yếu nói đến việc xây dựng qui chế cho những cơ sở đào tạo mới và không đề cập đến việc xử lý những văn bằng tiến sĩ sản sinh trong quá trình vàng thau lẫn lộn vừa qua, cũng như không nói rõ vấn đề cải tổ, thanh lọc những cơ sở đào tạo ra đời trong bối cảnh bê bối hàng chục năm qua. Vì đã có nhiều dịp phát biểu ý kiến về vấn đề đào tạo và cấp bằng tiến sĩ (xem danh mục ở cuối bài viết nầy), dưới đây tôi chỉ nêu lại một số vấn đề xét thấy cần đặt lại hoặc viết thêm ở thời điểm hiện nay:
Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?
Thế nào là một luận án tiến sĩ?
Tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ.
Việc đánh giá và cấp bằng tiến sĩ nên làm như thế nào?
Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?
Trong kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ (đến năm 2020), suy nghĩ của người làm kế hoạch khá đơn giản và không thực tế. Ngoài tính bất khả thi, ta thấy nhà nước có suy nghĩ rất đơn giản: để phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải có một đội ngũ những nhà khoa học, cụ thể là đội ngũ của nhũng người có học vị tiến sĩ. Không biết từ bao giờ đã có một quan niệm sai lầm rằng bất cứ người làm trong ngành nào, kể cả quan chức và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, người có học vị càng cao càng “lãnh đạo” giỏi!. Do quan niệm sai lầm nầy, nhà nước đã cấp kinh phí cho quan chức đi học (làm nghiên cứu sinh) tại chức để lấy bằng tiến sĩ, và xem văn bằng nầy là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt lên chức vụ cao hơn. Do vậy quan chức tranh nhau đi học để lấy bằng và nạn học giả lấy bằng thật trở thành phổ biến. Quan điểm và chính sách nầy đã làm lãng phí nguồn lực xã hội và gây ra nạn lạm phát văn bằng tiến sĩ. Quan niệm sai lầm và chính sách chạy theo số lượng trong khi các tiền đề xây dựng cơ sở đào tạo chưa được xác lập đã hạ thấp (một cách kinh khủng) chuẩn mực văn bằng tiến sĩ là hệ quả đương nhiên.
Do đó hơn bao giờ hết cần xác định mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Đó là tạo ra một đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện ở đại học hoặc các viện nghiên cứu của cơ quan nhà nước hoặc của doanh nghiệp (nhất là nghiên cứu ứng dụng), nhưng người thuần tuý quản lý doanh nghiệp hoặc quản lý hành chánh không cần văn bằng tiến sĩ. Dĩ nhiên có trường hợp một số quan chức hoặc lãnh đạo doanh nghiệp có bằng tiến sĩ. Đó là trường hợp những người nguyên đã có dự định theo con đường nghiên cứu hoặc giảng dạy ở đại học nhưng sau đó tìm thấy khả năng của mình ở lãnh vực quản lý doanh nghiệp hoặc nhà nước. Cũng có trường hợp họ không thành công trong dự định ban đầu. Ở Nhật hay ở Mỹ người có bằng tiến sĩ khó tìm việc ở cơ qụan hành chánh nhà nước hoặc doanh nghiiệp hơn là người chỉ có bằng đại học (dĩ nhiên trừ truờng hợp xin vào các viện nghiên cứu của doanh nghiệp hoặc của nhà nước).
Thế nào là một luận án tiến sĩ?  
Mới đây (tháng 3 năm 2008) một lãnh đạo Bộ GD-ĐT có nói một câu được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Nếu không tìm được vấn đề gì mới thì đừng đi học tiến sĩ”. Tôi ghi nhận chủ ý tích cực của câu nói nầy. Bối cảnh của ý kiến nầy là tình trạng có nhiều luận án tiến sĩ chỉ là sự sao chép hoặc tổng kết các nghiên cứu của người khác và cần phải chấm dứt tình trạng nầy. Nhưng câu nói nầy khó hiểu đối với người làm khoa học, nhất là đối với người phụ trách đào tạo tiến sĩ nghiêm túc. Ta có thể đặt lại vài câu hỏi sau: Thứ nhất, một người định thi vào bậc tiến sĩ (thi làm nghiên cứu sinh) có cần phải có sẵn một đề tài mới? Hay là đề tài mới chỉ được phát hiện trong quá trình học tập vất vả, phải biết vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp? Thứ hai, thế nào là “mới”? Có thể là mới trong một thực tiễn nào đó nhưng chẳng có ý nghĩa gì đối với khoa học. Chẳng hạn, làm sao để huy động vốn trong dân ở tỉnh A hay tại một thành phố B có thể là mới vì chưa ai nghiên cứu vấn đề cụ thể nầy nhưng đề tài tự nó chưa nêu ra được điểm gì mới về học thuật. Cần nói thêm là các đề tài luận án tiến sĩ kinh tế trong hơn 10 năm qua ở VN phần lớn đều có tính cách thưc tiễn và thiếu tính học thuật như vậy. Tôi đã víết khá chi tiết về điểm nầy trên Tia Sáng (9/2003).
Vậy trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình. Những kiế n thức cơ bản nầy được trang bị từ các cấp bậc đại hoc và thạc sĩ nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tuc ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị nầy hội đủ các điều kiện đó.
Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới. Cái “mới” trong khoa học là như vậy.
Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tuỳ theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tại Việt Nam, chí ít là trong lãnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là ‘”Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, v.v..). Những vấn đề nầy dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỉ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một nghiên cứu sinh? Các đề tài nầy chẳng nêu ra được những câu hỏi có tính lý luận nên chẳng có giá trị về mặt học thuật, và về mặt thực tế cũng chẳng thấy cơ quan nào của nhà nước đã tham khảo các luận án ấy. Thật ra một người tốt nghiệp đại học thuộc loại giỏi chỉ cần vài tháng là có thể hòan thành một bản báo cáo về những đề tài như vậy. Trong thời gian qua ở nước ta các bản báo cáo như vậy vẫn được gọi là luận án tiến sĩ. Chất lượng tiến sĩ ở Việt Nam quá thấp là vì vậy.
Cũng do quan niệm sai lầm ở Việt Nam về việc “ép” nghiên cứu sinh phải chọn một đề tài về mới về thực tiễn[3] (dù không có giá trị về học thuật) mà trong quá khứ một số đề tài liên quan đến an ninh, quốc phòng, được phép bảo vệ không công khai. Bản Dự thảo nói trên cũng có quy định về những trường hợp không công khai việc bảo vệ luận án tiến sĩ. Theo tôi, mọi luận án tiến sĩ đều phải được công khai. Nếu vì an ninh hoặc quốc phòng thì không cho nghiên cứu sinh chọn những đề tài như vậy. Nói chính xác hơn, nghiên cứu sinh nếu không tiếp cận được các tài liệu thuộc lọai bí mật quốc gia thì họ phải tránh chọn các đề tài mà việc kiểm chứng cần các tài liệu đó. Như đã nói ở trên, mục tiêu đào tạo tiến sĩ là xây dựng những con người khoa học có trình độ nghiên cứu độc lập và đảm trách việc giáo dục đại học chứ không phải là nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế hay an ninh, quốc phòng. Những đề tài thực tiễn và cấp thiết như vậy thì nên giao cho người đã có khả năng nghiên cứu độc lập, kể cả người đã lấy bằng tiến sĩ.
Về giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ
Vớibối cảnh hỗn loạn, vàng thau lẫn lộn, về học hàm học vị trong thời gian qua, những tiêu chí cứng để định tư cách của giáo sư hướng dẫn (số công trình nghiên cứu, kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh, v..v..) hoặc tư cách của cơ sở đào tạo (số người có học hàm giáo sư hoặc phó giáo sư, số người có học vị tiến sĩ,…) có lẽ không hoàn toàn thích hợp. Tốt nhất là nhà nước thành lập các ban thẩm định chuyên ngành gồm những nhà khoa học có thành tích nổi bật (mà xã hội đã biết đến), những nhà nghiên cứu đã lấy bằng tiến sĩ tại các đại học có uy tín ở nước ngoài, hoặc nhũng trí thức người Việt đã có kinh nghiệm hoặc đang hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ ở nước ngoài. Các ban nầy sẽ đánh giá tư cách tham gia đào tạo tiến sĩ của những giáo sư hoặc phó giáo sư trong danh mục những người có nguyện vọng, và đánh giá tư cách tham gia đào tạo của các viện nghiên cứu hoặc các khoa ở đại học.
Những cơ sở đào tạo tiến sĩ đã có cũng phải được thẩm định trở lại. Trước mắt tạm ngừng các chương trình đào tạo tiến sĩ tại các viện, các trường nầy cho đến khi có kết quả thẩm định nói trên.
Sau chừng nửa năm hoặc một năm hoạt động, các hội đồng thẩm định công bố danh sách các trường, các viện và tên các giáo sư đã qua thẩm định và được thừa nhận có tư cách đào tạo tiến sĩ. Những nghiên cứu sinh đã được nhận vào các viện, các trường không đủ tư cách đào tạo tiến sĩ phải thi lại vào các viện, các trường có tư cách đó. Ngoài ra, cần khuyến khích những “tiến sĩ” đã lấy bằng tại các cơ sở không đủ tiêu chuẩn mạnh dạn xin bảo vệ lại tại những viện, những truờng có đủ tiêu chuẩn đào tạo.
Cơ chếvà phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ
Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư hướng dẫn được giải quyết đúng đắn thì việc đánh giá luận án không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư chân chính nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ. Có thể còn nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của mình, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là vì vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá trình chuẩn bị luận án, nên để nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là một năm để nhận các ý kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới
Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật đặt cơ chế xã hội hoá việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Có hai hình thức xã hội hoá. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất từ một đến ba (tuỳ trường đại học) công trình liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định độc lập (referee). Tạp chí có thẩm định độc lập là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (sau khi che giấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của những người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không. [4]Hai là, cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hằng năm của ngành chuyên môn. Ở Nhật nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học trò mình bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học thì người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn.
Dự thảo của Bộ GD- ĐT về qui chế đào tạo tiến sĩ cũng đưa ra quy định là nghiên cứu sinh phải có ít nhất một bài viết đăng ở một tạp chí uy tín thế giới. Tạp chí uy tín thế giới là khái niệm mang tính chủ quan nên có thể bị giải thích tùy tiện và do đó điều kiện có ít nhất một bài viết trên một tạp chí như vậy không phải là khó, hoặc ngược lại nếu đưa ra một định nghĩa khắc khe thì khó có nghiên cứu sinh nào thoả mãn điều kiện nầy. Theo tôi nên thay cụm từ “tạp chí uy tín thế giới” bằng cụm từ tạp chí khoa học chuyên ngành có thẩm định độc lập. Trước mắt hầu hết các tạp chí nầy đều ở nước ngoài nhưng tùy theo ngành, trong nước cũng có thể từng bước xây dựng những tạp chí như vậy, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ngoài (hoặc người Việt Nam ở nước ngoài) trong ban biên tập.
Việc tuyển chọn nghiên cứu sinh có thể linh hoạt nhưng phải có cơ chế kiểm tra năng lực. Ở Nhật nhiều đại học chú trọng kiểm tra đầu vào qua kỳ thi ngoại ngữ và chuyên môn và quy định phải lấy đủ các tín chỉ cần thiết. Có đại học, nhất là những nơi có khoa tổng hợp nhiều ngành, thì chú trọng thi ngoại ngữ và đánh giá luận án thạc sĩ thay cho kiểm tra năng lực chuyên môn. Nhiều đại học ở Mỹ thì dễ dãi đầu vào nhưng có chế độ kiểm tra gay gắt về chuyên môn và đề cương luận án trươc khi cho nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu để hòan thành và bảo vệ luận án.
Ở thời điểm nầy (đầu năm 2008), nhận thức của nhà nước về vấn đề đào tạo bậc tiến sĩ đã có vài mặt tiến bộ. Tuy nhiên một số vấn đề cơ bản chưa được hiểu một cách đúng đắn. Trên đây là 4 vấn đề tôi thấy cần bàn thêm.

Ghi thêm: Sau đây là danh sách các bài viết tôi đã phát biểu liên quan đến vấn đề đào tạo tiến sĩ:
(1) “Về đào tạo và cấp bằng tiến sĩ kinh tế học,” Nhân Dân (mục Ý kiến nhà khoa học), 17/7/1997.
(2) “Vài ý kiến về những điều đã được bàn,” Tia Sáng (mục Khoa học công nghệ), 9/2001.
(3) “Bàn lại vấn đề học vị tiến sĩ,” Tia Sáng, 9/2003.
(4) “Đào tạo tiến sĩ: Cải tổ từ cơ sở và ông thầy,” Vietnamnet 1/2006.
(5) “Kế hoạch đào tạo tiến sĩ: cần có một cuộc cách mạng chất lượng,” in trong GS. TS Hoàng Tuỵ Sĩ phu đời nay, do Nguyên Ngọc, Phan Đình Diệu, Hà Huy Khoái, Ngô Việt Trung và Nguyễn Xuân Xanh chủ biên, Nhà xuất bản Trí thức, 2007, tr. 319-330.

[1] Tác giả cám ơn tiến sĩ Vũ Quang Việt đã đọc và góp ý vào bản thảo đầu tiên. Phần tóm tắt ở đầu bài là của anh Việt. Bài viết nầy chủ yếu nhìn từ các ngành trong khoa học xã hội, nhưng trên cơ bản, tính chất của luận án tiến sĩ (tính học thuật và tính độc sáng) không khác nhiều với khoa học tự nhiên. Điểm nầy được xác nhận trong quá trình trao đổi ý kiến với giáo sư Hồ Tú Bảo, chuyên gia về công nghệ thông tin. Tác giả cám ơn anh Bảo đã đọc bài viết và tham gia thảo luận về đề tài nầy.

[2] Lần đầu tiên tôi phát biểu về vấn đề nầy (và đưa kiến nghị cải cách) trên mục Ý kiến nhà khoa học của báo Nhân Dân ngày 17/7/1997. Bài báo được chọn là một trong 10 bài quan trọng trong ngày để ban thư ký tóm tắt cho thủ tướng đọc. Chiều hôm đó, ông Phạm Sĩ Tiến, Vụ trưởng Vụ sau đại học, từ Hà Nội điện thoại đến tôi (lúc đó đương ở Thành phố HCM) để cảm ơn đã góp ý kiến. Sau đó ít lâu, ngày 6/3/2000, ông tổ chức cho tôi đến thuyết trình về vấn đề nầy tại Học viện Chính trị Quốc gia HCM, nơi mà theo ông, đang rất “dễ dãi” trong việc cấp bằng tiến sĩ. Ngày 20/12/2005, tôi nhận được thư của Vụ trưởng Vụ đại học và sau đại học Trần Thị Hà thay mặt Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển đề nghị tôi góp ý cải cách việc đào tạo tiến sĩ. Tôi đã viết bản góp ý và gửi về ngay nhưng được Vụ trưởng Trần Thị Hà trả lời là bộ trưởng đã đọc nhưng rất tiếc là các kiến nghị nầy khó thực hiện trong tình hình ở Việt Nam. Bản kiến nghị nầy ngay sau đó được dăng gần như toàn văn trên Vietnamnet (1/2006) và bản tóm tắt đăng trên Tia Sáng số Tết năm 2006..

[3] Xem thử các luận án tiến sĩ ở Việt Nam ta thấy có mục “Tính cấp thiết của đề tài”. (Tính cấp thiết ở đây là về mặt thực tế nhằm đưa ra kiến nghị về mặt chính sách)

[4] Ở Mỹ ít có đại học đỏi hỏi nghiên cứu sinh phải có bài viết đăng ở các tạp chí có thẩm định, nhưng thay vào đó, phải thi đỗ các kỳ sát hạch về các lý luận cơ bản trong ngành, và về một chuyên môn tự chọn. Ngoài ra, nghiên cứu sinh phải nộp một bài viết (essay) liên quan đến đề cương chi tiết của luận án (bài viết phải được thông qua trong hội đồng xét duyệt gồm 3 giáo sư trong ngành. Bài viết được thông qua trong hội đồng xét duyệt thì cũng dễ triển khai đê đăng trên tạp chí có thẩm định. Do đó cách làm ở đại học Mỹ và Nhật không khác nhau mấy trên thực chất.


Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai13/200813_TranVanTho.htm

nbc
05/10/09, 11:13 AM
Bốn thói xấu của người Việt đương đại


Nói “của rất nhiều người Việt ” là để dễ lọt tai, thật sự cầu thị thì phải nói là Một số thói xấu của người Việt thời nay bởi vì những thói xấu này đang rất thịnh hành và phổ biến. Nói “người Việt hiện nay” là để giới hạn thời gian trong một số những thập kỷ gần đây, có thể người Việt xa xưa và người Việt trong tương lai không mắc những thói xấu này.

Thói gian lận


[/URL][URL="http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/68/2009/09/taxi.jpg"]http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/68/2009/09/taxi.jpg (http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/68/2009/09/taxi.jpg)

Nhiều thủ thuật gian lận cước taxi.
Ảnh thethao&vanhoa

Từ điển Tiếng Việt 1994 định nghĩa gian lận là “có hành vi dối trả, mánh khóe, lừa lọc”. Dẫn từ điển cho chắc ăn thôi chứ nhắm mắt vào cũng thấy rõ người ta gian lận, dối trá thế nào, có khi còn thấy rõ hơn.

Trong buôn bán, từ nửa lạng cà chua, dăm ba quả táo đến hàng tấn cá ba sa, hàng tấn xi măng sắt thép đều có thể bị cân điêu, chỉ cần gian lận lấy nửa lạng là người ta đem nhét thật nhiều bánh đúc vào cái diều con gà, nếu gian lận được nửa yến thì sẵn sàng bơm thuốc phọt cho gà lợn rau quả mau tăng trọng, bất chấp những tai hại khôn lường, đồ xấu đánh tráo vào với đồ tốt rồi tính thành tiền đồ tốt, hàng ôi thiu thối rữa kém chất lượng đem tẩy rửa mông má lại để bán ra thành hàng tươi ngon…

Trong sản xuất thì bớt xén nguyên vật liệu, rút ruột công trình, làm hàng giả hàng nhái, gian lận giấy tờ sổ sách kế toán để moi tiền dự án bất chấp là dự án ODA hay dự án quốc gia, rút được tiền chia chác thì làm, không thì bỏ, bất kể chất lượng tốt xấu…Lại còn cái kiểu hùa nhau bỏ thầu thật thấp, chộp giật, cứ thắng thầu cái đã, làm nửa chừng thì bỏ đấy, một bên hết vốn, bên kia muốn hoàn thành kế hoạch lấy thành tích thi đua thì xin mời bỏ tiền vào…

Trong giáo dục thì trường trường lớp lớp đua nhau cho điểm vống lên, học sinh lên lớp hết để lấy thành tích, cán bộ cỡ muốn có bằng thì có người đi học thay, dân tứ chiếng muốn có bằng thì mua, điểm thi thì tẩy xóa xin xỏ, giấy báo kết quả thì mạo điểm mạo danh, vào thi thì mang theo phao, cấm đoán thế nào cũng không xuể, cha mẹ thì chạy trường chạy lớp phờ cả người, nghĩ mà kinh…

Về mặt xã hội thì kể không biết bao nhiêu thí dụ cho xuể, này nhé: lên phường lên xã vào bệnh viện thì bị xoay đủ kiểu nhưng cứ có ít “ngan nằm” là được việc, ra đường gặp đủ cách gian lận giao thông, kể từ bằng lái rởm đến xe rởm, kể từ người đi bộ, đi xe máy đến công-tơ-nơ siêu trường siêu trọng, hễ gian lận được đường là gian lận, có mắc mớ thì kẹp “nó” vào giấy tờ rồi nhờ nộp hộ vào kho, em vội phải đi không cần lấy hóa đơn, thế là xong.

Tiền của chính phủ cho người nghèo ăn tết, tiền từ thiện cũng bị ăn chặn ăn bớt. Trộm đạo tứ tung, trộm to như tham nhũng, man trá thuế khóa, nhập lậu xuất lậu …đến nhỏ như trộm cái đinh bù loong, cái thanh tà vẹt, con gà con cá… (trộm cá bằng kích điện là phổ biến từ Nam chí Bắc !). Người dân xây nhà hễ gian lận được dù chỉ một vài mét đất công là lấn tới, người dân buôn bán hễ làm luật được là chiếm luôn vỉa hè…

Trong văn hóa tư tưởng thì đạo văn đạo nhạc, đạo thơ đạo họa đủ cả, cũng chạy giải thưởng cho có danh, đánh bóng mạ kền cho sáng tên tuổi…Một phần không ít thanh niên học hành làm việc thì lười mà chỉ muốn có tiền nhanh, chỉ muốn tiêu xài xì tin, váy cộc chân dài tóc bờm dựng ngược, nay vũ trường mai nhà nghỉ…

Có những cuộc vận động hoặc thi tìm hiểu mà ai cũng biết có phần không phải, ai cũng có phần không phải nhưng vẫn bất chấp, vẫn bỏ tiền bỏ của bỏ thời gian lao vào làm. Khủng khiếp nữa là gian lận giữa ý nghĩ với lời nói, người ta sẵn sàng nói cái điều mà người ta không nghĩ thế, từ đấy dẫn đến gian lận giữa lời nói và việc làm, tôi có thể rao giảng anh đừng vào nhà nghỉ khi tôi vừa từ nhà nghỉ bước ra…

Gian lận dối trá giằng chéo đan xen ngang dọc trên dưới lớn bé to nhỏ trong suốt một thời gian rõ dài đã vượt quá một cái nếp xấu, một thói quen xấu để trở thành một thói xấu của tôi của anh của chúng ta nếu bạn không muốn nói là của người Việt bây giờ.

(Chưa hết)

Nguồn: TuanVietNam

nbc
10/10/09, 09:02 AM
Bốn thói xấu của người Việt đương đại




Thói vô trách nhiệm

Lại dẫn Từ điển tiếng việt 1994: Trách nhiệm: 1-phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả. 2- Sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai thì phải gánh chịu phần hậu quả.

Cứ theo như định nghĩa trên, cho tới bây giờ, hầu hết những kết quả không tốt đều chưa có đâu phải gánh chịu. Như thế là thói vô trách nhiệm.

Nếu như trách nhiệm của mình chưa ba năm rõ mười thì ai ai cũng nghĩ rằng đó là trách nhiệm của người khác, của ngành khác, của cơ quan khác. Phủi tay.

Ngày trước, người ta bảo vệ cây ven đường bằng cách quét vôi quanh gốc. Lúc đầu người công nhân quét rất cẩn thận, nước vôi trắng vừa đủ, vôi không rớt xuống chung quanh. Càng về sau, nước vôi càng loãng, vôi tung tóe ra đường, cho tới một lúc thấy họ chỉ gạch chéo vào gốc cây mấy cái, coi thế là xong.
Quần áo loại dành cho người ít tiền mua về thì đường chỉ xiêu vẹo, chưa mặc đã tụt khuy, xe máy đem đi bảo dưỡng thì người ta mở ra lau qua rồi lại lắp vào như thế gọi là bảo dưỡng, nhiều công trình bị rút ruột dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, nhà bị đổ, cầu bị sập…

Người dân lên xã phường quận huyện hoặc những cơ quan công quyền khác thường bao giờ cũng phải dăm lần bảy lượt, nhẹ nhàng cũng là người có trách nhiệm đi tập huấn, cô chú cứ chờ. Đầy đủ cả rồi mà không thích thì hỏi tại sao cái đơn lại viết thế này, chữ như chữ bác sĩ ai mà đọc được, về viết lại rồi đem lên đây…

Cả con đường mới làm to đẹp như thế tự nhiên chình ình ra một phần cái nhà, rõ là phải giải phóng ngay từ đầu mà vẫn không đi không dỡ không phá. Lại còn cái việc đổ trộm vật liệu phế thải ra đường nữa chứ, cứ đêm đến đổ ra ngồn ngộn, nói xin lỗi chẳng khác gì cái việc ị ra đường hàng đống tướng. Những gì là của công, của cộng đồng thì việc giữ gìn bảo quản thật khó, chặt phá xâm lấn vẽ bậy bỏ bẩn một cách hết sức hồn nhiên. Ra đường thấy kẻ cắp móc túi mà không hô hoán, gặp người bị nạn thì rất đông người xúm lại để…xem nhưng vẫn dửng dưng.

Công chức ở cơ quan, xin nói thật nhé, chẳng lấy đâu ra chuyện tám giờ vàng ngọc, trừ một vài người làm cật lực còn đâu thì tranh thủ đi chợ, đưa đón con, giặt quần áo khi nhà mất nước, sắc thuốc cho đỡ tốn điện nhà, trà nước, đọc báo buôn chuyện chơi gêm…Đủ cả. Người dân ở đường phố thì vứt rác vứt chuột chết ra đường, thải rác xuống sông xuống cống thoải mái, có khi ngang nhiên đào ống nước ngang qua đường, rửa xe máy thì phun cả nước vào người qua lại, mở cửa hàng bún chả thì cả phố hít khói với mùi thịt nướng, mở cửa hàng sắt thì ngày đêm bốn chung quanh nghe uỳnh uỵch xuống hàng, mở cửa hàng bán vô tuyến thì loa eo éo suốt ngày, bước ra đường thì bụi cát mù trời…

Nhiều người có tiền, bỗng dưng có rất nhiều tiền thì phè phỡn và bất chấp.

Nhiều nhà báo nhúng bút vào sự thật thì bị đe dọa, có trường hợp bọn xấu bắn đạn chì nhà báo lại trượt vào đùi nhà thơ mới bi hài làm sao !

Rất đông thanh niên công khai nói rằng sống trung thực thì chỉ thiệt thòi. Cũng rất đông thanh niên chỉ ham chơi, đua đòi, sống ngày qua ngày không lý tưởng (lý tưởng hiểu theo nghĩa có mục đích tốt để phấn đấu), không có mẫu hình nào để noi theo (như một thời những Nguyễn Văn Trỗi, Lê Mã Lương…)…
Không kể hết được. Chỉ tóm lại một câu hỏi : đâu chịu trách nhiệm về những kết quả không tốt ấy ?

Đã nhiều năm rồi người ta quen vô trách nhiệm, vô trách nhiệm nghề nghiệp, vô trách nhiệm lương tâm, tới mức trở thành dửng dưng, vô cảm, trở thành tín đồ của chủ nghĩa ma-ke-no, một thói xấu của tôi, của anh, của chúng ta nếu như bạn không muốn nói đó là của người Việt bây giờ.

Nguồn: TuanVietNam

(Còn tiếp)

nbc
10/10/09, 09:07 AM
Bốn thói xấu của người Việt đương đại




Thói cơ hội chủ nghĩa


Định nghĩa một cách đơn giản nhất theo Từ điển tiếng Việt 1994 là: 1- Quan điểm, chủ trương lợi dụng cơ hội, mưu cầu những lợi ích trước mắt và cục bộ, bất kể việc làm đúng hay sai. 2- Khuynh hướng tư tưởng-chính trị trong phong trào công nhân, chủ trương chính sách tùy thời, thỏa hiệp.


Chủ nghĩa cơ hội đã len lỏi, xâm nhập vào từng cá nhân, trở thành một thói xấu là thói cơ hội chủ nghĩa theo đó người ta bất chấp đúng sai, tùy thời thỏa hiệp, đón gió trở cờ để mưu cầu lợi ích cho riêng mình.
Xu thời nịnh bợ tràn lan, còn quyền thì còn đeo bám bợ đỡ, hết quyền thì lập tức quay lưng nói xấu, xoay ngay sang kẻ khác đang quyền. Những người được nịnh bợ thì đều biết chúng nó nịnh mình, nghe mãi thành quen, nghe điều trái tai thì chịu không được, lại cũng có yêu cầu phải dùng chúng nó, biến chúng nó thành lũ đệ tử em út để mà sai bảo mưu cầu lợi ích riêng, kể từ chuyện nhỏ như con thỏ là đi nhà nghỉ mát-xa đến chuyện lớn là xí phần đất cát, chung cư, dự án…Thế là kẻ xu nịnh và đứa được bợ đỡ hai bên đều cần nhau, xoắn vào nhau, đều tùy thời thỏa hiệp, tạo thành một thể thống nhất, có anh này thì có anh kia, cứ thế luân hồi tưởng như không bao giờ chấm dứt.


Đấy là chưa nói đến những mưu đồ phản trắc, lừa lọc cài bẫy, vu oan giá họa, bơm vá xì tút bóp méo sự thật, xúi bẩy khích bác, a dua….chỉ vì những lợi ích cá nhân. Suy cho cùng, đấy cũng chính là thói cơ hội chủ nghĩa


Lại còn hiện tượng này nữa : những kẻ xấu thì kéo bè kéo cánh, có nịnh bợ trên có đe nẹt dưới, có tham mưu có tư vấn, có liên kết móc nối, còn người tốt thì đơn độc, trơ trọi, không biết dựa vào đâu. Đành ngu ngơ ngậm miệng, nhắm mắt cho qua, bực dọc bức xúc thì về nhà chửi bâng quơ cho bõ tức thế thôi, suy cho cùng cũng là cơ hội chủ nghĩa.


Thói cơ hội chủ nghĩa đang làm biến dạng trái tim và tâm hồn tôi, anh, đang phá hoại niềm tin của chúng ta đối với những giá trị tinh thần cao đẹp.


Nguồn: TuanVietNam

(Còn tiếp)

nbc
10/10/09, 09:09 AM
Bốn thói xấu của người Việt đương đại




Thói chí phèo

Không cần phải dẫn định nghĩa, ai cũng hiểu thói chí phèo là gì. Chỉ nói thêm dân gian còn một từ khác để chỉ thói xấu này, đó là từ “bầy hầy”.

Nhìn chung quanh mình thấy không ít những kẻ “cào lưng ăn vạ”. Xin kể ra đây một thí dụ điển hình. Trong một cuộc họp, một cán bộ bị phê bình, tức quá không kìm được bèn rút điện thoại di động ra nói để tôi gọi cho Chủ tịch nước hỏi xem phê bình thế có đúng hay không! Anh ta thường khoe là quen với Chủ tịch mà. Chí phèo đến thế thật đã hết chỗ bình luận.

Trong mỗi cơ quan thế nào cũng có một vài anh cứ xoay ngang ra, mọi người làm một đường anh ta phát biểu ý kiến một nẻo. Một số người sai toét mà cứ ôm đơn đi kiện, không ăn được thì đạp đổ, bầy hầy hết chỗ nói mà phải chịu đấy. Một số anh về hưu rồi nhưng hàng ngày cứ đến cơ quan, cứ giữ phòng làm việc, cứ góp ý tùm lum hết cả. Trong sinh hoạt dân phố, đốt bếp than tổ ong khói xộc vào nhà người ta hàng ngày, người ta có ý kiến thì quắc mắt thách đứa nào dám động vào bếp của ông. Vứt rác ra đường, có ý kiến thì la lối tao vứt ra đường chứ tao có vứt vào nhà vào mả chúng mày đâu, vác cưa máy mang ô tô đi cưa trộm cây gỗ quý giữa lòng Hà Nội…Khiếp quá !

Tham gia giao thông thì thấy ngay thế nào là chí phèo. Những chuyện bầy hầy như vượt đèn đỏ, đi ngược chiều, phóng xe trên vỉa hè…chả là cái đinh gì so với chuyện khi phạm luật thì hất cảnh sát giao thông lên nắp ca-pô rồi bỏ chạy mấy chục cây số, bật diêm đốt xe máy giữa đường, ngồi lỳ trên xe máy để cảnh sát phải khiêng cả người cả xe về trạm, gây tai nạn rồi bỏ chạy, mặc xác người bị nạn…

Rủ nhau đi cướp gà toi, khi phóng viên chụp ảnh lại còn giơ mấy con gà dịch lên khoe, đi hội hoa thì chen chúc, dẫm đạp, bẻ cành ngắt hoa, hành khách đi xe thì bị nhốt vào tiệm cơm tù, xe buýt bị chặn lại để cướp khách, ra đường động va chạm một tí là đe chém đe giết, rải đinh ra đường cho xe xịt lốp rồi hành nghề vá xe…..Đúng là có đến một ngàn lẻ một kiểu chí phèo.

Thói chí phèo làm cho người ta nhờn với pháp luật và coi nhẹ một số những giá trị tinh thần, là thói xấu mà tôi, anh và chúng ta bây giờ có thể nhận rõ trong rất nhiều những hành xử hàng ngày. Dân gian gọi những người mắc thói chí phèo là những người bị đứt dây thần kinh xấu hổ, những dân ngụ cư ở phố hàng thớt !


***
Trên đây là một số thói xấu của nhiều người Việt chúng ta trong nhiều thập kỷ vừa qua. Những thói xấu này gắn bó với nhau, liên quan qua lại, có khi cái này là cái kia, trong cái này có cái kia, không khó để nhận biết bởi vì người ta cũng chẳng cần che dấu là mấy.

Chủ đề không mới nhưng vẫn đáng nhắc lại để một lần nữa chúng ta nhìn lại và nhận biết hơn chính chúng ta, với tư cách là một cá nhân, một tập thể, một tổ chức. Nhắc lại với nhau mà cùng biết xấu hổ, đó là điều may, còn nhắm mắt bịt tai, coi như mình đã tốt cả rồi thì đó là bất hạnh.

Thế nào cũng có bạn hỏi những thói xấu trên có là thuộc tính, là bản chất bản ngã gì gì đấy của người Việt hay không. Chắc chắn là không. Những nghĩa cử tốt đẹp, những trái tim trung hậu giàu lòng nhân ái, vị tha, đồng cảm còn nhiều lắm và đó mới là bản tính người Việt. Thế thì những thói xấu trên ở đâu quàng vào chúng ta? Nếu thực sự có một câu hỏi như thế thì nó đã vượt quá sức của người viết bài này, bởi vậy phải xin ý kiến của các nhà quản lý xã hội, các nhà nghiên cứu về xã hội, về văn hóa, lịch sử…Và để mọi người cũng có cơ hội bày tỏ ý kiến, nói cho rõ ra đâu là đen đâu là trắng thì phải chăng nên mở mục thăm dò ý kiến rộng rãi về mấy thói xấu trên và nguồn gốc của nó.

Nguồn: TuanVietNam

nbc
10/10/09, 09:12 AM
Thăng Long: Biểu hiện ý chí vươn lên của người Việt


Hai chữ “Thăng Long vẫn ở sâu trong tâm thức người Việt Nam chúng ta, nhất là khi gợi nhớ đến bề dày lịch sử và quá khứ hào hùng. Câu thơ “Từ thủa mang gươm đi mở cõi - Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” đã nói lên cái tâm thức ấy...

LTS: Gần đây, trong dư luận, có một số gợi ý, nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, nên trả lại tên Thăng Long cho Hà Nội. Theo sử gia Dương Trung Quốc, đây là thời điểm thích hợp để đưa ra vấn đề này ra lấy ý kiến rộng rãi, tìm giải pháp có sự đồng thuận cao. Ông bộc bạch: “cái tên Thăng Long rất đẹp, vừa có bề dày lịch sử nghìn năm vừa là biểu tượng đầy sức sống, thể hiện ý chí vươn lên của Dân tộc Việt Nam. Về cảm xúc tôi rất ủng hộ việc đổi tên, nhưng về lý trí thì tôi chưa thật tự tin để đưa ra chính kiến về vấn đề này, và rất mong được dư luận chia sẻ ”.
Để đảm bảo thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam xin giới thiệu ý kiến của nhà Sử học Dương Trung Quốc.
Thăng Long: Cái tên chứa đựng nhiều ý đẹp


[/URL]http://www.tuanvietnam.net/assets/images/Hoguom.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/Hoguom.jpg)


Địa danh Thăng Long ra đời gắn liền với việc dời đô của Lý Công Uẩn từ Hoa Lư ra vùng đất Đại La. Trong Chiếu dời đô có nói, về thế núi, thế nước, thế sông, và đây đã là một vùng đất trù phú.
Như trong sách sử, tên Thăng Long gắn liền với truyền thuyết Lý Công Uẩn liên hệ hình ảnh “Rồng Bay Lên” gắn với thế nước Đại Việt với nền tự chủ đang được củng cố. Đây là một cái tên quá đẹp. Nhất là con rồng không chỉ thể hiện sức mạnh cho một vương triều mà còn thể hiện sức sống của đất nước. Hơn thế nữa, đối với một quốc gia nông nghiệp như nước ta, rồng là con vật linh thiêng gần gũi với nền văn minh lúa nước. Tóm lại, cái tên “Thăng Long” rất đẹp, vừa có bề dày lịch sử nghìn năm vừa là hình tượng đầy sức sống, thể hiện ý chí vươn lên của người Việt.

Trải qua đời Lý, đời Trần, đến thời Lê có một sự đứt đoạn khi giặc Minh xâm lược và đô hộ trong hai thập kỷ thì đổi tên thành Đông Quan. Sau này, khi Lê Thái Tổ giành lại đất nước đổi tên thành Đông Đô, nhưng tên goi “Thăng Long” vẫn tồn tại trong đời sống chính tri, trong sách vở và trong tâm thức người dân.

Cho đến đầu thế kỷ XIX, khi Nhà Nguyễn lên, do nhiều lý do nên lấy Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Tên Thăng Long vẫn còn giữ nhưng đã mang nghĩa khác. Chữ “Long” bây giờ không còn nghĩa là “Rồng” nữa mà có nghĩa là “Thịnh Vượng”. Vùng đất kinh kỳ xưa, nay dù không còn là kinh đô nữa nhưng vẫn là nơi thịnh vượng về kinh tế, vẫn là nơi tập trung trí tuệ và bảo lưu văn hiến quốc gia.

Đến thời vua Minh Mạng mới tìm cách tăng cường hơn nữa cho vai trò của kinh đô Huế và không chấp nhận phân chia quyền lực của Nhà nước Trung ương nên cái tên Thăng Long chuyển gọi là “Bắc Thành” (trong nam là “Gia Định Thành”. Rồi Vua Minh Mạng còn phá thành cũ xây thành mới có quy mô nhỏ hơn. Và cuối cùng để “hoà tan” cái vị thế vốn có của một kinh đô, không gian của Thăng Long xưa được mở rộng vể lãnh thổ (tăng gấp 3 lần) để trở thành đơn vị hành chính của một “tỉnh” như mọi tỉnh khác trong Vương quốc Đại Nam và lấy tên là tỉnh “Hà Nội” .

Ngay cách đặt tên này cũng có phần khác thường, không theo thông lệ mang tính truyền thống là sử dụng các mỹ tự xoay quanh mấy ý nghĩa như thể hiện khát vọng: ví như sự yên ổn (An-Yên, Bình, Định, Ninh, Thuận...), sự giàu có, lâu bền (Phú, Quảng, Vĩnh...)... Còn Hà Nội là tên đặt theo định vị địa lý (khá phổ biến ở Trung Hoa). Chưa “Hà Nội” có thể hiểu như nằm bên trong (giữa) 2 con sông Hồng và sông Đáy; lại cũng có người giải thích là nó được ôm gọn vào trong cái vành tai của con sông Hồng còn có tên gọi là “Nhĩ Hà” (Sông có hình tựa cái vành tai).

Dường như cái hoàn cảnh và cái ý nghĩa của sự chuyển đổi từ cái tên rất đẹp là “Thăng Long” thành cái tên “Hà Nội” chứa đựng sự giảm thiểu, sự hạ cấp cái vị thế và ý nghĩa của tên gọi cái không gian vốn được Lý Công Uẩn xác lập như một sự khai mở cho thời đại phát triển của kinh đô một quốc gia đang tự chủ và tư tin vươn lên bên cạnh một quốc gia và cũng là một nền văn minh khổng lồ ở phương Bắc.

Hà Nội: những giá trị mang tính thời đại

Tuy 143 năm đứt đoạn khiến Thăng Long và Hà Nội dưới triều Nguyễn (1802-1945) không còn là kinh đô của đất nước. Và triều Nguyễn có hẳn một ý đồ hạ thấp vị thế của nó để tập trung quyền lực hơn cho chính quyền Trung ương đặt kinh đô tại Huế. Ngay như Những mô tả của người Pháp sau khi chiếm được Hà Nội đều mô tả sự tàn lụi của một đô thị, đặc biệt là về hạ tầng nhưng cũng ghi nhận những di sản và tiềm năng văn hoá của mảnh đất này.

Có một cái mốc chúng ta cần lưu ý là năm 1888 vua Đồng Khánh ban sắc dụ giao Hà Nội cho thực dân Pháp làm nhượng địa. Thực ra chỉ là không gian tương đương với Thăng Long xưa chứ không phải đã mở rộng gấp 3 thành tỉnh Hà Nội. (Việc giao đất nhượng địa này cùng lúc với Hải Phòng, Đà Nẵng-Tourane). Sau đó Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập “thành phố” Hà Nội và đó là sự kích hoạt mạnh mẽ cho sự hình thành một đô thị theo mẫu thức hiện đại (kiểu Âu Tây-Pháp)...

Tuy người Pháp không gọi Hà Nội là thủ đô, nhưng trong hành xử, chính quyền thực dân đặt hành phố này như một rung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá không chỉ của Việt Nam mà của cả Đông Dương. Tuy không phải là duy nhất (vì phủ Toàn quyền còn đặt ở Sài Gòn và có thời gian ở cả Đà Lạt) nhưng có thể thấy Hà Nội có một vị thế đặc biệt phần nào thể hiện ở những di sản vật thể và phi vật thể mà Hà Nội “thời thuộc địa” để lại. Có thể nói, trong suốt thời thuộc địa, Hà Nội thực sự trở lại một trung tâm kinh tế, xã hội và văn hoá của Việt Nam trong tương quan với Sài Gòn và nhất là Huế bị mất vị thế vì nền chính trị mang tính chất tượng trưng và ngày một lạc hậu của triều đình.

Hơn thế nữa, những biến cố chính trị vào thời điểm Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 và nhất là với những tình thế diễn ra của cuộc Cách mạng Giải phóng Dân tộc, đầu não của tổ chức cách mạng tập trung ở Chiến khu Việt Bắc, trong khi Trung ương ở miền Nam gần như bị thực dân huỷ diệt sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ đã tạo ra một vị thế chính trị quan trọng cho Hà Nội.

Quyết định của Đại hội Quốc dân ở Tân Trào đưa ra những quyết định rất cơn bản sau này được thể hiện trong Hiến Pháp là việc xác lâp lại Thủ đô của nước Việt Nam một khi độc lập sẽ là Hà Nội. Đó là một quyết định sáng suốt mà cho đến nay chúng ta vẫn chưa có dịp tìm kỹ ngọn nguồn cho quyết định quan trọng này. Chắc chắn ở đó có vai trò của nhà cách mạng sau đó là Chủ tịch của nước Việt Nam Độc lập.

Vì thế, với cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 mà chính phong trào diễn ra ở Hà Nội đã thể hiện như ngọn cờ, hiệu lệnh cho Tổng khởi nghĩa diễn ra trên cả nước đã mang đến cho địa danh “Hà Nội” một giá trị lịch sử đặc biệt, tiếp đó là quyết định của Quốc hội thể hiện trong bản Hiến pháp đầu tiên xác lập Hà Nội là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thực sự tạo nên một nội hàm thiêng liêng cho “Hà Nội”. Cuộc chiến đầu 60 ngày đêm mở đầu kháng chiến toàn quốc khiến vị thế hai tiếng “Hà Nội” trở nên một cái gì như Nguyễn Đình Thi đã thể hiện trong bài ca “Người Hà Nội” - nơi “lắng hồn núi sông ngàn năm”.

Những năm tháng tiếp theo với các sự kiện Hà Nội giải phóng (1954), Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không (1972)... đã biến Hà Nội thành một địa danh quen thuộc đối với các thế hệ hiện đại và với cả thế giới hiện đại. Tuy nhiên hai chữ “Thăng Long vẫn ở sâu trong tâm thức người Việt Nam chúng ta, nhất là khi gợi nhớ đến bề dày lịch sử và quá khứ hào hùng. Câu thơ “Từ thủa mang gươm đi mở cõi - Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” đã nói lên cái tâm thức ấy...
Tất cả điều đó cho thấy cả 2 cái tên “Thăng Long” và “Hà Nội” đều chứa đựng những giá trị chung của một mảnh đất nhưng cũng lại có những giá trị riêng của những thời kỳ lịch sử mang tính liên tục và kế thừa.

Thăng Long hay Hà Nội một lựa chọn đầy băn khoăn


[URL="http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage400270-chuamotcot.jpg"]http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage400270-chuamotcot.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage400270-chuamotcot.jpg)


Đã có một thời, ngoài cái tên “Hà Nội” còn có một “biệt danh” (không biết dùng từ này có chính xác không) là Thành Hoàng Diệu, giống như Đà Nẵng là “Thái Phiên”, Sài Gòn là “thành phố Hồ Chí Minh” (trước quyết định có tính pháp lý sau ngày thống nhất 1976).

Nhưng ý kiên muốn trở lại cái tên “Thăng Long” cho Hà Nội cũng không phải mới mẻ, hình như đã có lần nó được đưa lên Quốc Hội(!?). Nhưng có thực tế là gần đây, càng gần đến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, ý kiến này được nhiều người đưa ra. Trên một số phương tiện thông tin đại chúng đã có người nêu lên. Riêng tôi cũng nhận được không ít những lời đề nghị tương tự với rất nhiều ý giải trình khác nhau và đều chứa đựng những thiện ý tốt đẹp như một sự biểu dương Thủ đô của đất nước hơn là sự hạ thấp tên gọi “Hà Nội”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Danh dự của Hội Sử học cũng từng có văn bản nêu vấn đề yêu cầu giưới sử học và những giới liên quan thử nghiêm túc đặt ra để phân tích thật sâu, cân nhắc thật kỹ trên cơ sở đó đưa ra quan điểm nên hay không nên đổi Hà Nội thành Thăng Long” hoặc có giải pháp nào hợp lý để có thể điều hoà thành nguyện vọng chung...

Đương nhiên ai cũng nhìn thấy việc đổi tên một địa danh, một thành phố lớn, lại là thủ đô không đơn giản chỉ nhìn từ góc độ giấy tờ hay quản lý hành chính. Sau nữa là cái tên “Hà Nội” nó cũng đã ăn sâu vào tiềm thức, ghi dấu trong biết bao di sản văn hoá vật thể và phi vật thể rồi.
Nhưng dẫu sao vẫn không ít người có lòng mong muốn trở lại với tên gọi Thăng Long không đơn giản chỉ là cái địa danh thuần tuý quá khứ như Rạp Múa rối Thăng Long, Cầu Thăng Long... hay thật là tệ khi Hà Nội đã lấy tên “Thăng Long” đặt cho một quận , trên cái địa bàn chẳng mấy có liên quan ...

Quả thật với cảm xúc, tôi rất ủng hộ cái tên “Thăng Long” được tái lập lại như để nối mạch cho một dòng chảy liên tục ngàn năm. Nhưng nghĩ đến tên gọi Hà Nội với bề dày tuy chỉ hơn một thế kỷ rưỡi trong đó có hơn 60 năm là Thủ đô của nước Việt Nam hiện đại, tất cả gắn với một thời kỳ lịch sử đầy thử thách nhưng cũng vinh quang… quả là thay thế nó không hề đơn giản.

Chính từ cái nỗi băn khoăn ấy mà tôi muốn bày tỏ trên Tuần Việt Nam vì nghĩ rằng nếu có nhiều người quan tâm và có cùng chung một mong muốn tốt đẹp cho Thủ đô chúng ta vào dịp này, biết đâu đó loé lên được những ý hay giải tỏa được những băn khăn đó. Và vào thời điểm mnột năm còn lại trước Đại lễ Nghìn năm, những ý kiến đóng góp ít nhất nó tạo nên một mối quan tâm chung, tại nên những cảm hứng hay làm chúng ta gắn bó hơn với mảnh đất này cũng như những tên gọi đã từng có trong quá khứ cũng như hiện tại...


Dương Trung Quốc

Nguồn: TuanVietNam

nbc
14/10/09, 02:22 PM
Một vài kinh nghiệm dấn thân của Kiến trúc sư Trần Thanh Vân


Lời dẫn

Thế hệ trí thức dấn thân hôm nay, trước nội tình "tơ vò" của đất nước, muốn giữ vững nhân cách ngay thẳng và tư tưởng độc lập, không ai không từng bị trả giá, dù ít hay nhiều. Kiến trúc sư Trần Thanh Vân là một trong số ấy.

Hàng chục năm trời chị đã dồn tâm lực bảo vệ Hồ Tây, một báu vật trời cho, cảnh quan tuyệt mỹ của Thăng Long, nơi mỗi tấc đất đúng là một tấc vàng. Chị đã cùng những người bạn chung chí hướng gắng sức đẩy lùi mọi mưu đồ xâm hại Hồ Tây hết đợt này đến đợt khác, dưới hình thức những dự án "mỹ miều" và cực kỳ "hấp dẫn". Chị đấu tranh với chúng đến bạc tóc, đến nỗi cũng vì ngày đêm quá quan tâm đến vận mệnh "nàng Tây Thi đất Việt" (lời ví von Hồ Tây của Cao Bá Quát) mà đành bất lực nhìn đứa con thân yêu ra đi ngay trên tay mình, rồi cha mẹ cũng nối nhau qua đời khi sự nghiệp gìn giữ Hồ Tây chưa thể nói là xong. Một người bạn yêu quý của tôi cũng đã ở vào tình cảnh chị, cũng đã phải vượt qua nỗi đau đứt ruột như chị, nên mỗi lời chị viết ra, tôi biết, như bứt từ trái tim.

Trong những dòng tâm sự của chị, giờ đây, ta đọc được một sự an nhiên, điềm tĩnh của người sau nhiều năm trải nghiệm, đã nắm được quy luật an bài của Tạo Hóa, biết vững tin vào lý tưởng mà mình theo đuổi, không lùi bước, giống tảng đá trơ gan cùng sóng gió, nhưng cũng không quá nôn nóng để đến nỗi hỏng việc. Có thể nói chị giúp cho mọi người những kinh nghiệm quý báu khi đối diện với mỗi sự việc éo le, phức tạp, đòi hỏi phải nương theo xu thế bên trong của nó mà tìm ra cách ứng phó thích đáng, đúng hơn phải xem xét tinh tường cái "mắt bão" của mọi sự cố để tránh đi những tổn thất vô ích nhằm giành cho mình phần thắng cuối cùng.

Trong ý nghĩa của những lời tự bạch, xin mời bạn đọc hãy cùng chiêm nghiệm và rút ra cho mình vài điều bổ ích, qua bài viết ngẫu hứng của Kiến trúc sư Trần Thanh Vân.

GS Nguyễn Huệ Chi



Câu chuyện về chữ “thời”

Cụ Nguyễn Ngô Thức, tên thường gọi Ngô Thức, tên hiệu Ức Cung, năm nay đã gần 90 tuổi, là hậu duệ chính gốc của đại danh nhân Nguyễn Trãi (1380-1442) ở làng Nhị Khê thuộc huyện Thường Tín Hà Nội. Là một trí thức con dòng cháu giống, thời trẻ từng là Cục trưởng Cục Đồ bản, nhưng cụ Ngô Thức rất khiêm tốn và lặng lẽ, hiện cụ đang ở cùng với người con trai trưởng trên một căn gác chật chội ở gần Đường Láng. Sống kín đáo và ẩn dật như vậy, lại thêm bệnh điếc lác do tuổi già, nhưng cụ Ngô Thức vẫn thường có khách quen ghé thăm. Mọi người đến thăm cụ do tình cảm, do muốn thỉnh giáo cụ đôi điều về lẽ sống ở đời và đặc biệt muốn cụ “gieo cho một quẻ” để xem vận hạn năm nay lành dữ ra sao.

Cụ rất giỏi về Kinh Dịch và đã từng có nhiều học trò theo cụ tìm hiểu môn khoa học thần bí này. Cụ thường nói rằng: trong Kinh Dịch thì khó nhất là nắm được chữ “thời” mà muốn nắm được “thời” thì phải biết “nhẫn”, bởi vì cho dù ý định hay, lòng dạ tốt, nhưng thiếu kiên nhẫn đều dẫn tới kết quả chẳng ra sao. Cụ đưa ra lời khuyên là, cho dù hôm nay trời còn đang u ám, bao nhiêu tin dữ đang đổ về, nhìn thấy bánh xe không phanh lao xuống dốc, ta đừng cố dùng chút lực tàn để kéo giữ nó lại, nó có thể sẽ nghiền nát ta. Hãy để cho nó lao đi, cho đến khi “Cùng tắc biến, biến tắc thông”.

Cái lẽ của chữ “thời” chính là ở chỗ đó.

Tôi từng có quan hệ khó quên với cụ Ngô Thức.

Cách đây 11 năm, khi tôi liều lĩnh cùng KTS Nguyễn Trực Luyện Chủ tịch Hội KTS Việt Nam và KTS Hoàng Phúc Thắng (đã mất) và KTS trẻ Nguyễn Hoàng Phương chống lại dự án Thủy cung Thăng Long ở bán đảo Tây Hồ, thì cụ Ngô Thức đã đi xe đạp từ khu tập thể Kim Liên đến Quảng An quận Tây Hồ thăm tôi và động viên tôi hãy dũng cảm, đừng khiếp sợ, vì nhất định chúng tôi sẽ thắng. Sau này chúng tôi hiểu ra: chiến thắng đó không phải do chúng tôi giỏi, càng không phải do chúng tôi mạnh, mà chính là do chữ “thời”. “Thời” đó có thể là một giai đoạn dài, cũng có thể chỉ là phút giây ngắn ngủi, nhưng nếu nắm được nó để làm được việc gì tốt cho xã hội hoặc ngăn cản một sai trái có hại cho đất nước, thì nó sẽ phát huy tác dụng đúng lúc. Vậy là đủ!

Hai năm sau tôi gặp một chuyện buồn và được cụ Ngô Thức chia sẻ.

Thủy cung Thăng Long xong thì tôi bị lừa mất nhà cửa, cha mẹ bị ốm nặng, tiền bạc túng thiếu và đúng trưa Rằm tháng Bảy năm Canh Thìn, đứa con trai thân yêu của tôi qua đời vì bị cảm đột ngột. Cháu lặng lẽ bỏ tôi ra đi ngay trước mặt tôi mà tôi không kịp biết. Đối với tôi trời như đã sập xuống. Toàn thân tôi tê liệt. Hôm sau đến nhà tang lễ khâm liệm cho con mà tôi tưởng như mình nằm trong đó.

Mấy hôm sau nữa cụ Ngô Thức gọi tôi đến nhà. Lúc này cụ đã yếu hơn, tai đã nặng hơn mà chân cũng đã run. Cụ đưa cho tôi mảnh giấy xé trong vở học sinh ghi sẵn những điều sau này tôi cần xem lại, rôì cụ nắm chặt hai bàn tay tôi: “Cháu đi vào giờ chính Ngọ, được nhập mộ. Quẻ này là quẻ Sơn hỏa bí, quẻ trang sức. Đẹp lắm, hình hài nó đẹp, thời tiết đẹp, đám tang cũng đẹp. Nhưng đó là cái đẹp bên ngoài, còn cái đẹp nhân văn ở bên trong thì cha mẹ phải tự tìm để hiểu xem con nó muốn dặn mình điều gì?”

Tôi cầm mảnh giấy về nhà cất đi mà lòng không sao hết tê tái.

Vậy là đã chín năm. Chín năm là thời gian đủ dài để người ta quên đi nhiều thứ. Nhưng tôi lại trải qua nhiều biến động và không thể nào quên con tôi, nếu không nói rằng tôi luôn cảm thấy nó ở bên cạnh mình: Cha mẹ tôi đều đã mất trong năm 2002, cụ ông thọ 88 tuổi và cụ bà thọ 83 tuổi, đó cũng là lẽ thường tình. Nhưng con tôi đã đòi được cho tôi ngôi nhà, một tài sản rất lớn mà có lúc tôi tưởng như mất trắng. Kỳ diệu hơn cả là con tôi đã đưa được thằng em về ở với vợ chồng tôi, một phần thưởng lớn hơn mọi phần thưởng trên đời.

Từ đó tôi có một niềm tin chắc chắn rằng trời có mắt, rằng hãy sống cho có ý nghĩa thì sẽ không bị trời phụ. Từ đó tôi tự tạo cho mình một thói quen, mỗi khi phải suy nghĩ điều gì hệ trọng, thì tôi coi như mình không tồn tại, tôi có thể đứng ngoài bản thân mình phân tích mọi tình huống sẽ xảy đến và tôi dễ dàng tìm ra cách giải quyết gọn nhẹ thông minh nhất.

Ví dụ như hôm thứ Ba vừa rôì, tôi nhận được điện thoại của một cô gái Việt Nam tên là Q.A, số điện thoại là 0988… nói rằng cô là phiên dịch cho một người Hàn quốc ở Liên danh tư vấn quốc tế PPJ. Người đó tên là “Bu”. Cô ta báo anh Bu muốn gặp tôi để trao đổi với tôi về quy hoạch Hà Nội mở rộng. Nghe ra có vẻ rất vì công việc nên lúc đầu tôi tỏ vẻ đồng ý.

Tôi hỏi:

- Cho cô biết gặp để làm gì?

Trả lời

- Nghe ý kiến cô về quy hoạch Hà Nội.

Tôi nói:

- Cô phát biểu tại hội nghị phản biện rồi và cũng viết nhiều bài trên báo mạng rồi còn gì?

Trả lời:

- Nhưng còn nhiều quan điểm khác, nên anh Bu muốn nghe lại ý kiến cô.

- Bao giờ hả cháu?

Trả lời:

- Tùy ở cô, nhưng thứ Sáu, ngày 21/8/2009 phải báo cáo Thường trực Thủ tướng Chính phủ rồi, nên anh Bu muốn gặp cô chiều thứ tư hoặc sáng thứ Năm.

Hỏi:

- Vội thế sao? Vậy gặp ở đâu?

Trả lời:

- Tại nhà cô, anh ấy không muốn cô phải đi lại vất vả.

Tôi nói:

- Nhà cô? Để cô xem xem rôì trả lời sau nhé!

Điện thoại tạm ngừng.

Nhà tôi lúc ấy không có ai, tôi nhìn tấm ảnh con trai tôi và “hỏi ý kiến” nó.

Nó bảo: “Không được đâu mẹ ơi, mẹ đang bị chiếu tướng đấy, mà người Hàn quốc lại nổi tiếng trò phong bì đi dưới gầm bàn, họ ký vơí Chính phủ ta hợp đồng vớ bở hơn 6 triệu USD thì họ sẽ đưa cho mẹ không ít đâu, lúc đó mẹ sẽ xử lý thế nào? Hơn nữa, ngày mai là ngày mồng Một tháng Bảy, cho dù không có phong bì mà chỉ có vài quả táo đặt trên ban thờ nhà ta thôi là mẹ coi như thành liệt sĩ rồi!”

Ý kiến của nó đúng quá.

Một lúc sau điện thoại lại reo:

- Cô ơi, anh Bu nghe nói cô đồng ý gặp thì anh ấy vui lắm. Anh Bu mời cô chiều mai đến khách sạn Inter-Continental ở gần nhà cô để uống trà.

Thế là họ đã tiến thêm một bước và càng dễ cho tôi từ chối:

- Cháu nói hộ với anh Bu là cô rất cám ơn, nhưng cô không có thói quen làm việc bên bàn trà. Vậy nếu anh ấy muốn nghe ý kiến đóng góp của cô thì gửi cho cô một bộ tài liệu, sau khi đọc kỹ rồi cô sẽ góp ý kiến bằng bài viết. Nếu không, thông qua Chính phủ VN cô sẽ phát biểu ý kiến của mình. Thế thôi nhé, chào cháu!

Chuyện đến đây coi như chưa kết thúc, bởi vì các quan hệ phức tạp vẫn còn tiếp diễn và người ta có thể sẽ còn gặp nhau trong phòng hội nghị hay ở đâu đó với những cái bắt tay, những lời cám ơn và… cả những âm mưu.

Cuộc sống ngày nay là vậy, một thường dân, một mụ già đã bị “vứt vào sọt rác” như tôi mà còn cần tỉnh táo, cần khôn khéo trong ứng xử và cả bản lĩnh biết vượt qua những cái rất tầm thường trong con người mình, thì những người khác với cương vị, với trọng trách đang đảm nhiệm, họ có vượt qua nổi những cái bẫy đang giăng ra với họ hay không? Tôi rất thông cảm với họ và tôi hiểu thật không dễ chút nào, bởi vì trong mỗi con người chúng ta đều có phần “con” tầm thường và phần “người” cao quý, chưa nói đến sự chênh lệch đáng kể về trình độ giáo dục và trải nghiệm cuộc đời. Bởi vậy, ứng xử, tiến lui cho khéo là cả một bài toán khó và rất cần sự trợ giúp của Thánh nhân ở nơi xa và bè bạn ở gần bên.

Riêng tôi, tôi muốn khuyên mọi người rằng đừng vội vã kết luận điều gì khi vừa chợt nhìn thấy một hình ảnh chướng mắt, hoặc vừa nghe thấy một tin đồn chưa thuận tai. Hãy tập nén mình lại và hãy “nhìn sâu” vào bên trong, ta sẽ thấy nhiều điều và nắm bắt được cái sẽ đến ngày mai.

Ngày mai mới là quan trọng.

Các cụ có câu rằng “cây ngay không sợ chết đứng”, vậy nếu thấy cái cây chưa thật ngay, ta có để cho nó chết đứng hay không? Hẳn là không. Nếu cứ mặc kệ cho cây chưa ngay chết hết, thì ta là cây ngay, ta đứng lại với ai?

TTV

nbc
19/10/09, 09:29 AM
“Kẻ nổi loạn” ở Thượng viện Mỹ


Với phần lớn các nghị sĩ Cộng hòa ở Washington, hành động ngược lại giới lãnh đạo đảng là sự tự sát chính trị. Nhưng thượng nghị sĩ Olympia Snowe là một ngoại lệ.


Từ nhiều ngày qua, nữ thượng nghị sĩ 62 tuổi của bang Maine này đã trở thành nhân vật gây tranh cãi nhất tại Washington. Bà là nghị sĩ Cộng hòa duy nhất bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải cách hệ thống bảo hiểm y tế của Tổng thống Barack Obama trong cuộc họp của Ủy ban Tài chính thượng viện ngày 13-10.

Sau cuộc bỏ phiếu, Tổng thống Obama đã ca ngợi bà Olympia Snowe là đã thể hiện “sự dũng cảm chính trị và sự nghiêm túc trong mục tiêu” mà bà đeo đuổi. Trong khi đó, nhiều thành viên của Đảng Cộng hòa lại nổi giận, gán cho bà Snowe cái mác “kẻ nổi loạn”, “kẻ phản bội” bởi trước đó, hết ngày này qua ngày khác, những người cùng đảng đã tìm cách gây áp lực để ngăn cản bà ngả về phe đối thủ. Giải thích lý do bỏ phiếu của mình, bà Snowe chỉ đơn giản nói rằng bà chống lại một hệ thống bảo hiểm y tế đã “ngày càng trở nên tồi tệ hơn”.

Cuộc đời đầy bi kịch

Nhiều người quen biết bà cho biết chính những trải nghiệm nghiệt ngã trong đời đã ảnh hưởng rất lớn đến quan điểm của bà. “Câu chuyện cuộc đời của Olympia là yếu tố quyết định trong cách bà ấy làm việc và ra quyết định” - cựu thượng nghị sĩ Cộng hòa Warren B. Rudman nhận xét.

Mẹ của bà Snowe qua đời vì bệnh ung thư vú khi bà mới 8 tuổi, và chỉ một năm sau đó đến lượt cha bà mất vì bệnh tim. Cô bé Snowe mồ côi ngày ấy phải đến sống ở nhà cô chú, những người cũng không khá giả gì lại phải nuôi tới năm người con. Vài năm sau, bệnh tật lại sớm cướp đi sinh mạng của người chú. Số phận nghiệt ngã cứ tiếp tục đeo bám cuộc đời bà. Người chồng đầu tiên của bà thiệt mạng trong một vụ tai nạn xe hơi khi bà 26 tuổi.

“Khi mất cha mẹ từ sớm, bạn phải học cách đứng dậy và cố gắng tiến bước - bà Snowe tâm sự - Và ở vị trí của tôi, bạn phải đưa sự thấu cảm với những trải nghiệm cá nhân vào quá trình lập pháp”.

Bà Snowe kể quãng thời gian mẹ bà chiến đấu với bệnh ung thư là một “cuộc chiến khủng khiếp”. Bà không thể nhớ liệu mẹ mình có bảo hiểm y tế hay không, nhưng gia đình bà luôn thiếu thốn bởi “chúng tôi chẳng có gì cả”. Bà kể: “Tôi đã mất mát quá nhiều trong cuộc đời” như để gợi lên nỗi ám ảnh về sự bất an của những người mà cuộc sống luôn bị nỗi lo sợ bệnh tật đe dọa.

Chính vì vậy, trong suốt sự nghiệp của mình, bà luôn chiến đấu để bảo vệ sức khỏe phụ nữ trước các căn bệnh như ung thư vú, ung thư buồng trứng, loãng xương... Khi người chồng đầu tiên của bà qua đời, bà cứ mãi nghĩ đến số phận của những đứa trẻ mất cha mẹ như bà. “Khi đó chúng tôi không có con, nhưng tôi nghĩ nếu chúng tôi có thì sao? Mọi người sẽ làm gì? Đó là lý do tôi nỗ lực bảo vệ phụ nữ và các gia đình”.

Bà Sandy Maisel, giám đốc Trung tâm Goldfarb tại ĐH Colby ở Maine, nhận xét: “Rất nhiều thượng nghị sĩ sáng dậy nhìn vào gương và thấy mình là tổng thống Mỹ tương lai, còn Snowe thì không như vậy. Bà thức dậy, nhìn vào gương và thấy một người luôn tìm cách giải quyết các vấn đề khó khăn”.

Tất cả vì người dân

Trước đó vài tuần, phe Cộng hòa đã nhiều lần cảnh báo sẽ “trừng phạt” bà nếu bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải cách bảo hiểm y tế. Họ nói đến việc ngăn cản bà ứng cử vào Ủy ban thương mại trong thượng viện.
Ngược lại, Đảng Dân chủ liên tục vận động bà Snowe nói “có” với dự luật. Tuy nhiên, bà hoàn toàn giữ kín quyết định của mình cho đến phiên họp của Ủy ban Tài chính thượng viện. Bà chỉ nói rằng bà sẽ quyết định “vì những điều tốt đẹp nhất cho người dân Mỹ, vì lợi ích của đất nước”.

Đây không phải là lần đầu tiên bà có quyết định đi ngược lại giới lãnh đạo Đảng Cộng hòa. Bà là một trong ba thượng nghị sĩ Cộng hòa ủng hộ kế hoạch kích thích kinh tế của Tổng thống Obama. Bà từng chống lại tổng thống George Bush khi ủng hộ dự luật cung cấp y tế miễn phí cho hàng triệu trẻ em không có bảo hiểm.

Dù không được các nhân vật tai to mặt lớn trong Đảng Cộng hòa ưa chuộng, nhưng bà lại được người dân bang Maine nhiệt tình ủng hộ. Năm 2006 bà dễ dàng tái đắc cử và hiện tỉ lệ ủng hộ của bà ở mức trên 70%. Bà Snowe được báo Time đánh giá là một trong mười nhân vật có ảnh hưởng nhất tại thượng viện, nơi bà đã tại vị từ năm 1995. Trong 35 năm hoạt động chính trị, bà chưa một lần thất cử.

“Bà ấy luôn đứng vững trước mọi cuộc tấn công” - nhà cố vấn chính trị Potholm khẳng định.



HIẾU TRUNG

(Theo New York Times, The Globe and Mail, CNN)

huuthoqt1984
19/10/09, 08:28 PM
Em phải xin lỗi người đã post bài này nhưng thật sự mà nói: chính người đăng bài và người post tại đây, cả các bạn trước sau và cả chính bản thân : có ai ko mong mình và con mình sau này ko có 1 cái bằng ĐH ?

Mình thì nhận thấy rằng trên thế giới này có rất nhiều nhân vật "xuất chúng" nhưng không cần một mãnh bằng Đại Học nào cả. Dĩ nhiên khi con cháu mình được học hành đàng hoàng, có bằng cấp càng cao thì ta càng thấy hãnh diện. Nhưng ta càng thấy hãnh diện hơn khi nó có những thành công mà rất nhiều người dù có bằng cấp này, bằng cấp nọ vẫn bất lực.
Thời đại ngày nay, con người có thể học mọi lúc, mọi nơi. Chỉ cần có ước mơ, khát vọng và niềm tin mãnh liệt.
Vì vậy, theo tôi nghĩ, ngoài con đường theo học Đại Học, còn có nhiều con đường khác để lựa chọn. Vấn đề là chọn hướng đi nào cho phù hợp với khả năng và ý muốn của mình.
.
Mình cũng biết:
Một người lái mấy đào lương tháng 7 triệu, hiện nay đã là ông chủ nhỏ.
Một người lái máy khoan (cọc nhồi) lương tháng 12 triệu (Công ty cũ của mình, lương cao hơn cả anh Đội Trưởng khi đó)

maixuannhat
22/10/09, 09:33 PM
Mời mọi người đọc bức thư của một em lớp 8 viết gửi Chủ tịch nứoc Nguyễn Minh Triết. Bức thư đã đạt giải nhất UPU của VN lần thứ 38 và tin mới nhất , bức thư này vừa đạt giải nhì Quốc tế trong mùa UPU lần 38 vừa qua :
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/t14859_uPu.jpg (http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i14859_uPu.jpg)
( cô bé trong buổi lễ nhận giải )

Đề tài: “Hãy viết thư cho một người nào đó để nói vì sao điều kiện lao động thuận lợi có thể mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn”.

Họ tên: Nguyễn Đắc Xuân Thảo

Lớp: 7/10, Trường THCS Nguyễn Huệ, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng, Việt Nam.

Đà Nẵng ngày 20 tháng 12 năm 2008

Bác Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết kính mến!

Hẳn giờ này bác rất bận rộn trong văn phòng làm việc, với hàng tá giấy tờ quan trọng đang chờ bác xem xét, thông qua, phê chuẩn? Có lẽ bác sẽ ngạc nhiên khi thấy bên cạnh đống giấy tờ ấy là một bức thư nhỏ - bức thư của một cô bé chưa từng được gặp bác ngoài đời. Dẫu ngạc nhiên nhưng xin bác hãy bỏ một ít thời gian để đọc nó. Còn vì sao mà cháu lại viết thư cho bác ư? Chắc hẳn bác còn nhớ cách đây hai tuần, nhân chuyến thăm một nhà máy ở tỉnh X, bác đã ân cần dặn dò các vị lãnh đạo ở nhà máy phải chú ý đảm bảo an toàn lao động và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.

Khi xem Đài truyền hình Việt Nam phát hình trực tiếp buổi nói chuyện ấy, cháu quyết định viết thư cho bác để kể về chuyện của gia đình cháu và những thắc mắc, băn khoăn của một cô bé “ăn chưa no, lo chưa tới” như cháu về những vấn đề mà bác từng đề cập.

Bác Nguyễn Minh Triết kính mến!

Cách đây chưa đầy nửa năm, gia đình cháu có một cuộc sống bình thường như bao gia đình khác. Bố cháu là một công nhân của một cơ sở sản xuất các sản phẩm từ tôn. Mẹ cháu là chủ tiệm làm đầu nho nhỏ tại nhà. “Nhìn lên thì không bằng ai, nhưng nhìn xuống thì thấy mình còn sung sướng, hạnh phúc hơn rất nhiều người” – bố cháu vẫn thường dạy thế để chúng cháu bằng lòng với cuộc sống thanh bạch, không đua đòi, vòi vĩnh… Dù nhà không khá giả nhưng hai anh em cháu vẫn được tạo điều kiện tốt nhất để học tập.

“Phải học để có cái vốn cho tương lai” – cháu nhớ mãi những lời nói mộc mạc và giản dị như thế của bố cháu. Có lẽ cuộc sống của gia đình cháu cứ thế yên ả trôi đi nếu như không có một ngày kia bất ngờ mẹ cháu nhận được điện thoại từ xưởng của bố cháu thông báo bố bị tai nạn lao động. Từ bữa đó trở đi, sinh hoạt của gia đình cháu bị xáo trộn. Cửa hiệu của mẹ cháu phải tạm đóng cửa và hai anh em cháu phải tự lo cho nhau để mẹ có thời gian ra vào viện chăm sóc bố.

Những lần vào thăm bố, nhìn đôi chân bó bột của bố, cháu cứ nghĩ rồi nó sẽ lại lành lặn và bố cháu lại có thể bước những bước nhanh nhẹn, vững chãi… Thật đau xót làm sao, bởi lẽ vết nứt gãy ở chân thì đã liền nhưng chính sự tổn thương cột sống đã làm bố cháu không thể đi lại được nữa. Phần đời còn lại của bố cháu sẽ mãi mãi gắn với chiếc xe lăn. Điều này làm cháu thật bất ngờ. Lúc vào viện thăm bố, chúng cháu cũng đều được bố trấn an là “bố không sao đâu”. Và khi vào hỏi mẹ về bệnh tình của bố thì chúng cháu chỉ nhận được những câu trả lời qua loa, ậm ừ cho xong chuyện. Chúng cháu cứ ngỡ là do mẹ mệt mỏi hóa ra la mẹ đã giấu anh em chúng cháu và vì chính bản thân mẹ cũng không muốn chấp nhận sự thực này.

Bác biết không, gánh nặng gia đình lúc này đè nặng lên đôi vai gầy của mẹ cháu. Cháu thương bố và thương mẹ quá nên cứ thầm trách ông trời sao lại để tai nạn xảy ra với bố cháu như thế! Trong trí óc non nớt của cháu, nguyên nhân dẫn đến những tai nạn đáng tiếc cho bố cháu chính là sự đưa đẩy của số phận. Chẳng đổ lỗi cho điều kiện lao động không an toàn ở xưởng sản xuất vì cháu tin rằng ở đấy cũng như bất kì nơi đâu thì an toàn lao động cũng là trên hết. Cháu đã nghĩ một cách ngây thơ rằng nếu không đảm bảo được những yêu cầu tối thiểu của an toàn lao động thì xưởng đã chẳng được cấp thẩm quyền cấp phép hoạt động. Chắc hẳn cháu sẽ mãi suy nghĩ như thế bác ạ, nếu như không có cái lần ấy…

Hôm ấy, do buồn nhớ công việc và đồng nghiệp, do bứt rứt vì phải ngồi mãi một chỗ nên bố đã bảo cháu đẩy xe đưa bố đến thăm xưởng. Vì chưa một lần đến nơi bố đã từng làm việc nên nghĩ đến việc được nhìn thấy nó, nghĩ đến niềm vui của bố khi được gặp lại bạn bè mà cháu cứ háo hức quên bẵng cả mêt nhọc. Thế mà bác có biết không, khi đặt chân vào bên trong xưởng làm việc của bố ngày trước, cháu đã choáng váng như không tin vào mắt mình nữa. Cái quang cảnh xưởng làm cháu bất ngờ, hụt hẫng.

Một cơ sở sản xuất với nhà xưởng được xây dựng khá tạm bợ, sức khỏe và tính mạng công nhân có thể bị đe dọa bất cứ lúc nào. Những chiếc giá để thành phẩm được gá trên bức tường không hề chắc chắn chút nào. Điều kiện ánh sáng không đầy đủ, vệ sinh không thực sự đạt yêu cầu. Nhiều công nhân không được trang bị đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động. Khói, bụi, tiếng ồn ào và còn bao nhiêu thứ khác nữa. Thế mà mọi người vẫn phải làm việc. Vì được trả công cao? Vì miếng cơm manh áo?

Và, cháu tự hỏi tại sao bố cháu lại từng làm việc trong môi trường như vậy và một xưởng sản xuất như thế này sao lại được cấp phép hoạt động trong khi điều kiện lao động vô cùng bất lợi cho người lao động? Và, cháu cũng tự hỏi rằng với điều kiện lao động như thế, nếu bố cháu và những người đồng nghiệp của bố cháu cứ tiếp tục làm việc ở đây thì họ có thể có được cuộc sống tốt đẹp hơn không?

Cháu còn băn khoăn với câu hỏi liệu những tai nạn đã từng xảy ra với bố cháu và một số chú bác khác (mà cháu vô tình được biết thêm qua câu chuyện giữa bố cháu và bạn bè làm trong xưởng ) đã có thể dừng lại chưa? Còn tai nạn nào sẽ xảy ra nữa? Còn gia đình nào sẽ mất đi chỗ dựa? Còn có những đứa bé biết yêu thương bố mẹ vất vả cực nhọc, đánh đổi nhiều thứ cho cuộc mưu sinh nhưng chẳng thể làm được gì như anh em cháu nữa hay không?...

Bác Nguyễn Minh Triết kính mến!

Cháu nghĩ rằng, đọc đến đây hẳn bác đã đoán ra được điều cháu muốn chia sẻ với bác qua bức thư này? Cháu còn quá nhỏ để có thể hiểu hết được mọi thứ, nhưng cháu đã không còn quá ngây thơ khi nhìn nhận một số điều đang diễn ra xung quanh cháu.

Cháu vẫn nhớ mãi vẻ mặt đầy sự quan tâm, lo lắng khi bác đi xem công nhân của một nhà máy ở tỉnh X làm việc. Cháu vẫn nhớ sự ân cần trong lời căn dặn các vị lãnh đạo của nhà máy hãy chăm lo cho người lao động. Cháu biết bác hiểu rất rõ mối quan hệ giữa cuộc sống tốt đẹp của người lao động và điều kiện lao động.

Cháu rất mong muốn và tin rằng bác cùng các bác lãnh đạo khác sẽ có những chủ trương, những hướng giải quyết thích hợp để giảm thiểu đến mức thấp nhất tai nạn lao động và giúp biến ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp của người lao động thành hiện thực. Cháu rất muốn một lần nào đó bác đến thăm khu công nghiệp nơi có phân xưởng sản xuất – nơi bố cháu đã để lại một phần của cuộc đời trẻ khỏe trước khi gắn liền với chiếc xe lăn… để có thể tận mắt nhìn thấy những người lao động nghèo của quê cháu đã sống như thế nào…

Bác hãy đến khi có dịp bác nhé. Cháu rất mong điều ấy!

Cháu xin dừng thư ở đây!

Cháu kính chúc bác sức khỏe!

Cháu Nguyễn Đắc Xuân Thảo

Nguồn : tin247.com

nbc
23/10/09, 03:27 PM
Cháu rất mong muốn và tin rằng bác cùng các bác lãnh đạo khác sẽ có những chủ trương, những hướng giải quyết thích hợp để giảm thiểu đến mức thấp nhất tai nạn lao động và giúp biến ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp của người lao động thành hiện thực.

Lời bàn:

Cháu hãy cứ ước mơ, đó là quyền của bao trẻ em khác và...không loại trừ của những người lớn khác!

Chúng ta vẫn phải sống nhờ những ước mơ ấy.

Song hiện thực lại là một chuyện khá khác cháu ạ.

Nhiều "người lớn" hiện nay đã và vẫn có lỗi với các cháu và gia đình các cháu.

Họ vẫn "hồn nhiên" ăn chặn những miếng bánh chưng trong dịp Tết(1) (http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=B%E1%BB%9Bt+x%C3%A9n+ti%E1%BB%81n+h%E1%BB%97+T%E 1%BA%BFt+cho+d%C3%A2n+ngh%C3%A8o&btnG=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm&meta=&aq=f&oq=) mà lẽ ra các cháu được hưởng từ nguồn ngân sách do chính ông bà, cha mẹ các cháu đã chắt chiu từng giọt mồ hôi, nước mắt để góp vào.

Họ không ngại giật những gói mỳ tôm, những hạt gạo(2) (http://www.google.com.vn/search?hl=vi&source=hp&q=%C4%83n+ch%E1%BA%B7n+ti%E1%BB%81n+c%E1%BB%A9u+tr %E1%BB%A3&btnG=T%C3%ACm+v%E1%BB%9Bi+Google&meta=&aq=f&oq=)... mà mỗi khi bão lụt, những tấm lòng sẻ chia của đồng bào khác đã có hảo tâm muốn gửi tới các cháu.

Họ vẫn ngang nhiên cưỡi trên những chiếc xe sang trọng đáng giá hàng ngàn con trâu(3) (http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=3.000+con+tr%C3%A2u&btnG=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm&meta=&aq=f&oq=) trong khi các cháu phải học tập phải học tập trong những ngôi trường được xây cất như cách đây hàng ngàn năm tổ tiên chúng ta đã từng làm.

Họ vẫn tiếp tục những dự án có thể gây nguy hiểm tới tính mạng và tài sản tới hàng vạn người với những quả bom nước(4) (http://www.google.com.vn/search?hl=vi&q=A+V%C6%B0%C6%A1ng+x%E1%BA%A3+l%C5%A9&btnG=T%C3%ACm+ki%E1%BA%BFm&meta=&aq=f&oq=), hoặc bom gì khác nữa... treo lơ lửng trên đầu họ, vì lợi ích của một nhóm người nào đó.

Họ chả mấy băn khoăn(5) (http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=343850&ChannelID=13) khi đùa cợt trên niềm hy vọng của hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn con người đang khao khát tri thức...

...

Cứ mơ ước cháu ạ, vì để có thể đi trên đường đời, sẽ thật khó khăn nếu không có những ước mơ.

nbc
25/10/09, 11:34 AM
Hướng đi của đại học


Tôi không biết rõ đại học Việt Nam đang đi thế nào và sẽ đến đâu, nhưng tôi biết đại học ở bên ngoài, trên thế giới, đang đi làm sao, đang biến chuyển thế nào, và tôi cũng biết: với thời đại của toàn cầu hóa, những biến chuyển đó sẽ lan rộng ra đến ta, đại học Việt Nam sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng. Vậy nói chuyện bên ngoài cũng là nói chuyện của ta, tranh luận bên ngoài sẽ giúp ta thấy rõ vấn đề hơn để tự mình tìm hướng đi cho chính mình.

Sáng nay (21/10), GS Cao Huy Thuần đã tới và nói chuyện với các bạn sinh viên trường đại học Hoa Sen, TP. Hồ Chí Minh về đại học. Tuần Việt Nam xin giới thiệu lại bài nói chuyện này của GS.

Tôi sẽ nói chuyện với các bạn sinh viên về đại học

Tôi chân thành cảm tạ Đại Học Hoa Sen đã cho tôi vinh dự được góp phần mở đầu năm học với một “bài giảng đầu năm”. Điều này nói lên hai ý nghĩa. Một, là uy tín và quan hệ của Đại Học Hoa Sen đang mở rộng ra đón thế giới đại học ở bên ngoài. Hai, là tầm quan trọng của những lễ lược truyền thống trong đại học mà lễ khai giảng là một. Bản thân tôi, khi còn là sinh viên, tôi đặc biệt thích truyền thống mở đầu năm học bằng một bài giảng đầu năm dành cho toàn thể sinh viên, không phân biệt lớp cao lớp thấp. Đến khi đi dạy, tôi lại đặc biệt thích bài nói chuyện cuối năm học, khi cấp phát bằng, trong các đại học Mỹ. Ai học môn dân tộc học đều biết: lễ nghi quan trọng vô cùng trong xã hội, bởi vì đó là cách truyền đạt ý nghĩa và cảm xúc đến đầu và tim của mỗi thành viên, thắt chặt tình liên đới và thắp lên một hoài bão cộng đồng. Bởi vậy, tôi rất hân hạnh và sung sướng được làm sống lại một truyền thống đẹp đẽ của đại học với bài khai giảng đầu năm này.

Tôi sẽ nói chuyện với các bạn sinh viên về đại học. May mắn cho tôi, đề tài đã có sẵn; đó là đề tài của Hội Thảo vừa diễn ra hôm qua, hôm kia, tại Đại Học Hoa Sen: ” Hướng đi của Đại học Việt Nam vào thế kỷ 21″. Tôi không biết rõ đại học Việt Nam đang đi thế nào và sẽ đến đâu, nhưng tôi biết đại học ở bên ngoài, trên thế giới, đang đi làm sao, đang biến chuyển thế nào, và tôi cũng biết: với thời đại của toàn cầu hóa, những biến chuyển đó sẽ lan rộng ra đến ta, đại học Việt Nam sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng. Vậy nói chuyện bên ngoài cũng là nói chuyện của ta, tranh luận bên ngoài sẽ giúp ta thấy rõ vấn đề hơn để tự mình tìm hướng đi cho chính mình.

[/URL]http://www.tuanvietnam.net/assets/images/thuvien4.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/thuvien4.jpg)

Thế thì, đại học Âu Mỹ đang biến chuyển thế nào? Tại sao đây là những biến chuyển sâu rộng, như đang vượt giai đoạn? Tôi bắt đầu bằng một tình trạng xảy ra đã khá lâu, hàng chục năm nay, có thể xem như nguyên nhân xa, nhưng lại là nguyên nhân đầu tiên, đầu mối của những biến chuyển tiếp theo sau đó. Tình trạng này xảy ra khắp nơi, ở ta cũng vậy: đó là sự bùng nổ của đại học, từ đại học dành cho một thiểu số ưu tú đến đại học mở ra cho quảng đại quần chúng. Chỉ trong vòng 30 năm thôi, từ 1965 đến 1995, trong các nước đã phát triển, tỷ số sinh viên trong dân chúng đã tăng từ 10% lên 45%. Ở Pháp chẳng hạn, năm 1960 chỉ có 310.000 sinh viên ghi danh; năm 2001 con số ấy tăng lên 2,1 triệu. Như một quả bóng, dân số đại học căng lên như muốn vỡ tung, đặt ra không biết bao nhiêu vấn đề cho Nhà nước, cho xã hội, cho chính trị, cho chính sự quân bình trong lòng đại học, cho chính sự điều hành, quản lý, hoạt động nội bộ của đại học.

Tình trạng ở VN cũng vậy thôi. Bản thân tôi, khi bước chân vào Đại Học Sài Gòn năm 1955, tưởng như mình đã thay đổi giai cấp, từ một anh học trò quèn nghèo mạt ở tận ngoài Trung, nhảy tót lên mây, rơi xuống thượng đỉnh của quý tộc. Việc đầu tiên mà tôi làm khi đặt chân lên đất Sài Gòn để vào đại học là đến ngay đường Lê Thánh Tôn đóng một đôi giày. Đó là đôi giày đầu tiên trong đời tôi, vì đã là sinh viên thì không thể mang dép. Âm thầm, sâu kín trong lòng, cả thế hệ chúng tôi đều nghĩ rằng tương lai chờ đón chúng tôi là những cô vợ nếu không sánh được với hoa hậu quốc tế Nha Trang thì ít ra cũng không thua gì các á hậu đồng bằng sông Cửu.

Đại học ưu tú đã trở thành đại học quần chúng, hậu quả đầu tiên là không Nhà nước nào đủ tiền để gánh vác toàn thể chi phí cho đại học công. Từ đó, nẩy sinh ra một loạt vấn đề: Đại học công có thể tự kiếm ra tiền để phụ thêm vào ngân quỹ do Nhà nước cấp? Tiền đó kiếm ra từ đâu? Từ các xí nghiệp tư khai thác bằng sáng chế của đại học? Từ tiền học phí của sinh viên được tăng lên gấp đôi, gấp ba, gấp mười? Hay là từ việc xuất khẩu đại học, bán giáo trình, mở chi nhánh khắp nơi?

Ở đây, tôi phải phân biệt hệ thống đại học ở Mỹ và hệ thống đại học ở Âu châu. Ở Mỹ, các trường đại học danh tiếng có thể là công hoặc tư, thường là tư. Nhưng dù là công hay tư, học phí đều đắt, càng vào trường danh tiếng càng phải trả giá đắt, đắt đến mức báo động. Ở Âu châu, học phí ở đại học công rất ít, ít đến mức không đáng kể so với Mỹ, nhưng chỉ cần tăng lên chút ít là sinh viên xuống đường ngay, bộ trưởng có cơ mất ghế. Một điểm khác biệt nữa giữa Mỹ và Âu châu, là đại học Mỹ đã nằm trong guồng máy vận hành của tư bản chủ nghĩa từ lâu, kinh doanh không phải là vấn đề mới; trái lại, ở Âu châu, đại học công không có quyền kinh doanh, kinh doanh là trái với chức năng của đại học, bởi vậy nhận đồng tiền từ lĩnh vực tư, giao du với xí nghiệp là những ngoại lệ rất quyến rũ nhưng rất khó vượt qua.

Khác biệt đó tạo thuận lợi cho đại học Mỹ: xuất khẩu đại học để kinh doanh, để kiếm tiền, không đặt vần đề nguyên tắc gì cho đại học Mỹ. Cho nên đại học Mỹ bung ra ở Âu châu, ở khắp thế giới, cùng với làn sống toàn cầu hóa, Việt Nam ta đâu có lạ lùng gì. Mà không phải chỉ các đại học đích thực: các chi nhánh của các hãng lớn cũng tích cực không kém. Microsoft, Montorola lúc đầu cũng chỉ mở lớp để đào tạo nhân viên của họ thôi, nhưng sau lại mở rộng ra, đào tạo cả “khách hàng” không biên giới, kèm thêm một tấm “bằng”, mà giá trị trên thị trường lao động có khi cao hơn cả bằng cấp của các đại học quốc gia. Microsoft đẻ ra bao nhiêu chi nhánh con như thế? 1700 trên khắp thế giới. Cái thị trường xuất khẩu giảng văn trên mạng ấy càng ngày càng bành trướng, các đại học danh tiếng nhất ở Mỹ, như MIT, đóng góp tích cực. Và tiền chui vào túi họ là bao nhiêu? Từ 97 triệu Mỹ kim năm 1996, con số tăng vọt lên 3,9 tỷ năm 2002.

Như các bạn đều biết, chỗ nào có thị trường, chỗ ấy có cạnh tranh. Thị trường ngày nay đã toàn cầu hóa, cạnh tranh cũng toàn cầu hóa. Đại học Mỹ đã bung ra, đã tấn công, trên toàn thế giới, tất nhiên các đại học khác của các nước tiên tiến, nhất là Âu châu, cũng phải lên gân lên cốt để, hoặc bảo vệ thị trường nội địa, hoặc cạnh tranh trên những thị trường khác. Mà cạnh tranh, đâu phải chỉ mỗi việc xuất khẩu giảng văn! Còn bao nhiêu hình thức khác. Ví dụ: mở cửa đón nhận sinh viên tứ xứ. Năm 2002, trên thế giới có 2 triệu sinh viên học ở ngoài nước của mình.

Trong số đó, riêng nước Mỹ đã chiêu sinh được 583.000 sinh viên. Ngôn ngữ thông thường của ta gọi đó là đi học. Văn chương hơn chút nữa thì gọi đó là du học. Nhưng cái đầu mua bán của Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO) phát ra ngay ngôn ngữ mua bán, kinh doanh: họ gọi đó là “tiêu thụ tại ngoại quốc”, mà tiêu thụ tại ngoại quốc là một bộ phận của thương mại quốc tế. Đối với người sinh viên đi du học, họ trông chờ được hưởng nhận một vốn liếng giáo dục đầy lợi ích; đại học mà họ đến học cũng sung sướng làm cái nhiệm vụ ấy, nhưng đồng thời cũng nhắm đến một lợi ích khác có thoang thoảng mùi hương của đồng tiền: với những đồng tiền ấy, họ tăng cường ngân sách của họ để phát triển đại học.

Nghĩa là gì? Nghĩa là, chỉ với một ví dụ đó thôi, các bạn thấy hai mặt của đại học ngày nay ở các nước tiên tiến: một mặt là công ích, phục vụ xã hội; một mặt là kinh doanh, phục vụ cái túi của mình. Đừng tưởng đại học tư ở Mỹ không biết công ích. Uy tín của Harvard làm ai cũng mến mộ đại học của Mỹ. Và sinh viên thụ giáo ở đâu, khi về lại nước đều có khuynh hướng phát huy văn hóa của nước mà mình đã đến học. Sách vở ngày nay gọi sức thu hút ấy là sức mạnh mềm. Đại học Mỹ là một trong những sức mạnh mềm sáng giá nhất của nước Mỹ. Coi chừng, có một đại cường khác cũng đang phát triển cái sức mạnh mềm ấy một cách quy mô hơn: tôi muốn nói Trung Quốc. Vậy, đừng tưởng các đại học tư ở Mỹ không biết công ích. Thì cũng vậy, đừng tưởng các đại học công ở Mỹ không biết kinh doanh: kinh doanh bây giờ trở thành nghề của chàng.

[URL="http://www.tuanvietnam.net/assets/images/thuvien2.jpg"]http://www.tuanvietnam.net/assets/images/thuvien2.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/thuvien2.jpg)

Vừa rồi, tôi đã đưa ví dụ “tiêu thụ tại ngoại quốc”. Bây giờ, một ví dụ khác, và tôi dùng ngôn ngữ cung cầu của thị trường: cung những chương trình áp dụng tại ngoại quốc, tiếng Mỹ gọi là offshore. Hình thức thay đổi từ những dạng thương mại khá thô bạo đến những dạng làm ăn rất nghiêm túc mà Việt Nam ta cũng biết: cấp văn bằng có dấu ấn của hai đại học (twinning); mở campus ở ngoại quốc dạy những ngón chơi điệu nghệ của các trường thương mại, như Đại Học Chicago mở ở Barcelone, như INSEAD mở ở Singapore. Lại một con số hùng biện: năm 1996-97, 3/4 các trường đại học Anh đã đảm nhiệm cái dịch vụ chuyển đại học ra ngoại quốc như thế cho 140.000 sinh viên; năm 1999, 35 đại học Úc đề nghị 750 chương trình cho 32.000 sinh viên. Đồng tiền đi trước, chức tước đi sau.

Tôi vừa nói đến đại học Anh và đại học Úc. Tôi sắp nói đến đại học ở Âu châu. Vì đại học đã biến thành một thị trường, và vì sức tấn công của đại học Mỹ quá mạnh, đại học Âu châu phải làm gì để cạnh tranh? Muốn cạnh tranh phải mạnh như Mỹ, mà muốn mạnh như Mỹ thì phải có tiền. Đâu phải chỉ ở Việt Nam ta tiền đâu là chuyện đầu tiên Các đại học Âu châu và các Nhà nước ở Âu châu phải điên cái đầu để cải tổ lại nguyên tắc: làm sao làm một cái đám cưới không giá thú giữa lĩnh vực công và lĩnh vực tư, giữa nguyên tắc công ích của đại học công và nhu cầu móc tiền từ túi của những tài chính tư? Lại một nguyên tắc nữa cũng phải điên cái đầu để cải tổ: làm sao để cho đại học có thể được quản lý hiệu quả như là một xí nghiệp mà vẫn không mất chức năng giáo dục của mình?

Tại sao các đại học Âu châu phải điên cái đầu?

Tại vì các đại học Mỹ đã biến kiến thức thành một món hàng, và kiến thức ngày nay là món hàng quan trọng nhất, quan trọng đến nỗi kinh tế đã chuyển từ kinh tế công nghệ qua kinh tế tri thức. Tri thức trở thành mũi nhọn trong sức mạnh của một nước, là chìa khóa mở cửa thành công cho cạnh tranh. Mà tri thức nằm ở đâu là chính nếu không phải là trong đại học? Bởi vậy, nói rằng các đại học cạnh tranh là nói ở mức thấp; phải nói ở mức cao rằng: chính các quốc gia cạnh tranh nhau qua hệ thống đại học của mình. Đại học mạnh thì nước mạnh; đại học yếu thì nước sụm bà chè. Các nước Âu châu biết vậy nên trước hết họ tụ họp đại học của nhau lại, năm 1999, trong một chương trình đào tạo chung gọi là “quá trình Bologne”, và sau đó mỗi nước có một chính sách riêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường đại học của mình lên sao cho bắt kịp những đại học danh tiếng nhất của Mỹ.

Nhưng, để bắt kịp đại học Mỹ trong thời đại toàn cầu hóa này, khó lòng không đi theo con đường của Mỹ, tức là con đường thị trường hóa kiến thức. Thế nào là thị trường hóa kiến thức?

Để trả lời câu hỏi cụ thể này, lại phải đặt một câu hỏi khác, cắc cớ: thế nào là kiến thức? Kiến thức là hiểu biết. Học là để biết. Nhưng trong cái biết, có cái biết tổng quát, có cái biết cục bộ. Biết vặn một con ốc là kiến thức cục bộ. Biết cách vận hành của cả bộ máy xe hơi là kiến thức tổng quát. Trong khoa học cũng vậy, lý tưởng của khoa học là biết càng tổng quát càng tốt, một định luật khoa học là một định luật áp dụng cho càng nhiều trường hợp càng tốt, cho tất cả mọi trường hợp lại càng tốt hơn. Nhà khoa học nào đích thực cũng muốn hướng đến cái biết tổng quát như vậy. Và khi biết là vui rồi. Là có thể nhảy cỡn tồng ngồng từ trong buồng tắm ra ngoài đường la hét om sòm “Eurêka !: Eurêka !” như ông Archimède.

Tại sao vui? Cái gì làm ông vui? Chân lý. Khoa học là khám phá ra chân lý. Tỷ như trong cái nhà u tối bỗng được thắp lên ánh sáng. Cái biết đó, ta gọi là cái biết vô vị lợi. Người làm khoa học vui với cái biết vô vị lợi đó. Và đại học, chính là chỗ đào tạo, nuôi nấng cái niềm vui vô vị lợi đó ; đại học là chỗ chỉ biết phụng sự một nữ thần mà thôi là nữ thần Chân Lý – tôi nói “nữ thần” không phải vì nịnh phụ nữ mà vì nịnh chữ Pháp, chữ Pháp gọi Chân Lý là La Vérité, giống cái, phái đẹp. Chân Lý là mục đích tối thượng của đại học.
Đến đây, hai quan điểm tách riêng ra, như hai nhánh cây trổ ra từ một thân. Một quan niệm nói: đại học phụng sự “khoa học vì khoa học”, phụng sự Chân Lý vì Chân Lý. Chân, cũng như Thiện, cũng như Mỹ, là ba cái đích tự nó đã đem lại ý nghĩa cho cuộc đời rồi, sống với nó là đủ hạnh phúc. Năm tôi học lớp 12, tôi phải bình giảng một câu thơ của thi sĩ Anh John Keats: “Một cái gì Đẹp là một nguồn vui bất tận” (A thing of Beauty is a joy forever). Thú thật cũng hơi khó cho chúng tôi lúc đó, nhưng ít ra ai cũng cảm nhận: Đẹp là nguồn vui bất tận. Hãy nhìn cái miệng cười của em bé trong nôi. Chân Lý cũng vậy, là nguồn vui bất tận.

Thế nhưng quan điểm thứ hai nói cũng không sai: biết mà không làm thì cái biết ấy vô dụng. Suy tư mà không hành động thì suy tư để làm gì

Trong lĩnh vực khoa học, hai quan điểm ấy đều đúng và phải bổ túc cho nhau. Với quan điểm thứ nhất, đại học phải nắm vững và phải đào tạo cho được những người làm khoa học vì say mê khám phá ra những sự thật, những định luật tổng quát. Đó là khoa học cơ bản mà nếu không phát triển thì một nước không thể được gọi là tiên tiến. Với quan điểm thứ hai, một nước có thể áp dụng những khám phá khoa học để phát triển công nghệ. Đó là khoa học ứng dụng.

Ai cũng biết hai quan điểm ấy phải bổ túc cho nhau, nhưng có một kẻ không biết, và kẻ ấy có một cái đầu rất lạnh lùng: kẻ ấy là đồng tiền. Đồng tiền không có chân nhưng nó chạy rất tài, thoắt một cái, chỗ nào có mùi lợi là nó xuất hiện ngay. Làm khoa học cơ bản có lợi chăng? Lạnh lùng, đồng tiền phán: đầu tư rất nhiều, thời gian rất lâu, mà kết quả thì tơ lơ mơ. Công nghệ ứng dụng thì sao? Đồng tiền phán: vừa nhanh, vừa chắc, vừa ăn to. Kết luận? Nó không cần xúi, các xí nghiệp tư cũng biết: đó là miếng mồi ngon móc vào lưỡi câu để câu mấy con cá đại học. Các bạn làm khoa học cơ bản hả? Tội tình gì vậy? Sao không hướng nghiên cứu vào ứng dụng, kiếm cái bằng sáng chế, bán lại cho chúng tôi sản xuất, chúng tôi sẽ lì xì cho các bạn hàng triệu, hàng chục triệu đô? Một ví dụ nhỏ nhỏ: hãng bào chế dược phẩm Novartis của Thụy Điển ký một hợp đồng hiến 25 triệu Mỹ kim trong 5 năm cho phân khoa vi sinh học của Đại Học Berkeley – 1/3 ngân sách của phân khoa – để khai thác những khám phá mới của phân khoa này.
Con cá này đớp, con cá kia đớp. Bởi vì thị trường là cạnh tranh và thị trường kiến thức là cạnh tranh giữa các đại học. Cái nguy cơ của việc cạnh tranh này là gì? Là các đại học tranh nhau phát triển nghiên cứu ứng dụng để kiếm tiền mà lãng quên nghiên cứu cơ bản.

Cho nên, cho nên… dù nói là thị trường, dù nói là kinh tế tư bản, dù nói đến nước Mỹ chủ xị của chủ nghĩa tư bản, đại học không thể là thị trường hoàn toàn tự do, đại học là huyết mạch, nghiên cứu là huyết mạch, khoa học là huyết mạch của sức mạnh quốc gia, Nhà nước không thể phó mặc đại học cho những bàn tay vô hình, hoặc mượt mà hoặc lông lá, Nhà nước phải có mặt để khích lệ chỗ này, điều chỉnh chỗ kia, Nhà nước không thể làm thế thị trường nhưng thị trường cũng không thể độc quyền thống soái, sống chết mặc bay.

Trong lĩnh vực khoa học nói chung, nghĩa là có phần cơ bản, Nhà nước liên bang Mỹ phân phối hợp đồng giữa các trường đại học tùy theo tiêu chuẩn duy nhất là tiềm năng nghiên cứu, không phân biệt đại học công hay tư. Bởi vậy, đại học Johns Hopkins, đại học tư, lại nhận được một ngân sách nghiên cứu khổng lồ : 992 triệu Mỹ kim năm 200. Nước Mỹ vẫn là nước tiên tiến nhất về khoa học, tất nhiên là cả khoa học cơ bản, bởi vì nước Mỹ được đánh giá là nước có sức sáng tạo hàng đầu. Nhưng đây không phải là vấn đề của ta hôm nay, vì ta đang nói đến chuyện tiền, mà tiền thì chỉ đến từ công nghệ ứng dụng.
Tuy vậy, ngay cả trong công nghệ ứng dụng, bàn tay của Nhà nước vẫn có thể vừa khuyến khích cạnh tranh giữa các đại học, vừa nâng cao cạnh tranh lên mức quốc tế để chiếm lĩnh hàng đầu trong sản xuất quốc tế. Đó là trường hợp của đạo luật Bayh-Dole ban hành năm 1980. Đạo luật đó thoạt trông tưởng hiền lành thôi, thực chất là làm thay đổi cả lòng ruột đại học. Nó nói gì? Nó cho phép đại học khai thác bằng sáng chế để kiếm tiền, kể cả việc tạo ra những công ty thương mại để tự khai thác sản phẩm.
Có hai mặt cần làm sáng tỏ trong đạo luật này. Một mặt, thời điểm 1980 là giai đoạn kinh tế Nhật phát triển mãnh liệt, có cơ đè bẹp cả kinh tế Mỹ. Khuyến khích nghiên cứu trong đại học là biện pháp cạnh tranh để vượt qua Nhật. Một lần nữa, đại học là sức mạnh của quốc gia, và Nhà nước không để cho một mình thị trường thống soái sức mạnh đó.

Mặt thứ hai, liên quan đến đề tài của chúng ta: cho phép đại học khai thác thương mại bằng sáng chế tức là đưa hoạt động tư, phương pháp tư, quản lý tư, chức năng tư vào chức năng cổ điển của đại học là chức năng giáo dục. Nói một cách khác, đại học bị xí nghiệp hóa. Hay nói một cách khác nữa, đại học bị thương mại hóa. Hay lại nói một cách khác nữa, đại học bị công ty hóa, University biến thành University Inc.

Đó là cái bước chân mà đại học Âu châu chưa muốn bước theo. Ừ, phải đành lòng bắt chước Mỹ thôi, nhưng đi đến cái mức biến đại học thành công ty thì Âu châu hãy còn nhất quyết không. Mà trong lòng đại học Mỹ cũng vậy, tư hay công, đại học Mỹ đều nhắm phục vụ công ích và hoạt động vô vị lợi. Tư hay công, tranh luận cũng đang diễn ra trong đại học, cảnh cáo cái mức quá đà mà đại học Mỹ có thể sa chân vào, đánh mất linh hồn của mình cho luận lý của xí nghiệp.

Nhưng, có thật đại học Mỹ đã bán linh hồn cho mụ Tú Bà xí nghiệp rồi chăng? Đây là phần thứ hai trong bài nói chuyện hôm nay, và câu trả lời của tôi là không. Đại học, dù ở Âu châu hay ở Mỹ, đều mọc rễ rất sâu trong lịch sử, đều dính chặt với sự thành hình của quốc gia, đều hút hơi sống của xã hội và nhả hơi sống cho xã hội, không dễ gì đại học có thể cắt đứt truyền thống của mình, mạch máu của mình. Vậy truyền thống đó là gì?

Tôi bắt đầu ngay từ chỗ bắt đầu, từ chữ University. University lấy gốc từ chữ la tinh Universitas, và universitas có nghĩa là một cộng đồng gồm thầy và trò. Cộng đồng đó được thành lập rất xưa, tại Pháp, tại Ý, tại Bồ Đào Nha, từ thế kỷ thứ 12, tự thành lập, lúc mà các quốc gia ở Âu châu bắt đầu thành hình. Thành hình, các quốc gia đó xác nhận uy quyền của mình bằng cách chống lại đế chế và uy quyền của Nhà thờ. Thành hình, đại học xác nhận thế đứng của mình bằng cách phản biện độc quyền tri thức mà Nhà thờ chiếm giữ. Cùng chống lại thần quyền, các quốc gia măng sữa nâng đỡ đại học măng sữa, nhưng cộng đồng thầy trò đó vẫn giữ được vị thế tự lập của mình, theo đuổi một lý tưởng riêng, tuân thủ những phép tắc riêng. Mô hình đó lan rộng ra khắp Âu châu từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16, và “đại học” được hiểu khắp nơi như là một cộng đồng gồm hàng trăm ông thầy phối hợp nhau để cùng tổ chức một nền học vấn cho hàng ngàn học trò. Ý tưởng đó được tiếp diễn và duy trì cho đến nay: cho đến nay, đại học vẫn được xem như một cộng đồng, một tập thể riêng trong lòng xã hội, có những tập tục riêng và nhất là những lễ nghi riêng. Lễ nghi đặc biệt của đại học được tổ chức long trọng nhất là lúc phong chức tiến sĩ cho người xứng đáng. “Digmus est intrare”: đó là câu nói danh tiếng bằng chữ la tinh để cắt nghĩa lễ phong tiến sĩ.

Nghĩa của nó là: vị này xứng đáng để đi vào. Câu nói này đúc kết tất cả tinh túy của định chế đại học. Đại học có thứ bậc, đẳng cấp. Muốn được “xứng đáng để đi vào” chức cao nhất ấy, sĩ tử phải bước qua những cấp bậc trước tiến sĩ. Nhưng chính trong ý nghĩa đẳng cấp ấy lại hàm chứa một hứa hẹn bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng: ngay từ năm học đầu tiên, người học trò phải biết rằng mình đã là thành viên của một đoàn thể và đoàn thể ấy đang sửa soạn cho mình trở thành ông tiến sĩ nay mai. Mỗi giáo sư là một người học trò đã thành; mỗi người học trò là một giáo sư sẽ thành và phải được đối đãi như thế. Cái chức tiến sĩ, không phải một ông thầy hay vài ông thầy nào đó phong cho: cái chức ấy, cũng như chức giáo sư, là do toàn thể cộng đồng giáo sư phong. Ngày nay, có hàng trăm đại học trong một nước, nhưng hàng trăm đại học đó vẫn giữ ý thức cộng đồng, vui buồn vinh nhục cùng nhau san sẻ. Bởi vậy, cách đây mấy năm, khi có một đại học ở Pháp chấp nhận cấp bằng tiến sĩ cho một ứng viên, chuyên gia về chiêm tinh học, tác giả một luận văn tiến sĩ về chiêm tinh, tất cả cộng đồng đại học ở Pháp đều cảm thấy nhục. Luận văn ấy không phải là một luận văn khoa học, ngài không “xứng đáng để đi vào”.

Cùng với ý thức cộng đồng ấy, ý thức tự lập vẫn còn duy trì cho đến nay. Tôi nhắc lại: universitas khởi thủy là một cộng đồng tự thành lập. Quá trình tự mình xác nhận mình, trước là chống lại uy quyền của Nhà thờ, sau là để độc lập với uy quyền của Nhà nước, đã mang lại cho đại học một quy chế đặc biệt còn tồn tại cho đến nay, tuy chỉ là tương đối nhưng ý nghĩa không phải là nhỏ: đó là quy chế tự trị. Rất nhanh, đại học Âu châu thời trung cổ tạo được cho mình một chức năng suy tư về những giá trị nào của quá khứ cần truyền thừa, những giá trị nào, kiến thức nào của đương thời cần làm tổng hợp. Chức năng đó không rời khỏi ý nghĩ quen thuộc về sự hiện hữu của một thế giới trí óc, một thế giới tri thức, một thế giới văn hóa vượt lên trên thế giới vật chất cơm áo hàng ngày.

Bởi vậy, đại học cổ truyền ở Âu châu phát triển dưới sự bảo trợ nhất quán của môn học chủ yếu, đó là triết học, qua đó, từ đó, chức năng tổng hợp tôi vừa nói được thực hiện, và được thực hiện bằng cách luôn luôn đổi mới. Và cũng bởi vậy, tất cả các môn học khác có dính dáng đến lý thuyết đều được quy tụ vào triết học, như vào một nhụy hoa, từ đó phấn hương bay ra. Đó là hình ảnh của kiến thức: kiến thức là một, nguyên thủy là một, bởi vì tất cả những kiến thức cục bộ đều hướng về một nguồn gốc lý thuyết duy nhất là chân lý. Do đó, các bạn hiểu tại sao ở Mỹ, học vị cao nhất, bất cứ ngành nào, cũng đều mang tên là Ph.D – Doctor of Philosophy.

Tôi vừa nhấn mạnh trên hai điểm trong nguồn gốc đại học ở Âu châu: một là vị thế tự trị; hai là chức năng suy tư. Nguồn gốc tự trị đó còn duy trì cho đến nay, dù lắm khi chỉ là hình thức, nhưng cụ thể vẫn thấy, ít nhất là qua quy chế tự trị của đại học, khác với quy chế của các cơ quan công quyền khác. Tôi chỉ kể một ví dụ cụ thể thôi, về một chi tiết nhỏ nhưng không nhỏ.

Năm 1968, sinh viên ở Pháp nổi dậy như một cơn sóng trong hàng chục cơn sóng làm điên đảo thế giới đại học Âu Mỹ hồi đó, khởi đầu bằng hành động chiếm đại học Sorbonne. Giữa bạo loạn có cơ nguy làm sụp đổ chế độ vững như núi của tổng thống De Gaulle, cảnh sát vẫn không được quyền xông vào khuôn viên của Sorbonne. Lãnh thổ của đại học là của đại học, quy chế tự trị của đại học không cho phép cảnh sát bước vào nếu không có yêu cầu chính thức của hiệu trưởng – nghĩa là của hội đồng đại học. Đừng tưởng đây chỉ là một chi tiết hình thức: không có cái gì thiêng liêng mà không có hình thức tượng trưng. Tự trị là bản chất của đại học. Đại học mà không có tự trị thì đại học không còn là đại học.

Tất nhiên, tôi nói ở đây là nói trong bối cảnh Âu Mỹ, và tôi biết phân biệt một cách có ý thức hoàn cảnh của họ và hoàn cảnh của ta, hai hoàn cảnh khác nhau. Nhưng, về mặt lý tưởng mà tất cả chúng ta ở đây, cũng như mọi đồng nghiệp của tôi và của các bạn trong khắp đại học trên thế giới đều nhắm đến, tự trị về đầu óc là bài học đầu tiên của người bước chân vào đại học. Cho nên, dù ở Đông hay Tây, Nam hay Bắc, xưa hay nay, cũ hay mới, bảo thủ hay cấp tiến, không ai có thể và có quyền nói rằng đại học không có chức năng suy tư. Với lý tưởng tự trị, với chức năng suy tư, đại học Âu châu trong lịch sử đã vượt ra khỏi uy quyền của Nhà thờ, uy quyền của chính trị, không có lý gì họ không biết cách vượt lên trên uy quyền của thị trường.

Đó là tôi nói về đại học Âu châu; Bây giờ, tôi nói về đại học Mỹ, và tôi cũng bắt đầu đi từ chỗ khởi thủy

Đại học Mỹ có cái hay mà tôi nghĩ ta có thể bắt chước, là học kiến thức tổng quát trong bốn năm đầu ở undergraduate. Trong những kiến thức tổng quát đó, có kiến thức về khoa học, tất nhiên, nhưng quan trọng không kém là kiến thức mà họ gọi là humanities mà ta tạm dịch là nhân văn. Kiến thức khoa học đào tạo một cái đầu chính xác, điều đó ai cũng biết. Còn kiến thức nhân văn đào tạo một cái đầu gì?

Tôi khởi đi từ nguồn, nghĩa là từ văn minh Hy Lạp-La Mã, bởi vì đại học Mỹ uống nước cùng một nguồn với đại học Âu châu. Tôi bắt đầu với những môn học của thời Platon, Aristote mà ảnh hưởng còn vang vọng âm ba trong đại học Mỹ ngày nay. Platon dạy gì trong trường của ông hồi thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch? Siêu hình, toán, biện chứng. Aristote thêm gì sau Platon? Luận lý, đạo đức, sinh học, vật lý, chính trị và tu từ học, nghĩa là cách nói, cách diễn giảng. Tôi nhấn mạnh tu từ học, vì đó là gia tài mà văn minh Hy Lạp truyền lại cho văn minh La Mã và văn minh La Mã để lại dấu ấn trên đại học Mỹ. Tu từ học là gì? Là văn phạm, là lời nói, là những khôn khéo, tinh tế trong cách vận dụng, diễn đạt, phân tích một diễn văn.

Người La Mã có biệt tài về luật, về hành chánh, về chính trị; họ là những người xây dựng đế chế. Cho nên họ hiểu sự cần thiết của thuyết phục, của một giáo dục biết khai triển khả năng nói trước công chúng, khả năng biện luận phân minh, rạch ròi của ngôn ngữ luật và chính trị, tô điểm thêm với những kiến thức và ngôn ngữ tinh tế của văn chương.

Văn học, vì vậy, cũng có mục tiêu xã hội và chính trị. Chức năng của văn học là chuyển tải một ngôn từ có tính thu hút bao gồm lời lẽ thẩm mỹ, lý luận đanh thép, đạo đức vững chắc, tô bồi bằng những biện giải lịch sử. Giáo dục, dưới thời La Mã, gồm : huấn luyện về văn học và ngôn ngữ, toán, thiên văn, luận lý, biện chứng, và trên hết, trên hết, nghệ thuật thuyết phục, tức là tu từ học. Đó là các môn học mà tiếng la tinh gọi là artes liberales, ngày nay được du nhập vào đại học Mỹ dưới tên gọi liberal arts. Liberare, tiếng la tinh là tự do ; đó là giáo dục để làm người tự do – tất nhiên là trái với “giáo dục” để làm người nô lệ. Chương trình học đó của người La Mã được truyền qua đại học thời trung cổ, tạo thành 7 môn học của liberal arts: văn phạm, luận lý, tu từ, số học, hình học, thiên văn và âm nhạc.

Tại sao văn phạm? Tại vì văn phạm là nghệ thuật dùng ngôn ngữ cho đúng. Tại sao biện chứng?Tại vì biện chứng là nghệ thuật dùng lý luận cho giỏi. Tại sao tu từ? Tại vì tu từ là nghệ thuật nói cho hay. Dưới sức nặng của Thiên chúa giáo thời trung cổ, tu từ và văn học còn mang thêm sắc thái đạo đức của tôn giáo, pha lẫn những tập tục hiệp sĩ của thời đại. Mô hình giáo dục đó, du nhập vào đại học Anh từ thế kỷ 16, 17, được truyền qua thuộc địa Mỹ, đi thẳng vào đại học Harvard, sáng lập năm 1636, cùng 8 trường đại học khác. Giáo dục để đào tạo một “người có học vấn” gồm: tu từ và văn phạm, đọc, nhớ và diễn dịch những trang sách về văn học và thần học định nghĩa thế nào là đạo đức của một công dân “trong cộng đồng của Thiên chúa”.

Tại sao ở đâu cũng đặt nặng tu từ học như vậy? Tại sao ở đâu văn chương cũng khoác chức năng xã hội, chính trị? Tại vì nói năng, phân tích, biện luận thế nào cho phân minh, khúc chiết, hoa gấm, để thuyết phục trong mỗi vấn đề đặt ra trước công chúng là vô cùng cần thiết trong một nền dân chủ, dù là dân chủ trong tiểu quốc Athènes ở cổ Hy Lạp, trong Cộng Hòa của cổ La Mã, hay trong xã hội nước Mỹ ngày nay. Dân chủ cai trị bằng thuyết phục. Độc tài cai trị bằng mệnh lệnh.

Thế nhưng dân chủ không phải là không có những nguy cơ rình rập bên hông để làm biến chất. Một trong những nguy cơ đó là chính sách mỵ dân, và mỵ dân cũng bằng lời nói. Ôi, cái lưỡi ! Chắc các bạn biết chuyện ngụ ngôn về cái lưỡi của Esope. Một hôm, chủ nhà bảo Esope ra chợ mua cái gì ngon nhất về ăn. Esope mua về cái lưỡi. Hôm sau, chủ nhà bảo mua cái gì dở nhất về nhậu. Esope lại mua cái lưỡi. Không cần phải hỏi Esope, tất cả chúng ta đều có thể kết luận: giáo dục là gì nếu không phải là giáo dục cái lưỡi? Trong thời đại của chúng ta ngày nay, cái đầu của chúng ta bị đập chan chát hàng ngày vì cái lưỡi, từ cái lưỡi quảng cáo đến cái lưỡi lang băm. Đừng tưởng trong các nước tiên tiến không có lang băm: tràn đầy! nhan nhản! trong mọi lĩnh vực, kể cả tín ngưỡng, nhất là tín ngưỡng. Do đó, tương quan giữa lời nói và sự thật là vấn đề hệ trọng nhất của người đi học, và vì vậy, tôi kính phục Đại Học Hoa Sen đã đưa môn critical thinking vào chương trình học của nhà trường.

Đây cũng là vấn đề đặt ra từ khởi thủy. Trong quan niệm về lời nói, mà tiếng Hy Lạp gọi là logos, có hai khuynh hướng. Một khuynh hướng đặt nặng trên tu từ, trên hùng biện như tôi vừa nói. Một khuynh hướng xem tu từ như không chính xác, như chỉ là một khí cụ thực tiễn, như cái bóng của sự thật chứ không phải sự thật. Bởi vậy, Aristote mới đưa toán học và luận lý học vào chương trình. Và cũng bởi vậy, Platon là kẻ thù số một của các ông thi sĩ, hay nói cho đúng hơn, các ông thi sĩ là kẻ thù số một của Platon. Khắp trong các tác phẩm của ông, Platon lên án thơ. Ông nói: muốn công lý ngự trị, tiểu quốc của ông không nên dành chỗ nào cho thi sĩ, nhất là thi sĩ giỏi, bởi vì chính bản chất của thơ là nói láo, là bóp méo sự thật, nghĩa là bóp méo công lý. Vậy thì ai là kẻ đối đầu, là địch thủ, là tay cạnh tranh quyết liệt nhất với các ông thi sĩ tài ba nhất kia? Triết gia! Thơ (và kịch), dưới mắt Platon, vi phạm triết lý, vi phạm đời sống công dân vốn hợp với lý tính.

Ngày nay, các học giả xem đối chọi giữa triết và thơ trong tư tưởng của Platon như là tiền thân của đối chọi giữa nhân văn và khoa học, thậm chí như chiến tranh giữa hai văn hóa. Ta tạm gác qua một bên tranh luận lý thú đó, và cũng tạm gác qua một bên quan điểm có phần quá khích của Platon. Còn lại, ta nhận xét gì? Thì cũng là critical thinking!

Học thuyết phục, học phê phán, đó là cái đầu mà liberal arts trong đại học Mỹ nhắm đào tạo. Dù cho lĩnh vực khoa học ngày nay có lấn lướt lĩnh vực nhân văn, dù cho việc đào tạo ngành nghề ngày nay được chú trọng hơn bao giờ cả, đại học Mỹ không để mất ý thức rằng liberal arts là cơ sở phải duy trì. Họ biết: nếu nhân văn bay mất về trời, ký ức cộng đồng cũng sẽ bay mất, ngôn ngữ cũng bay mất, thế giới của tưởng tượng cũng bay mất, thần linh cũng bay mất, ý nghĩa cũng bay mất, liên đới xã hội cũng bay mất, bản sắc cũng bay mất, cả phần hồn của dân tộc cũng bay mất về trời luôn.

Để dẫn chứng, tôi trích một câu trong bài diễn văn nổi tiếng của bà Drew Faust đọc trong lễ nhậm chức hiệu trưởng Đại Học Harvard cách đây hai năm:

“Ta, như là người, luôn luôn đi tìm ý nghĩa. Ta cố hiểu cho được ta là ai, từ đâu đến, đi về đâu và tại sao. Đối với rất nhiều người, bốn năm học ở undergraduate là dịp ngắt quãng duy nhất trong đời cho phép ta tự do khám phá những câu hỏi căn bản đó. Nhưng câu hỏi về ý nghĩa là một hành trình đi tìm không bao giờ dứt, luôn luôn phải diễn giảng, luôn luôn phải ngừng để định nghĩa lại hiện trạng, luôn luôn nhìn, không bao giờ bằng lòng với cái đã tìm ra. Một câu trả lời chỉ là để đặt lại câu hỏi kế tiếp. Đó là chân lý của học vấn, của khoa học tự nhiên cũng như của khoa học xã hội và nhân văn, và đó chính là cốt lõi mà đại học nhắm đến”.

Đại học, trước hết là nơi chuyển tải, từ thế hệ này qua thế hệ khác, một tài sản văn hóa, nơi mà tuổi trẻ có thể sống với kiến thức và tìm trong kiến thức ý nghĩa và nguồn vui, nơi mà tuổi trẻ khám phá ra nhiều không gian khác, nhiều thời đại khác, nhiều chiều rộng, chiều sâu của thế giới. Đại học cũng là nơi mà người dạy có thể có cái tự hào mình không phải làm một nghề giống như những nghề khác mà làm một sứ mạng, sứ mạng cao quý của người khai mở những cái đầu. Nếu nghĩ rằng mình chỉ làm một cái nghề thôi thì quả tình kiến thức là một món hàng mua bán. Nếu nghĩ rằng mình làm một sứ mạng thì bao nhiêu vàng cũng không mua nổi được mình.

Các bạn sinh viên thân mến, để trả lời câu hỏi mà tôi đặt ra cho bài khai giảng hôm nay, “đâu là hướng đi của đại học”, tôi đã nói trong phần đầu: dù muốn dù không, đại học khó cưỡng lại những bức bách của thị trường, những đòi hỏi của “kinh tế tri thức”. Nhưng tôi vừa nói trong phần sau: đại học không thể đồng hóa với xí nghiệp tư bản, buôn bán kiến thức. Những cái đầu mà đại học đào tạo nhắm đến những chân trời khác, không phải chỉ ngành nghề.

Ngay ở Mỹ, nơi mà thị trường là vua, đại học có phận sự gì? Phát triển kiến thức là một; phát triển con người của mỗi cá nhân là hai; phát triển những giá trị xã hội và văn hóa là ba; thứ tư mới là huấn luyện nghề nghiệp. Hỏi đại học nào, họ cũng đều nói: đó là bốn mục tiêu căn bản truyền thừa trong đại học Mỹ từ trăm năm trước đây. Dù cao, dù thấp, dù danh tiếng, dù tầm thường, đại học nào cũng nhất trí với nhau trên một quan niệm căn bản: mô hình liberal arts đặc biệt của Mỹ là quan trọng trong bốn năm đầu. Mục đích của liberal arts, tôi nhắc lại, là giáo dục một con người tự do. Tự do đối với tất cả mọi thế lực. Điều đó cũng có nghĩa là người sinh viên không để cho cái đầu của mình làm nô lệ cho một thứ kiến thức duy nhất là kiến thức của cái nghề. Lý tưởng của giáo dục, nhất là giáo dục đại học, bất cứ ở đâu, và nhất là trong văn hóa cổ của ta, là đào tạo người học trò thành người trí thức chứ không phải chỉ thành chuyên viên.

Các bạn thân mến, đó là lời nhắn nhủ nhỏ bé mà tôi gửi đến các bạn hôm nay.

Cao Huy Thuần

Nguồn: VietNamNET

P/S: bài viết đã được CauduongBKDN chỉnh sửa lại 1 số lỗi chính tả.

maixuannhat
01/11/09, 04:10 PM
"...Chuyện dạy học, thầy Chỉnh không có triết lý gì to tát. Với thầy, đạo làm thầy chỉ chân chất rằng người cầm phấn phải có tâm, yêu thương học trò như chính con em mình. Để rồi các em sẽ kính yêu thầy, nhân ái với người. Mai này dù không học hành thành đạt, các em cũng nên người tử tế!..." (--Trích báo tuôi trẻ --)

Mọi người nghe toàn bộ bài đọc được coi là " hiện tượng đẹp" của báo tuổi trẻ đang lang truyền rất nhanh trong cộng đồng mạng :

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=345398&ChannelID=13

toan_nguyen
02/11/09, 12:13 AM
:M047:
...trong cuộc sống còn nhiều điều phải học quá...
phải học cách làm người tử tế
:M047:

nbc
16/11/09, 07:52 AM
Tố chất Việt và giáo dục Việt đang ở đâu? (Phần 1)


Tác giả: Nguyễn Việt (CHLB Đức, 11/2009)
Bài đã được xuất bản.: 15/11/2009 06:15 GMT+7

Càng tự hào về tố chất Việt, chúng ta càng phải đặt câu hỏi, tại sao đất nước chúng ta vẫn thiếu nhân tài, dân ta vẫn nghèo, đất nước vẫn còn lạc hậu? Sẽ là quá đơn giản, vô trách nhiệm và ngụy biện nữa, nếu chúng ta cứ tìm cách đổ tội cho chiến tranh

LTS: Dẫn thống kê của chính phủ Đức, tác giả Việt Nguyễn, người đang sống ở CHLB Đức cho biết, gần 60% học sinh Việt Nam ở Đức đạt trình độ "tinh hoa", hơn hẳn hai nhóm theo sau là Đức và Nga (trên 40%). Tác giả quả quyết, hiện tượng học sinh Việt ở Đức cũng chẳng khác gì hiện tượng tương tự ở Mỹ, ở Canada hay đâu đó có người Việt đặt chân tới. Ở đâu thì truyền thống hiếu học, cần cù của dân tộc ta cũng luôn được phát huy, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhưng tại sao chúng ta vẫn thiếu nhân tài, dân ta vẫn nghèo, đất nước vẫn còn lạc hậu? Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết 2 kỳ của ông như một tư liệu để mọi người cùng thảo luận.

Tố chất Việt Nam

Vừa qua, đài truyền hình ZDF của Đức có chương trình nói về vấn đề hội nhập của thanh niên có nguồn gốc nhập cư, một đề tài đang nóng lên sau khi liên minh trung tả CDU/CSU/FDP thắng cử tại cuộc bầu cử quốc hội cuối tháng 9 vừa qua. Điều làm tôi quan tâm đến là ZDF đã chứng minh trường hợp học sinh Việt Nam thành đạt tại Đức bằng biểu đồ so sánh tỷ lệ học sinh được vào trường Gymnasium (bên Anh gọi là Grammar shool, loại trường dành cho học sinh khá, giỏi có khả năng sau này vào đại học, bắt đầu từ lớp 5 đến lớp 12).

Học sinh các trường Gymnasium ở Đức còn được gọi là Elite-Schüler (học sinh tinh hoa). Theo biểu đồ này: tỷ lệ học sinh hết cấp 1 đuợc tuyển vào Gymnasium toàn quốc là 27%; tỷ lệ học sinh gốc Việt vào Gymnasium là 55%; tỷ lệ học sinh gốc Thổ Nhĩ Kỳ đạt trình độ đó là 11%.

Vì không tìm được biểu đồ này trên trang web của ZDF, nên tôi phải vào trang web báo Zeit (Thời đại) và tìm thấy bài viết tương tự về hiện tượng này (http://www.zeit.de/2009/05/B-Vietnamesen), trong đó có bảng thống kê chính thức, mới nhất của cục thống kê liên bang Đức.


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage470255-8933-bieudo.JPG (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage470255-8933-bieudo.JPG)


Thống kê này cho thấy gần 60% học sinh Việt Nam ở Đức đạt trình độ "tinh hoa", hơn hẳn hai nhóm theo sau là Đức và Nga (trên 40%). Hiện tượng này làm cho nhiều chính khách Đức hết sức ngạc nhiên và họ đã không ngần ngại dùng nó để đả phá lại ý kiến của nhiều cộng đồng nhập cư khác (đặc biệt là các cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ, Ả-Rập). Các cộng đồng này cho là con cái họ ít thành đạt vì chính sách nhập cư yếu kém của chính phủ Đức.

Thành thực mà nói, là dân nhập cư, tôi luôn dạy các con tôi phải biết ơn chính phủ và nhân dân Đức đã tạo điều kiện giúp chúng tôi hội nhập vào một xã hội văn minh, dân chủ, bình đẳng. Họ bình đẳng đến mức mà trên căn cước và mọi giấy tờ của tôi, nơi sinh chỉ được phép ghi là Binh Dinh (Bình Định), hoặc trên giấy tờ của vợ tôi thì chỉ ghi là Son Tay (Sơn Tây), có nghĩa là mọi quan chức, từ cảnh sát đến phòng thuế, khi tiếp xúc chúng tôi, không được phép hỏi và biết là chúng tôi thuộc gốc dân nào. Do vậy ý kiến của một số đại diện cộng đồng kia chỉ có thể là ngụy biện và tỷ lệ rất cao học sinh Việt Nam lọt vào các trường tinh hoa của Đức đã làm cho họ lúng túng.

Hiện tượng học sinh Việt ở Đức cũng chẳng khác gì hiện tượng tương tự ở Mỹ, ở Canada hay đâu đó có người Việt đặt chân tới. Ở đâu thì truyền thống hiếu học, cần cù của dân tộc ta cũng luôn được phát huy, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Bên cạnh đó, một điều không thể chối cãi được là tố chất thông minh của người Việt. Bởi vì chỉ hiếu học, cần cù sẽ không có những tên tuổi được thế giới công nhận như Nguyễn An (kiến trúc sư xây thành cổ Bắc Kinh và trị thủy sông Hoàng) hay Trương Trọng Thi (phát minh ra máy tính cá nhân) và thời hiện đại thì như Phan Đình Diệu (Lý thuyết automat).

Khi đi thăm Sillicon Valley ở San Jose, tôi đã gặp rất nhiều trí thức trẻ gốc Việt nắm các vị trí cao tại các tập đoàn điện tử viễn thông của Mỹ. Tất cả các cháu đều là thế hệ 2, thế hệ 3 của dòng người Việt tỵ nạn, sang đây từ những năm 70-80 thế kỷ trước. Quá nửa các cháu mà tôi gặp là con nhà nghèo, cha mẹ từng chỉ làm những công việc chân tay vất vả khi mới sang đây, luơng mỗi giờ vài USD, nhưng luôn động viên con cái học hành.

[/URL]http://www.tuanvietnam.net/assets/images/r1.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/r1.jpg)

Philipp Roesler, bộ trưởng Y tế Đức. Ảnh: Reuters.


Tất cả các cháu, dù xuất thân từ thành phần tướng tá chế độ cũ hay là con thợ may, con dân đánh cá, đều có cái nhìn rất tha thiết với tổ quốc của cha mẹ mình. Tuy đã là công dân Mỹ, nhưng khi gặp tôi, các cháu đều rất lễ phép, cố vượt khó để nói tiếng Việt và tỏ ra tự hào về nguồn gốc của mình, khiến tôi cũng tự hào lây. Hiện tượng ông Philipp Roesler, một trí thức gốc Việt, từ Bộ truởng kinh tế bang Niedersachsen đuợc đề bạt lên làm Bộ trưởng Bộ Y tế chính phủ liên bang Đức ở tuổi 36 lại càng làm tăng vọt sự chú ý của dư luận Đức về cộng đồng nguời Việt và làm cho cộng đồng ta tại Đức rất tự hào. Tuy bản thân ông Roesler, sinh ra ở Khánh Hòa năm 1973, đuợc gia đình bố mẹ nuôi mang về Đức từ lúc 9 tháng tuổi, không hề chịu ảnh hưởng gì từ văn hóa Việt, nhưng trong các dịp tiếp xúc với cộng đồng, ông không bao giờ dấu giếm sự gắn bó huyết thống này.

Việt Nam có thể nghèo đuợc không?

Càng tự hào về nguồn gốc, về tố chất Việt, chúng ta càng phải đặt câu hỏi, tại sao đất nước chúng ta vẫn thiếu nhân tài, dân ta vẫn nghèo, đất nước vẫn còn lạc hậu? Sẽ là quá đơn giản, vô trách nhiệm và ngụy biện nữa, nếu chúng ta cứ tìm cách đổ tội cho chiến tranh. Quê tôi ở Bình Định, nơi mà sư đoàn Bạch Hổ của Hàn Quốc đã đóng quân trong chiến tranh. Nhiều nguời lính Hàn khi đó sang Việt Nam đã chỉ mơ ước nuớc họ giầu có như Việt Nam ta vào những năm 60. Chỉ 30 năm sau cuộc chiến tranh Triều Tiên, năm 1982 Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia công nghiệp với tổng thu nhập đầu người trên 11.000 USD (con số này hiện nay là 28.000 USD, trong khi năm 1965 nuớc bạn còn nghèo hơn ta).

Hãy nhìn sang dân tộc Do Thái. Họ xây dựng lại đất nước từ con số không, sau hàng ngàn năm mất nuớc, mất cả tiếng nói, mất cả chữ viết, bị tiêu diệt, bị đồng hóa gần như tiệt chủng. Năm 1948 một triệu người Do Thái sống sót từ các trại tập trung khắp châu Âu quay về xây dựng lại đất tổ Israel, giữa vòng vây trùng điệp của một trăm triệu nguời Ả Rập.

Vậy mà sau hơn 30 năm, nhà nuớc Israel đã trở thành một quốc gia kỹ nghệ cao, có bộ máy quân sự hùng mạnh nhất tại Trung Đông và có thể nói, ngày nay nguời Do Thái đã chuyển từ số phận kẻ bị đe dọa tuyệt chủng thành kẻ nắm sinh mệnh của dân tộc khác. Ở đây tôi không muốn bàn đến mặt trái "vô trách nhiệm" của nhà nuớc Israel trong vấn đề hòa bình với dân tộc láng giềng Palestine, mà chỉ muốn nhấn mạnh đến ý chí tự cường và sự thành công của một dân tộc bị bao vây đến mức đó. Hoàn cảnh quốc tế đối với nuớc ta suốt mấy chục năm qua thuận lợi hơn rất nhiều, đó là chưa kể các thuận lợi về nội lực.

Chắc chắn có nhiều bạn đọc không thích cái điệp khúc "đất nước ta rừng vàng biển bạc". Nhưng tôi đã đi nhiều nước và phải công nhận một điều rằng Việt Nam quả là một đất nuớc giàu có tài nguyên. Trong khi ở mọi nơi trên thế giới, nhân loại đang lo lắng về thiếu năng lượng, bất kể tạo ra từ khoáng sản hay từ nuớc, từ gió, từ nắng, thì nuớc ta thừa thãi các nguồn này.

Nước Đức trung bình có 1000 giờ nắng trong năm, chính phủ phải bù lỗ để dân chúng làm pin mặt trời trên mái nhà để bán lại cho mạng quốc gia. Ngược lại nước ta có hơn 2200 giờ nắng trong năm với cường độ bức xạ mặt trời cao hơn nhiều thì lại không làm đuợc việc đó. Trong khi hơn 2/3 nhân loại đang lo sợ về khan hiếm lương thực, về nguồn nuớc, về dự trữ dầu mỏ thì Việt Nam ta có đầy đủ mọi thứ.


[URL="http://www.tuanvietnam.net/assets/images/0911hocsinh.jpg"]http://www.tuanvietnam.net/assets/images/0911hocsinh.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/0911hocsinh.jpg)

Ảnh: VnEpress.net


Các nước công nghiệp hóa đang lo ngại về nguồn nhân lực trong lúc chúng ta lại có thừa. Như vậy nếu đất nuớc chúng ta có thiếu thốn và nghèo đói, chẳng qua tại chúng ta chưa biết quản lý và khai thác.

Một đạo diễn điện ảnh người Đức, bạn tôi, đã từng lăn lộn bao năm trong chiến tranh để giúp ta, khi sang thăm Việt Nam có nói với tôi: "Đất nuớc cậu như vậy, làm cho nó nghèo đi còn khó hơn là giữ cho nó giầu có!". Câu nói đó tuy đầy vẻ hài huớc của một nghệ sỹ, nhưng rất đáng để chúng ta suy nghĩ.

Tất cả các cường quốc trỗi dậy sau chiến tranh như Đức, Nhật, Israel, Hàn Quốc đều không thể có những điều kiện thuận lợi mà trời phú cho dân tộc ta. Các nuớc Đức và Nhật hầu như không có tài nguyên gì đáng kể, Israel thì nằm lọt trong một vùng hoang mạc cằn cỗi. Hàn Quốc và Israel luôn ở trong tình trạng nửa chiến tranh và phải chi phí cho một ngân sách quốc phòng gấp nhiều lần nuớc ta. Thành công của các dân tộc này chính là nhờ yếu tố con nguời, và để phát huy được yếu tố này, họ đã coi con người là mục tiêu của công cuộc xây dựng đất nuớc.
(Còn nữa)

Nguồn: TuanVietNam

nbc
16/11/09, 07:57 AM
Phần 2:

Chính cách giáo dục nặng về "định hướng" này đã làm thui chột khả năng tự hình thành nhân cách của học sinh. Hậu quả là chúng ta có được một xã hội khá đồng nhất, nhưng ít có khác biệt về tư duy. Thiếu sự khác biệt ắt sẽ không có tinh hoa, và như một quy luật sinh học, xã hội sẽ rất khó phát triển

Định hướng và sự khác biệt

Hồ chủ tịch sinh thời đã nói: "Vì lợi ích muời năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người". Cụ Hồ đã luôn trăn trở để tìm ra một chiến lược về con người cho Việt Nam. Quá trình trồng người có thể đuợc hiểu là bao gồm ba bước: Tạo hạt giống, ương cây và trồng cây, hoặc có thể được hiểu là: Gia đình, nhà trường và xã hội.

Gia đình Việt truyền thống luôn coi việc học hành và thành đạt của con cái là ưu tiên số một. Niềm tự hào đầu tiên của đa số bố mẹ Việt không phải là địa vị và tài sản của mình, mà là thứ hạng của con cái trong lớp. Chính vì vậy hiện nay ở ta vẫn tồn tại hệ thống xếp hạng trong lớp mà nhiều nước đã bỏ. Câu đầu tiên mà cha mẹ gặp nhau là hỏi về việc học hành của con cái. Càng những vùng quê nghèo khó, sự hy sinh của cha mẹ cho con cái càng to lớn. Câu nói dân gian "hy sinh đời bố, củng cố đời con" xuất thân trong những hoàn cảnh đó.

Những hạt giống con người Việt Nam ra đời trong các gia đình như vậy, được ươm tại các mái trường và được trồng tại các mảnh vườn thích hợp đã cho ra những kết quả rực rỡ như chúng ta đã thấy tại Đức, Mỹ, Pháp v.v.

Do vậy, những khiếm khuyết trong hệ thống giáo dục nước nhà rõ ràng mang yếu tố trường học và xã hội hơn là do yếu tố gia đình. Việc các ông bố bà mẹ tìm mọi cách để bắt con cái đi học hết lớp nọ đến lớp kia, không phải là một cách hành xử sai mà chẳng qua chỉ là hậu quả của lối giáo dục "coi nhẹ giáo dục" và không vì người học, không hiệu quả và thiếu định hướng của nhà trường, và sâu xa, của ngành giáo dục hiện nay.

Coi nhẹ giáo dục: Tuy Bác Hồ đã suy nghĩ về một chiến lược con người như vậy, nhưng trải qua mọi thời kỳ, chúng ta thực sự coi nhẹ sự nghiệp giáo dục. Trong những năm chiến tranh và bao cấp hậu chiến, ngành giáo dục luôn là ngành thiệt thòi nhất. Chỉ những học sinh có vấn đề lý lịch hoặc học lực yếu mới đành chịu vào các trường sư phạm. Trong khi viên chức các cơ quan khác được chia nhà tập thể, đuợc đi tu nghiệp ở nuớc ngoài thì anh chị em giáo viên luôn là những người lương thấp khổ hạnh.

Một khi xã hội và nhà nước nhìn nhận sai như vậy về giáo dục thì chất lượng của nó đã bị suy giảm từ gốc, bất chấp biết bao lần cải cách giáo dục đã được tiến hành từ hơn ba chục năm qua. Ngày nay khi đã xóa bỏ bao cấp, chạy theo cơ chế thị trường thì chính nhà nước lại buông lỏng việc quản lý nhà trường- một cơ sở phúc lợi xã hội phi lợi nhuận. Do vậy nhà trường ngày nay bị cuốn hút vào cơn lốc kinh tế thị trường, các ban giám hiệu và các thầy cô đều phải chạy theo đồng tiền.



http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage471240-8934-0911phanbien.JPG (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/_resampled/ResizedImage471240-8934-0911phanbien.JPG)


Định hướng duy nhất mà một nền giáo dục hiện đại phải hướng tới chính là:

Phát triển khả năng tư duy tự do sáng tạo (Ảnh minh họa)

Tình trạng dạy ngoài, dạy thêm, móc ngoặc, mua bán điểm, bằng cấp v.v đang làm xói mòn đạo đức của người thầy và điều nguy hiểm nhất là chúng đã làm hư hại tâm hồn trẻ em từ lúc mới buớc vào nhà truờng. Nhiều quan chức khi trả lời các bức xúc của nhân dân truớc thực trạng ngành giáo dục hiên nay chỉ thừa nhận khuyển điểm là chưa quan tâm đầy đủ đến quá trình suy thoái trong giáo dục, nhưng thực ra chưa có ai dám thừa nhận là đang vô trách nhiệm với tương lai của dân tộc.

Ít hiệu quả : Hàng năm, Việt Nam chỉ chi khoảng 3 % tổng sản phẩm quốc nội cho giáo dục, một con số không lớn và phần nào khẳng định rằng giáo dục chưa được quan tâm đúng mức ở nuớc ta. Nhưng con số đó chỉ là chi phí của nhà nuớc. Trong thực tế, do sự quan tâm đến học hành của gia đình Việt là rất cao nên hàng năm, các gia đình chi cho việc học hành của con cái một lượng kinh phí cũng có thể tương đuơng hoặc lớn hơn tổng chi phí của nhà nuớc bỏ ra. Đó là chưa kể đến sự hao phí về thời gian của cha mẹ, của học sinh cho việc đưa đón, đi học các loại truờng lớp bên ngoài, bên trong.

Trong xã hội công nghiệp hóa, thời gian còn đắt hơn tiền bạc. Như vậy thì có thể nói tổng chi phí toàn xã hội chi cho giáo dục có thể sẽ lên đến 6 hoặc 7% tổng sản phẩm quốc dân, xét về thứ hạng quốc tế, không còn là con số khiêm tốn nữa. Nhưng chính vì những lệch lạc trong hệ thống giáo dục trên đây mà chúng ta đã gây lãng phí rất lớn cho nguồn lực quốc gia.
Trẻ em chúng ta học mòn học mỏi, nhiều lúc không còn thời gian để chơi, để hưởng các sinh hoạt cần thiết nâng cao trí dục tuổi thơ. Ngoài các lớp học chính, lớp phụ đạo, trường ngoài giờ và cái máy tính, các cháu hầu như không còn thời gian để quan tâm đến các hoạt động xã hội, tiếp xúc với thiên nhiên và hậu quả là khi ra đời, khả năng thích nghi với cuộc sống sẽ bị hạn chế. Cha mẹ thì bỏ rất nhiều tiền của vào các lớp học, các loại phong bì, quà cáp, các buổi đưa đón con đi học ngoại khóa v.v. để rồi luôn lo sợ con mình sẽ không đỗ kỳ thi này hay đợt xét tuyển kia.

Thiếu định hướng: Nghe ra tưởng như nhận xét này mâu thuẫn với ngành giáo dục chuyên quan tâm đến định hướng ở Việt Nam. Nhưng trong khi chúng ta luôn đề ra các khẩu hiệu rất kêu: Đào tạo con người vừa hồng vừa chuyên, đào tạo con người gương mẫu, đào tạo con người XHCN, thì nhà trường Việt Nam bỏ qua mục tiêu: Đào tạo con người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, có chính kiến riêng biệt và biết bảo vệ chính kiến đó.
Nhà trường của chúng ta luôn định huớng để đào tạo ra những con người theo những chuẩn mực được định sẵn. Mọi kiến thức đều phải theo sách vở, theo một luồng tư tưởng chung, không cho phép con người ta "phản biện xã hội". Tôi còn nhớ đến các tranh cãi xôn xao dư luận trên báo chí về một số bài văn "lạ" của một em học sinh trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông.
Nếu tất cả trẻ em Việt Nam đều thấy rằng, cách tốt nhất để tồn tại ở xã hội này là phải suy nghĩ theo đám đông, thì bản thân các cháu sẽ không tự tìm tòi chân lý, dù đó là trong môn toán, hay môn văn, môn sử. Chính cách giáo dục nặng về "định hướng" này đã làm thui chột khả năng tự hình thành nhân cách của học sinh. Hậu quả là chúng ta có được một xã hội khá đồng nhất, nhưng ít có khác biệt về tư duy. Thiếu sự khác biệt ắt sẽ không có tinh hoa, và như một quy luật sinh học, xã hội sẽ rất khó phát triển, thậm chí dẫn đến suy vong. Đó là điều nguy hiểm nhất trong nền giáo dục của chúng ta.

Theo tôi định hướng duy nhất mà một nền giáo dục hiện đại phải hướng tới chính là: Phát triển khả năng tư duy tự do sáng tạo của trẻ, từ mẫu giáo, và tiếp tục bảo vệ các phát triển nhân cách riêng biệt đó cho đến khi vào đời. Nói một cách khác là phải đào tạo những con người có nhân cách độc lập và khả năng suy nghĩ tự do. Những con người này sẽ là cơ sở cho một xã hội dân sự phát triển.

Không làm được điều này, mọi cố gắng cải cách giáo dục, thay đổi sách giáo khoa, thay đổi các hình thức nhà trường mà chúng ta đã làm từ hơn 30 năm qua đều dẫn đến kết cục buồn bã mà tất cả chúng ta đều nhìn thấy. Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện đang được tranh cãi trên nhiều diễn đàn và tuy có nêu nguyên nhân khác nhau, song không ai chối cãi là nó đang tiêu cực quá mức báo động, và tất cả đều thống nhất là nguyên nhân của nó có nguồn gốc từ cơ chế quản lý xã hội.

Xã hội và con người

Giả thiết hệ thống nhà trường của chúng ta đã giải quyết được các khiếm khuyết nêu trên và làm tốt nhiệm vụ ương ra các cây giống lành mạnh cho xã hội thì liệu trong hoàn cảnh một mảnh đất như ở ta, các cây non đó có thể phát triển thành các đại thụ như ở các mảnh đất khác không? Nhìn sang các nước đang phát triển cạnh ta, chúng ta đã thấy họ có nhiều đóng góp cho nhân loại.

Các ông U-Thant người Miến Điện, ông De Cuellar người Peru, ông Butros Ghali người Ai Cập, ông Kofi Annan, người Ghana, ông Bankimoon người Triều Tiên đều lần lượt làm Tổng thư ký Liên hợp quốc. Đất nuớc Thái Lan cũng có ông Supachai Panitchpakdi từng làm Tổng giám đốc WTO. Tất cả vị này đều do các nhà nước đó đào tạo ra, trong các điều kiện khó khăn hơn ta ngày nay nhiều.

http://www.tuanvietnam.net/assets/images/lop9.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/lop9.jpg)

Nhà trường của chúng ta luôn định huớng để đào tạo ra những con người

theo những chuẩn mực được định sẵn (Ảnh: VnEpress.net)


Trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm, dân tộc ta đã tự hào vì có Trần Quốc Tuấn đánh bại quân Nguyên Mông, đạo quân đã từng làm cỏ phần lớn châu Âu và Trung Hoa. Chúng ta tự hào về Nguyễn Trãi biết lấy chí nhân để thay cuờng bạo, đánh tan 10 vạn quân Minh xong vẫn cấp lương thảo cho hàng binh rút lui, về Quang Trung thao luợc trong vòng 3 ngày đêm đánh tan 20 vạn quân Thanh.

Ở thế kỷ 20, thế giới vẫn nhớ đến Việt Nam bởi các danh từ Hồ Chí Minh, Điện Biên Phủ. Nhưng tất cả đó đều là chuyện của quá khứ, khi thế giới chưa hề biết đến hội nhập hay toàn cầu hóa. Ngày nay chúng ta hơi ngỡ ngàng là tuy nước ta đã có vị trí quốc tế cao hơn truớc, đã tiếp nhận rất nhiều trí thức Việt kiều, xuất thân từ những gia đình có truyền thống, được ươm trong các vườn cây ưu tú nhất của châu Âu trở về giúp cho chính quyền từ mấy chục năm nay.

Vậy mà chúng ta không hề có một đại diện nào đứng ở các vị trí then chốt của các tổ chức quốc tế như đã nêu trên chứ chưa dám mơ đến vị trí đứng đầu như các ông kia. Câu hỏi đặt ra là phải chăng mảnh đất này đã không cho phép các tinh hoa đó phát triển như mong muốn?

Thực tế cho thấy có không ít chuyên gia được đào tạo ở nuớc ngoài khi về nước đã làm sai chuyên môn sở trường. Trong hoàn cảnh xã hội trọng bằng cấp như ở ta thì các loại bằng cấp ở nuớc ngoài về quả là đắt giá. Nhưng chính cái hoàn cảnh mà phẩm chất và năng lực chuyên môn không phải là yếu tố đánh giá chất luợng cán bộ đã khiến những cái bằng này lập tức chuyển hướng đi tìm chỗ đứng của chúng là quan trường. Hậu quả là chỉ sau một thời gian ngắn, những tố chất được rèn luyện tại các vườn ương cây ưu tú kia sẽ bị lối sống thực dụng, giả dối và lối suy nghĩ một chiều hủy diệt.

Số may mắn được làm đúng ngành nghề thì lại không sống nổi với đồng lương và cuối cùng lại phải xoay xở để kiếm sống. Mà đã xoay xở kiếm sống thì anh phải tự uốn mình để phù hợp với xã hội và rốt cuộc là bị rơi vào cạm bẫy của cái gọi là "cơ chế thị trường". Còn nếu ai vì quá tự trọng mà không chấp nhận luật chơi của xã hội thì sẽ tự cô lập bản thân và sẽ tự thui chột theo một dạng khác.

Tất cả những não trạng này có lẽ ai cũng biết và mỗi khi đọc đến ai cũng sẽ kêu lên: Biết rồi khổ lắm nói mãi! Thậm chí có người còn nói: "Ở nước ta không phải đơn giản xã hội làm hỏng con người, mà là con người làm hỏng xã hội. Chính các thói xấu như ưa thành tích, ưa nói dối, thích kèn cựa, quen hối lộ đã gây ra các quốc nạn hiện nay!".

Tuy thấy rõ đây là một ý kiến ngụy biện, tìm cách đánh "lộn sòng" vai trò của nạn nhân và thủ phạm, nhưng ít ra nó cũng nêu lên mối quan hệ tương hỗ giữa con người và xã hội. Và nếu chấp nhận ý kiến này, coi xã hội ta đang bị chi phối bởi những con người với các thói xấu như vậy thì phải chăng nên đặt câu hỏi: Chúng ta đã có "chiến lược con người" đúng đắn?

Để cho mảnh vườn Việt Nam thành mảnh đất mầu mỡ cho các loại cây giống lành mạnh, đã đến lúc chúng ta phải mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật để tìm được cách thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn mà "càng đi nhanh càng sai" đó. Để làm được việc này mỗi người dân, mỗi người trí thức phải dũng cảm vượt qua chính mình để cất lên tiếng nói phản biện, góp phần tìm ra chân lý.

Nguồn: TuanVietNam

tiencd
16/11/09, 09:06 AM
Dạ em chào thầy ah !
Em là trong số không nhiều học sinh được học với thầy và nghe thầy nói rất nhiều về vấn đề xã hội.Và ngay trên diễn đàn của khoa ta cũng thế thấy luôn đưa lên nhưng bài rất hay nếu lên những bức xúc của đại đa số dư luận về các vẫn đề dạng như quản lý hành chính,giáo dục... của nước mình.
Qua những điều này em cảm nhận được thầy rất trăn trở về xã hội của chúng ta hiện nay. Và có một lần em được nghe thầy nói rằng : "chúng ta đang ở trong giai đoạn tế nhị của đất nước " có thể suy nghĩ của em còn hạn hẹp nên em vẫn chưa nghiệm ra hết những gì thầy nói.Và bản thân em cũng rất quan tâm tới nhưng vấn đề này vì vậy em mạnh dạn hỏi thầy được không ah :
- Em thấy rằng thầy đã đưa ra rất nhiều câu truyện dạng như ở trên nhưng em vẫn chưa được nghe thầy đưa ra quan điểm của mình làm thế nào để thay đổi.Em biết đó là một phạm trù rất rộng và cũng không dễ.Thầy có thể nói ngắn gọn nhất được không ah ?
- Và điều thứ hai em đã suy nghĩ nhiều nhưng vẫn sợ không đúng về câu nói của thầy "chúng ta đang ở trong giai đoạn tế nhị của đất nước " thầy có thể nói rõ hơn một chút không ah ?
Dạ em cảm ơn và chúc thầy sức khỏe
.

nbc
16/11/09, 11:24 AM
Em thấy rằng thầy đã đưa ra rất nhiều câu truyện dạng như ở trên nhưng em vẫn chưa được nghe thầy đưa ra quan điểm của mình làm thế nào để thay đổi.Em biết đó là một phạm trù rất rộng và cũng không dễ.Thầy có thể nói ngắn gọn nhất được không ah ?


Chào bạn tiencd.

nbc đúng là có mối quan tâm tới những yếu tố xã hội, nhưng không phải là một người nghiên cứu về nó.
Những bài viết mà nbc đưa lên đây chỉ là những bài viết mà nbc đã đọc, như một cậu học trò đọc, những mong bầu trời mà mình nhìn được ngày càng rộng mở hơn, chứ không chỉ "bằng cái vung" như trước đây mình đã từng nghĩ; ngoài ra cũng mong những người có cùng mối quan tâm đọc nó, không có "ý" gì khác.
Đọc rồi, nếu thấy điều gì có ích, cần phải làm mới mình thì cố gắng thay đổi; nếu điều gì mà sức mọn của mình có thể làm được thì nỗ lực làm... vậy thôi, không hề có quan điểm gì ghê gớm cả bạn ạ.

"Làm thế nào để thay đổi" những thứ vĩ mô như bạn nói ư? nbc tuyệt nhiên không có cái tầm ấy. Chỉ mong làm sao "tu" được cái "thân" này thôi, thế đã là phấn khởi lắm rồi.



- Và điều thứ hai em đã suy nghĩ nhiều nhưng vẫn sợ không đúng về câu nói của thầy "chúng ta đang ở trong giai đoạn tế nhị của đất nước " thầy có thể nói rõ hơn một chút không ah?

Rõ là cũng như nbc, bạn và mọi người đều biết là Việt Nam ta đã bước vào một "sân chơi" mới - WTO; cái "sân" mà trước đây chúng ta chỉ là người ngoài cuộc. Vào đó rồi thì phải theo "luật chơi" mà ta đã tự nguyện đồng ý khi tham gia, có nhiều thứ sẽ phải thay đổi. Không thay đổi hẳn là không được, nhưng thay đổi thế nào để vẫn phát triển một cách bền vững mới là cái khó. Rồi vấn đề quan hệ quốc tế, lãnh thổ, biển đảo... bao nhiêu thứ dồn dập, thứ nào cũng cần những quyết sách mang tầm cỡ quốc gia... chỉ sai một ly thôi đã đủ đi một dặm rồi.

nbc
17/11/09, 08:35 AM
Quốc hội nên đồng hành cùng ai?


Tác giả: Đoan Trang
Bài đã được xuất bản: 17-11-2009

Trong khi có ý kiến chỉ trích một số đại biểu Quốc hội vẫn chưa thoát khỏi tên gọi “nghị gật”, thì lại cũng có quan điểm cho rằng chân lý là Quốc hội luôn đồng hành cùng Chính phủ, Quốc hội và Chính phủ có đồng thuận thì mới hoạt động hiệu quả được. Câu trả lời có lẽ nằm ở cách hiểu thế nào là “bất đồng” và “đồng hành”.

Khi dân chúng thích xem cãi nhau

Sáng nay (17/11) phiên chất vấn của Quốc hội (QH) với Chính phủ (CP) trong khuôn khổ kỳ họp thứ 6 QH khóa 12 sẽ diễn ra và kéo dài trong 2 ngày rưỡi.

Từ mấy năm nay, mọi phiên chất vấn đều thu hút sự chú ý của công luận, bởi đó là dịp người dân được xem truyền hình trực tiếp cảnh tranh luận mặt đối mặt giữa đại biểu QH với thành viên nội các. Có những người xem chẳng hiểu gì lắm nhưng vẫn thích, vì mấy khi được chứng kiến quan chức "đôi co", "đốp chát" với nhau như thế.

Ai đã chứng kiến, chắc sẽ không quên vụ "căng thẳng" cách đây 6 năm giữa ĐBQH Nguyễn Đức Dũng (nguyên GĐ Sở Tư pháp Kon Tum) với Bộ trưởng Giáo dục lúc đó là ông Nguyễn Minh Hiển. Ông Hiển gay gắt: "Nếu được, tôi đã khước từ trả lời đồng chí Nguyễn Đức Dũng". Còn ông Dũng tỏ ra bực bội không kém: "Tôi thật sự cảm thấy thất vọng".

Và cả phiên chất vấn nóng bỏng giữa các ĐBQH và đại diện "nhánh" tư pháp - Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Văn Hiện - tại kỳ họp thứ 10 QH khóa 11 (năm 2006):

- ĐB Nguyễn Thị Hồng Xinh: Các giải pháp khắc phục tình hình mà Chánh án đưa ra đều cũ lắm rồi, thời gian qua đều đã làm nhưng án oan sai vẫn nhiều?

- Chánh án Tòa tối cao Nguyễn Văn Hiện (hỏi vặn): Về các biện pháp thì chúng tôi cũng nghĩ chán rồi. Đại biểu Sinh có biện pháp nào khác tốt hơn?

- ĐB Nguyễn Hồng Sinh (bực bội): Đồng chí hỏi lại tôi về giải pháp thì rất khó. Tôi có phải Chánh án TAND Tối cao đâu.

Phải thừa nhận rằng, từ rất lâu ở Việt Nam, dân chúng đã quen với suy nghĩ "chính quyền luôn đúng, đương nhiên đúng, bao giờ cũng đúng", thay vì có tư tưởng "chính quyền cũng chỉ là một thể chế do nhân dân tạo ra, gồm những cá nhân chọn từ dân mà ra, nên hoàn toàn có thể mắc sai lầm".

Chính bởi nếp nghĩ đã thành quen thuộc ấy, mà quan hệ giữa quan chức và thường dân luôn là thứ quan hệ giữa "trên" và "dưới", trong đó "trên" có việc của "trên", có cách làm của "trên", và luôn đúng; "dưới" dù thắc mắc cũng phải chấp hành kỷ luật, kỷ cương, đúng quy trình.

Do đó, việc các thành viên chính phủ phải trả lời chất vấn của đại biểu QH - những người trên danh nghĩa là đại diện cho ý nguyện nhân dân - công khai tại Hội trường, trước ống kính truyền hình, rất dễ được dân chúng thích thú, hoan nghênh (nếu có cãi vã thì càng hay). Nó tạo cho người dân cảm giác họ được quan tâm, được có tiếng nói, được tôn trọng, thậm chí được thấy những lỗi, sai lầm của "trên" bị vạch ra không thương tiếc.

Đó là dấu hiệu của một xã hội có những sinh hoạt dân chủ.


[/URL]http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/K-hp-th-6-QH-kha-12-nh-Ngi-i-biu-nhn-dn.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/K-hp-th-6-QH-kha-12-nh-Ngi-i-biu-nhn-dn.jpg)


Và như vậy, đứng từ góc độ của một thường dân mà xét, thì chuyện đại biểu QH "cãi nhau tay đôi" với Bộ trưởng, hay nói rộng ra, việc QH và CP không nhất trí với nhau về một vấn đề nào đó, có khi cũng thú vị đấy chứ! Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là bất đồng đến mức nào thì vừa? Có cần giải quyết bất đồng không - nếu có thì như thế nào, nếu không thì sẽ ra sao?

Mặt trái của sự bất đồng

Nhìn chung, dân chúng, nhất là ở những nước như Việt Nam, có thể thích việc đại biểu QH và quan chức CP bất đồng và tranh luận kịch liệt với nhau. Nhưng bất đồng chỉ nên dừng lại ở tranh luận một cách hòa bình, có văn hóa. Nếu bất đồng đến mức các chính trị gia "choảng" nhau ngay tại hội trường như ở một vài nước (điều chắc chẳng bao giờ xảy ra ở Việt Nam) thì cũng hơi thái quá và có phần thiếu văn minh.
Ngoài ra, như ĐBQH Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) nhận xét, "QH các nước đó nhiều đảng, và có khi người ta đánh nhau là do họ đấu tranh vì đảng mình, chứ không chắc đã vì nhân dân".

Nói cách khác, mâu thuẫn, thậm chí xô xát, giữa các thành phần khác nhau trong chính thể có thể dẫn đến sự chia rẽ của hệ thống chính trị, mà lại không vì quyền lợi của nhân dân.

Xét từ góc độ quản lý vĩ mô, nếu QH và CP không sao đồng thuận được, thì điều đó không phải không có nhược điểm: tạo nên sự thiếu gắn kết giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, cản trở CP hành động kịp thời trong việc ban hành và thực thi chính sách trên cơ sở những luật định do QH phê chuẩn.

Do đó, đã có ý kiến cho rằng CP và QH phải luôn đồng hành, phải "nhất trí cao" trong mọi việc; QH nhất định không được đứng ngoài để phán xét CP, đặc biệt là vào các thời điểm nhạy cảm - chẳng hạn, như vào thời buổi kinh tế khó khăn, quan hệ quốc tế phức tạp, v.v...

Và sự cần thiết phải có bất đồng

Nhưng nếu nói rằng CP và QH phải luôn đồng thuận, "nhất trí cao", thì khác nào triệt tiêu vai trò giám sát và phản biện của QH, tiếp tục nếp nghĩ muôn thuở "chính quyền luôn đúng, đương nhiên đúng, bao giờ cũng đúng". Mà nếu vậy thì... dẹp bỏ các phiên chất vấn cho rồi!

Về tác dụng của chất vấn, chắc không ai còn phải bàn cãi. ĐB Nguyễn Đình Xuân cho biết: "Ở nước mình, chưa từng có bộ trưởng nào bị bãi miễn trực tiếp vì nguyên nhân trả lời chất vấn không đạt. Tuy nhiên, cũng đã có những trường hợp bộ trưởng trả lời không thỏa đáng, bị ảnh hưởng rất lớn về uy tín, trước CP, trước QH, trước cử tri (nhân dân), và không được tái bổ nhiệm".

Chất vấn là một trong các cách để QH thực hiện quyền giám sát và phản biện của mình, buộc CP phải hoạt động hiệu quả hơn. Mà đã chất vấn thì sẽ phải có tranh luận, bất đồng, chứ không thể "đồng hành" được. Do đó, về nguyên tắc, CP và QH không thể "đồng hành" theo kiểu "dĩ hòa vi quý", mà phải thường xuyên gặp bất đồng để cùng có phương hưóng giải quyết.

Hơn ai hết, ĐBQH phải là người chấp nhận bất đồng, để dám chất vấn. Điều quan trọng chỉ là làm sao hạn chế mặt xấu của sự bất đồng, nghĩa là phải tìm cách giải quyết bất đồng cho hợp lý, vì lợi ích của nhân dân.

Giải quyết bất đồng ra sao?


[URL="http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/ton-cnh-K-hp-th-6-QH-kha-12-nh-Minh-in.jpg"]http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/ton-cnh-K-hp-th-6-QH-kha-12-nh-Minh-in.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/ton-cnh-K-hp-th-6-QH-kha-12-nh-Minh-in.jpg)


Việc đầu tiên cần làm để giải quyết bất đồng, là nó phải được nói ra thay vì "bảo lưu" trong bụng. Hiện tượng nhiều ĐB giữ im lặng, không chất vấn vẫn khá phổ biến ở QH bấy lâu nay.

Thực trạng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn, ĐB không đủ trình độ, không nắm vững vấn đề, hoặc sợ phát biểu động chạm.

Ông Nguyễn Đình Xuân - một ĐB có tiếng là thẳng thắn - cho biết: "Phát biểu gì cũng có thể đúng với người này mà sai với người khác, đúng vào lúc này mà sai vào lúc khác. ĐBQH chất vấn mà chẳng may để một số vị lãnh đạo không vừa lòng thì sẽ gặp rắc rối, cho dù được lòng cử tri".

(Chưa nói tới một khả năng khác cũng rất cao là ĐB đã có tư duy cảm thông, đồng thuận với CP ngay từ đầu, bởi ĐB cũng kiêm nhiệm cán bộ, quan chức trong chính quyền hành pháp. Mà như vậy thì không thể có bất đồng để giải quyết).

Việc cần làm thứ hai là chấm dứt tình trạng ĐB chất vấn không được thỏa mãn nhưng cũng đành im lặng, "nuôi" sự bất đồng. Điều này thường xuyên xảy ra, bởi lẽ, tuy trên nguyên tắc QH có thể truy vấn CP đến cùng, nhưng thời gian có hạn, mỗi ĐBQH hỏi ba lần đã là nhiều lắm, không thể "đôi co" được mãi.

Một ĐBQH, nếu thấy vấn đề nào đó được giải đáp chưa thỏa đáng, muốn đưa ra QH để có nghị quyết riêng hoặc đề nghị QH bỏ phiếu miễn nhiệm bộ trưởng, cũng gặp khó khăn vì chưa có cơ chế cho việc vận động hành lang để các ĐB khác cùng lên tiếng ủng hộ. ĐB đó chỉ có thể tận dụng vài phút ngắn ngủi phát biểu công khai trên Hội trường để thuyết phục QH cũng như CP quan tâm đến vấn đề mình muốn đưa ra.

Để các ĐBQH có thể mạnh dạn phát biểu ý kiến, tranh luận đến cùng, chất vấn có hiệu quả (nghĩa là tác động được tới CP), chẳng còn cách nào khác là phải tăng cường tính độc lập giữa QH và CP, sửa đổi và cụ thể hóa cơ chế để chúng ta có nhiều ĐBQH chuyên nghiệp, có trình độ, có thực quyền, để không sợ động chạm, không né tránh bất đồng.

Mọi sự bất đồng đều không đáng ngại nếu QH giữ vững sự độc lập của mình để thực hiện đúng chức năng giám sát, phản biện CP. Thậm chí, càng vào thời kỳ khó khăn về kinh tế, phức tạp về chính trị, QH càng cần chuyên nghiệp hơn, nghĩa là độc lập hơn với CP và có phản biện xác đáng, kịp thời hơn cho CP trong mọi vấn đề lớn của đất nước.

Điều đó, với một quốc gia như Việt Nam hiện nay, sẽ chỉ giúp người dân thêm phần tin tưởng vào QH - cơ quan đại diện cho họ - và hệ thống chính trị.

Tóm lại, QH lý tưởng là một QH luôn đồng hành cùng nhân dân và dân tộc.

Nguồn: TuanVietNam

phgpc
17/11/09, 12:12 PM
...Quốc hội lý tưởng...

"Đặc điểm thời kỳ quá độ là xen kẽ". Khi học thì chỉ biết là xen kẽ thôi, càng ngày càng nghĩ thấy càng đúng, càng hay.

World of Love
17/11/09, 11:32 PM
Sắp đến ngày 20/11 nữa rồi. Nhân dịp xin trích lại 1 câu chuyện cảm động về thầy cô giáo để thầy trò mình cùng đọc và suy ngẫm.
Trong cuộc sống sinh viên cũng vậy có nhiều cám dỗ khi các bạn xa nhà. Mình cũng từng được nghe nhiều anh chị khóa trước của khoa kể và biết được khoa mình cũng có những thầy cô như vậy. Và tin rằng các anh chị ấy cũng như nhân vật Teddy trong câu chuyện.

Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tại trường tiểu học của thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ. Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp năm, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái, cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. “Teddy trông thật khó ưa.”

Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thật rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém). Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những gì đọc được. Cô giáo chủ nhiệm lớp 1 nhận xét Teddy như sau: “Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan… Em là nguồn vui cho người chung quanh”. Cô giáo lớp 2 nhận xét: “Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống trong gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu”. Giáo viên lớp 3 ghi: “Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ”. Giáo viên chủ nhiệm lớp 4 nhận xét: “Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp”.

Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những gói quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xỉn mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hoá. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất một vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt ít nước hoa trong chai lên cổ.

Hôm đó Teddy đã nén lại cho đến cuối giờ để nói với cô: “Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa”. Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, cô đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học sinh cưng nhất của cô.

Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em”. Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng 3 trong lớp và “Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em”. Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng “Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời”. Rồi bốn năm sau nữa, cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. “Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em”, nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.

Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường dành cho mẹ chú rể. Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra?

Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất. Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: “Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ”. Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu: “Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chưa từng biết dạy học cho tới khi cô gặp được em.”
(St)

toan_nguyen
18/11/09, 12:44 AM
Quốc hội nên đồng hành cùng ai?


Tác giả: Đoan Trang
Bài đã được xuất bản: 17-11-2009


Thực trạng này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn, ĐB không đủ trình độ, không nắm vững vấn đề, hoặc sợ phát biểu động chạm.

Ông Nguyễn Đình Xuân - một ĐB có tiếng là thẳng thắn - cho biết: "Phát biểu gì cũng có thể đúng với người này mà sai với người khác, đúng vào lúc này mà sai vào lúc khác. ĐBQH chất vấn mà chẳng may để một số vị lãnh đạo không vừa lòng thì sẽ gặp rắc rối, cho dù được lòng cử tri".



Để các ĐBQH có thể mạnh dạn phát biểu ý kiến, tranh luận đến cùng, chất vấn có hiệu quả (nghĩa là tác động được tới CP), chẳng còn cách nào khác là phải tăng cường tính độc lập giữa QH và CP, sửa đổi và cụ thể hóa cơ chế để chúng ta có nhiều ĐBQH chuyên nghiệp, có trình độ, có thực quyền, để không sợ động chạm, không né tránh bất đồng.



em đồng ý với điều này, sợ phát biểu động chạm, theo em không phải vì họ không có đủ lòng can đảm để nói mà vì họ còn có gia đình, không thể làm được gì khi mình nhỏ bé quá...
như ngày xưa, những vị quan liêm chính, vạch trần những tội ác của bọn tham quan nhưng cuối cùng cũng không được gì, nặng thì bị người ta hãm hại, còn không thì từ quan, quy về ở ẩn, chán với thế sự, lấy thú vui điền nhiên sống qua ngày...
em lấy một ví dụ, trong một tồ chức nhỏ như đoàn khoa chẳng hạn, khi các bí thư đi họp, nêu lên đề xuất của mình, hay lên tiếng thẳng thắn phê phấn một sự việc nào đó, thì chăng hay có được chấp nhận hay không, hay là bị tạo ra sự áp lực giữa các phía, rồi gây căng thẵng mất đoàn kết, cũng chỉ vì sự nhìn nhận, nghe và lắng nghe của người lãnh đạo, rồi người này có thể tiếp tục đảm nhiệm được hay không, hay rồi lại...
một tổ chức nhỏ như vậy, cũng không có sự rõ ràng, huống gì, một tổ chức có đường lối như vậy.
những người có tài, có đức lại bị đầy ra, nhưng cũng không thề làm được gì.
xã hội loạn lạc, không giúp được gì, đánh tránh xa thế sự.
chỉ mong sau ngàn năm sẽ có sự thay đổi...
Thế Sự Vô Thường
:M047:

toan_nguyen
22/11/09, 11:59 PM
Lễ khai giảng nơi nghèo nhất Thủ đô
Sau 13 tháng về với Hà Nội, các học sinh của trường tiểu học Yên Trung (Thạch Thất) đón năm học mới với một lễ khai giảng giản dị. Không bóng bay, không quần áo mới, các em đến trường trong sự cố gắng của cha mẹ và trách nhiệm của thầy cô...
Với tỷ lệ trên 80% người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường), 3/4 hộ có “sổ nghèo”, Yên Trung là một trong những xã nghèo nhất của Thủ đô. Cùng nằm trong hệ thống giáo dục của thành phố, so sánh với trường của những quận nội thành sẽ thấy khoảng cách khá xa về cơ sở vật chất, nhưng một tương lai tốt đẹp ở rất gần phía trước đang chờ đón các em.

http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15122_1.jpg
Một số trường, khi đi khai giảng các em phải mang theo ghế ngồi
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15123_2.jpg
Ở sân trường không có nhiều thứ để trang hoàng cho buổi lễ, chỉ có một phông vải màu để làm nền cho sân khấu
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15124_3.jpg
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15125_4.jpg
Các học sinh của trường THCS Yên Trung
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15126_5.jpg
Cặp cột bằng dây chun phía sau xe đạp - một hình ảnh quen cũ
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15127_6.jpg
Tình yêu thương của cha mẹ sẽ là động lực học tập khi vật chất còn nhiều thiếu thốn
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15128_7.jpg
Trong các tiết mục văn nghệ, các em phải múa, hát “chay” mà không có phần nhạc đệm
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15129_8.jpg
Tạm gác lại công việc đồng áng, các phụ huynh đến trường dõi theo bước chân của các em
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15130_9.jpg
Một suất ăn sáng bỏ dở
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15131_10.jpg
Hát Quốc ca và chào cờ cùng khẩu trang phòng chống cúm A/H1N1
http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i15132_14.jpg
Niềm vui ngày khai trường.

Hữu Nghị (Nguồn: dantri.com.vn)

nbc
01/12/09, 04:13 PM
“Thưa cô, cô dạy thế thời gian đâu nghỉ ngơi?”

Đây là câu hỏi mà tôi nghe được từ một học sinh lớp 12 trường tư hỏi cô giáo dạy văn của mình. Và cô giáo đã rất lúng túng với câu hỏi ấy. Bởi nhìn vào lịch giảng dạy - phụ đạo của cô, thời gian rảnh gần như không còn.


Buổi sáng bắt đầu từ 7g30, dạy đủ năm tiết đến 11g30; buổi chiều bắt đầu từ 13g30, dạy thêm ba tiết đến 16g. Phụ đạo (hay truy bài) từ 16g45-19g. Thời khóa biểu này ngày nào cũng như ngày nấy từ thứ hai đến thứ sáu.

Riêng thứ bảy, cô giáo dạy buổi sáng và phụ đạo đến 15g15. Như vậy thời gian mà cô giáo không lên lớp chỉ còn có ngày chủ nhật. Ngày không lên lớp không đồng nghĩa với việc cô giáo được nghỉ ngơi vì cô còn phải dành thời gian cho gia đình.

Đây không phải là trường hợp cá biệt, đa số giáo viên (dạy các môn được cho là “chính” như toán, lý, hóa, văn, Anh) giảng dạy lớp 12 ở các trường dân lập, tư thục đều có một lịch giảng như thế. Các giáo viên trường công có tham gia thỉnh giảng ở các trường tư cũng giảng dạy với thời khóa biểu dày đặc như vậy.
Rõ ràng đây là một thực tế vượt xa định mức quy định về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông mà Bộ GD-ĐT vừa mới ban hành và có hiệu lực từ ngày 6-12. Theo quy định của Bộ GD-ĐT, định mức giáo viên THPT giảng dạy trong tuần là 17 tiết. Trường hợp giáo viên dạy văn nói trên, chỉ lấy thời gian giảng chính khóa từ thứ hai đến thứ sáu với mỗi ngày tám tiết thì con số đã là... 40 tiết, chưa tính thứ bảy và các giờ phụ đạo!

Vấn đề đặt ra là giảng dạy nhiều như thế thì thời gian đâu để giáo viên nghỉ ngơi và đầu tư, bổ sung kiến thức cho công tác giảng dạy? Chính vì thế, trả lời cho thuyết phục câu hỏi của em học sinh nói trên không phải dễ... Hiệu trưởng một trường tư thục cho rằng dù ông biết thực trạng giáo viên mình như thế, nhưng vì lý do “tìm không ra người” nên cũng đành bố trí cho thầy cô giảng dạy kín lịch.

Từ trước đến nay, dư luận thường lên tiếng về sự quá tải của học sinh, gánh nặng học sinh cuối cấp..., ít ai biết được giáo viên cũng đang gánh chịu quá tải từ công việc. Không ít giáo viên gần như “đánh mất thời gian” được nghỉ ngơi, được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức.

Theo quy định của ngành giáo dục, giáo viên được nghỉ ít nhất là hai tháng hè, nhưng ở các trường phổ thông ngoài công lập, thời gian nghỉ của thầy cô chưa tới... hai tuần. “Luyện” cho học sinh lớp 12 đến ngày 30-5 hằng năm, đến 15-6 đã bắt đầu năm học mới dành cho lớp 12 tiếp theo. Cứ thế, xoay vần ngày-tuần-tháng rồi năm! Khi học trò hỏi “Thưa cô, cô dạy như thế thì thời gian đâu nghỉ ngơi?”, cô giáo đã giật mình...

ĐOÀN THẢO (TP.HCM)

Nguồn: TuoiTre Online

Lời bàn: biến "thầy" thành "thợ dạy" có lẽ đã trở thành một xu thế chung, phổ thông cũng thế mà đại học cũng vậy. Nghĩ cho cùng thì các thầy cô khoa XDCD ta cũng có khác các "thợ dạy" mấy đâu!? Nếu bây giờ được ước, nbc xin được ước gì mình được dạy ít đi! :M056:

nbc
06/12/09, 11:53 AM
Tham luận của GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng

Giáo sư danh dự thực thụ, Đại học Liège, Bỉ

Tại: HỘI NGHỊ NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI HÀ NỘI, 20-24/11/2009

Vài ý kiến về đổi mới chính sách và xây dựng không gian thoáng cho sinh hoạt có hiệu quả của chuyên gia, trí thức góp phần vào công cuộc xây dựng đất nuớc

Kính thưa ban chủ tọa, kính thưa các đồng nghiệp kiều bào,

Tôi xin bắt đầu bài tham luận này bằng vài hình ảnh về các Văn phòng Cao học chúng tôi đã thực hiện dành cho việc đào tạo cao học tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 1990 cho đến ngày chấm dứt tháng 9 2008. Đặc biệt từ năm 1995 cho đến nay, trên 700 học viên đã theo học, 318 thạc sỹ châu Âu đã tốt nghiệp và 20 em đã bảo vệ thành công luận án tiến sỹ tại các trường Đại học tiên tiến của các nước phát triển, phần đông không phải dùng ngân sách quốc gia. Hiện nay gần 70 nghiên cứu sinh phát xuất từ hai trung văn phòng EMMC và MCMC còn đang chuẩn bị bảo vệ tại các trường đại học trên. Để nói lên hiệu quả quốc tế của chiến dịch đào tạo này xin đơn cử một thí dụ nhỏ. Cũng tháng này năm ngoái, trong Hội thảo về Cơ học tính toán quốc tế do Hội Cơ học Việt Nam và trường Cao đẳng Bách khoa Paris tổ chức tại trường Đai học sư phạm Thủ Đức (27-30/11/2008), 25% các công bố khoa học là phát xuất từ các cựu học viên của các văn phòng cao học của chúng tôi!

Nếu không có đổi mới thì tôi sẽ không thể nào đóng góp được gì cho Việt Nam từ năm 1990 cho đến nay, đặc biệt cho ngành giáo dục và đào tạo bậc cao học mang tính quốc tế. Không có đổi mới thì tôi sẽ khó có mặt tại Việt Nam hôm nay. Tôi nghĩ điều này cũng đúng cho nhiều trí thức, chuyên gia Việt kiều khác.

Ta biết công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng cùng cực của thời bao cấp và cho phép Việt Nam phát triển thành công, nhanh chóng vươn lên làm cho cả thế giới kinh ngạc, bạn bè thán phục.

Tuy nhiên trên hành trình phát triển mới, trong giai đoạn hội nhập hôm nay, thời buổi hậu WTO, tôi thiết tha mong đổi mới hơn nữa, nhanh hơn nữa, triệt để hơn nữa. Điều này cả nước mong đợi, Việt kiều chúng tôi mong đợi nhưng phải thành thật nói là mọi việc vẫn còn là kỳ vọng!

Sau hơn hai mươi năm đổi mới ai cũng thấy những tác hại của cơ chế bao cấp ngày xưa cho nên việc dân chủ hóa cơ chế, xã hội hóa chính sách, trao trả nhiều hơn nữa cho xã hội dân sự quyền lợi và nghĩa vụ chính đáng là thiết thực là cần thiết cho công cuộc phát triển. Chuyên gia trí thức Việt kiều quan tâm đến tình hình hiện nay đều không khỏi lo âu vì những lý do chủ quan và khách quan như ảnh hưởng suy thoái tòan cầu, kinh tế Việt Nam đang bị khựng lại, tình trạng tham nhũng không giảm thiểu mà ngày càng lộng hành. Theo tôi, cơ chế quan liêu bao cấp vẫn còn là vật cản cho công cuộc hiện đại hóa và công nghệ hóa đất nước. Điều làm tôi rất lo là cơ chế này nay gắn liền với nhiều lợi ích cục bộ. Tôi e rằng khả năng mất cân bằng giữa sự phân tầng quyền lực và tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị. Nguy cơ này càng đáng quan ngại hơn nữa khi Việt Nam phải đối phó với áp lực bên ngoài và ra sức bảo vệ toàn vẹn lãnh hải đang bị đe dọa nghiêm trọng.



Đổi mới quản lý nghiên cứu khoa học


Là một giáo sư Đại học, một nhà khoa học đã sinh hoạt 48 năm tại một nước tiên tiến, đã bỏ ra 15 năm thường xuyên qua lại Châu Âu - Việt Nam để chuyễn giao công nghệ, tôi đặc biệt quan tâm và có nhiều trăn trở thiết thực về việc tổ chức nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.

Tôi có cảm giác ta đã đi chệch hướng lâu hằng mấy thập kỷ. Khi cả một hệ thống nghiên cứu khoa học đã chồng chất quá nhiều bất cập, thì mọi thay đổi nhanh chóng là điều rất khó.

Báo chí đã nhiều lần đề cập đến tính không hiệu quả của nền khoa học Việt Nam. Những con số rất thuyết phục đã chỉ rõ Việt Nam ta đang đứng ở đâu so sánh với các nước lân bang : Số bằng sáng chế của VN là 0 trong năm 2006 trong lúc của Mã Lai là 147 Thái Lan là 158, Singapore là 995, Hàn Quốc là 102.663, (Báo cáo của ĐH Harvard về Giáo dục đại học tại Việt Nam).

Tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa và yêu cầu canh tân hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học Việt Nam là yêu cầu bức thiết không thể không có được nếu ta muốn đạt mục đích hằng đề ra là hiện đại hóa và công nghệ hóa đất nước!

Hình như Bộ Khoa học và Công nghệ đã ý thức việc này và đã đề đạt một bộ luật về Công Nghệ.
Nhưng theo tôi đây chỉ là những biện pháp tình thế chưa phải là bước đi có tính đột cần thiết để nhanh chóng phát triển bắt kịp lân bang.

Cần có một tư duy mới mẻ và dũng cảm mới có thể trả lại khoa học lại cho các nhà khoa học chân chính, mới tạo điều kiện cho việc xuất hiện một không gian, một môi trường thông thoáng dân chủ cởi mở cần thiết cho các nhà khoa học thực thụ. Bởi vì khoa học là tôn trọng sự thật, là phát hiện cái mới, là sáng tạo, là phê phán cái cũ, là phát huy cá tính năng khiếu, là thoát ra khỏi những khuôn mẫu xơ cứng, những đường mòn giáo điều, là vươn ra thế giới bao la, là tôn trọng những hệ giá trị quốc tế về khoa học…

Nói tóm lại, ta phải triệt để đổi mới tư duy mới có thể phục hồi tinh thần khoa học chân chính. Cụ thể hơn tại Việt nam ngày nay, muốn đột phá, phải dũng cảm cắt bỏ những khối u nhức nhối trong các cơ sở khoa học, phải rà soát lại nhân sự đang làm khoa học, phải chọn đúng người đầu đàn cho từng lĩnh vực…



Kiện toàn đổi mới nền giáo dục



Tôi thiết tha mong mỏi Việt Nam nhanh chóng cải tổ triệt để nền giáo dục. Đây là vấn đề cốt lõi mà toàn bộ xã hội đã và đang bức xúc! Đã có biết bao nhiêu ý kiến của các bậc thức giả, các nhà giáo tâm huyết trong và ngoài nước cho việc này. Bản thân tôi cũng đã nhiều lần phát biểu, đã viết nhiền bài báo được đăng tải trên các cơ quan ngôn luận đại chúng… Nhưng việc đổi thay sao quá chậm chạp! Ở đây cũng toát lên những sai lầm đã chồng chất quá nhiều năm có hiệu ứng dây chuyền, cỗ xe thì quá cồng kềnh, sức ỳ quá lớn, lợi ích cục bộ phe phái quá nhiều nên mọi chuyện có vẻ như đâu rồi cũng vào đấy. Tôi chưa thấy bánh xe đổi mới giáo dục thực sự lăn, dốc còn quá cao chăng?

Những sai lầm từ những thập kỷ đã qua dần dần ai cũng thấy:

1. Vai trò người thầy trong giáo dục chưa được coi trọng dúng mức. Chánh sách đào tạo người thầy chưa ổn, lương bổng không đủ ăn, điều kiện sinh hoạt còn nhiều bất cập…

2. Đề cao số lượng coi thường chất lượng.

3. Đề cao bằng cấp, coi thường học thực.

4. Xem học đường là một cơ sở tuyên tuyền thay vì một lò tập luyện hiểu biết và nhân cách.

Theo tôi, muốn có thay đổi căn bản phải chạy chửa cho được những căn bệnh trầm kha trên.
Không thể dùng liều thuốc cảm để chữa bệnh di căn! Động tác này cũng cần sự đổi mới tư duy triệt để. Khi tư duy đã dứt khoát, hướng đi đã xác định, thì vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Đọc dự thảo chiếc lược giáo dục, tôi vẫn chưa thấy toát ra yêu cầu bứt thiết này!



Tạo không gian phản biện cho chuyên gia trí thức




Ta biết có những khoản thời gian dài, thí dụ như mười năm bao cấp sau ngày hòa bình thống nhất, người trí thức thiếu không gian để bày tỏ ý kiến. Những sai lầm trong các chính sách của Đảng và Nhà nước không được phản biện kịp thời, góp ý đúng mức. Nay trước những thách thức về tài chính, kinh tế, xã hội… ai cũng dần dần thấy được là để điều hành một doanh nghiệp, một tổ chức và lớn hơn, một quốc gia, không thể nào chỉ dựa vào ý chí chính trị và khẩu hiệu mệnh lệnh. Không thể có những quyết định đúng đắn nếu quy trình ban hành những quyết định đó không hội đủ hàm lượng trí tuệ đóng góp từ các trí thức, chuyên gia…

Gần đây, Hội nghị Trung ương 7 (tháng 7/2008) đã vạch ra một cách khá chính xác những tiền đề để các nhà trí thức có được không gian sáng tạo, tự do tranh luận và công khai ý kiến, một không gian thoáng cho phép hình thành một đội ngũ trí thức tâm huyết có khả năng đóng góp cụ thể và xây dựng, một lực lượng cốt cán đang rất cần cho đất nước.

Tôi xin ghi lại đây vài điểm tích cực quan trọng của Nghị quyết TƯ số 27 về việc xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH
« Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức, trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”.

Nghị quyết 27 NQ/TƯ còn nhấn mạnh đến việc:

“Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức; đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức như phát huy tài năng và trọng dụng những trí thức có phẩm chất tốt, có năng lực quản lý là đảng viên và không phải là đảng viên trong các cơ quan nhà nước và tổ chức sự nghiệp, xây dựng chính sách thu hút, tập hợp trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước tích cực tham gia hiến kế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới… Trọng dụng, tôn vinh những trí thức có đóng góp thiết thực, hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế”.

Nghị còn lưu ý đến những tiêu cực hiện hành:

“Vẫn còn hiện tượng ngại tiếp xúc, đối thoại, không thực sự lắng nghe, thậm chí quy chụp, nhất là khi trí thức phản biện những chủ trương, chính sách, những đề án, dự án do các cơ quan lãnh đạo và quản lý đưa ra”.

Điều làm tôi kinh ngạc là sau chưa đầy một năm, quyết định 97 về việc ban hành các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ lại dẫm chân đúng vào chỗ này, không nhất quán với nghị quyết của Bộ Chính trị. Xin ghi lại đây điều 2 của quyết định 97:

« Chỉ hoạt động trong lĩnh vực thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này. Nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ ».

Trong một lần trả lời phỏng vấn mạng VietnamNet Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Quân đã nói đến nguyên nhân ra đời của Quyết định này.

“Trong bối cảnh xã hội phức tạp hiện nay, nhất là trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế đầy khó khăn thử thách, chúng ta cần có sự đồng thuận cao của xã hội đối với các quyết sách của Đảng và Nhà nước…thì việc công bố các kết quả nghiên cứu phản biện liên quan đến đường lối chủ trương, chính sách điều hành kinh tế xã hội phải hết sức thận trọng.”
Tại sao lạ vậy, chính việc phản biện khoa học, được công bố rộng rãi mới có sức thuyết phục cao, mới là cơ sở cho việc đồng thuận chứ ?
Theo tôi người trí thức chân chính rất dị ứng với môi trường quan liêu mệnh lệnh, xơ cứng người trí thức chân chính cần một môi trường thông thoáng, cởi mở, dân chủ tự do. Chỉ như vậy thì trí thức mới phát huy được đầy đủ vai trò của mình. Không có không gian tự do sáng tạo và tranh luận công khai ý kiến thì không thể xuất hiện đội ngủ trí thức chân chính và tâm huyết được.

Việt Nam không thể chấp nhận một số phận chư hầu phiên thuộc

Việt Nam là một nước có hàng ngàn năm văn hiến, có một quá khứ oai hùng, một giải đất hài hoà, tài nguyên trù phú, hai mùa thuận lợi mưa nắng đi về, một vùng trời vùng biển bao la, án ngự trên một địa bàn chiến luợc tại Châu Á, một Châu lục đang trên đường chế ngự kinh tế toàn cầu, là một nước không thể nhỏ được!

Việt Nam là một đất nuớc đã từng làm cho những đoàn quân hung hãn nhất của lịch sử loài người, những tham vọng điên cuồng nhất của các triều đại phong kiến toàn trị, liên tục phải ném mùi thảm bại thì không thề nào nhỏ được!

Việt Nam là một đất nuớc với hai bàn tay trắng, với đội quân nông dân đi chân trần, đã đứng lên giành độc lập tự chủ, đánh bại những đế quốc thực dân trang bị khí giới hiện đại tối tân nhất trong lịch sử loài người.

Việt Nam là một đất nước đã từng là lương tâm của nhân loại, là hiện thân kiên cường và bất khuất của các dân tộc bị trị toàn cầu, đã là niềm tin của nhân loại tiến bộ, niềm kiêu hãnh của phong trào giải phóng thuộc địa của lịch sử hiện đại.

Đã có lúc, chỉ cách đây có hơn ba mươi năm, những nhà khoa học, nhà trí thức, những văn nghệ sỹ tài ba, những con người tinh hoa vào bậc nhất của nhân loại đã phải vẫy tay chào, ngã mũ cuối đầu để nói lên lòng ngường mộ và có người đã chân thành thốt lên: “Ước gì ngủ một đêm sáng dậy, sẽ là người Việt Nam”!

May thay, hai mươi năm đổi mới đã dần dần đẩy lùi sự tác hại cỗ máy bao cấp, dần dần tìm lại những giá trị thực, phục hồi sinh lực của xã hội, dần dần đưa đất nước tiến lên, tạo nên thế và lực mới.

Và thế giới đã phải kinh ngạc phát hiện sự trỗi dậy và vươn lên của hiện tượng Việt Nam hôm nay trong một bối cảnh hoàn toàn mới!

Việt Nam là bạn của tất cả các dân tộc trên thế giới, Việt Nam đang chuyển mình đề trở thành đối tác đáng tin cậy của các nuớc yên chuộng hoà bình và mưu cầu phát triển bền vững, Việt nam phấn đấu để sớm trở lại với vị trí xứng đáng của mình trong khu vực và trên trường quốc tế.

Nhất định Việt Nam không thể chấp nhận một số phận chư hầu phiên thuộc.




Kết luận : Tập hợp trí thức, chấn hưng dân khí vì quyền lợi dân tộc



Muốn thế hơn bao giờ hết Việt Nam cần tất cả những đóng góp của một bộ phận tinh hoa nhất, cần thiết nhất của xã hội, của dân tộc: người thực tài, người trung thực, người trí thức chân chính, bộ phận có khả năng phản biện, thường có tiếng nói lạ tai và khó nghe, có điều kiện cần thiết để làm đối trọng, đóng vai trò không thể thiếu được trong một xã hội đang phát phát triển và luôn luôn cần phải điều chỉnh kịp thời và đúng lúc.

Riêng đối với việc tạo điều kiện cho trí thức kiều bào đông đảo hướng về, và cụ thể đóng góp phục vụ cho đất nước, tôi xin tóm lược kiến nghị với chính phủ hai ý như sau:

Chất xám là sản phẩm quý hiếm nên nó mong manh, dễ vỡ. Huy động chất xám nhất là chất xám cao cấp cần những biện pháp tế nhị. Điều này đòi hỏi cần phải tạo dựng một không khí thỏa mái, thân thiện, dân chủ tự do trong phát biểu, góp ý và đề xuất khoa học. Đây là điều tiên quyết để trí thức người Việt ở nước ngoài về hoạt động và đóng góp hết mình.

Cần đặc biệt chú trọng đến những chính sách đối với trí thức trong nước. Vì đây như là cái gương để trí thức kiều bào soi thấy và quyết định hành động của mình. Tôi nghĩ phải tạo điều kiện cho trí thức trong nước phát biểu, phản biện thẳng thắn vô tư độc lập. Đây chính là nhân cách của những nhà hoạt động khoa học độc lập, vì họ tôn trọng chân lý và sự thật, không bị chi phối bỡi những lợi ích cục bộ. Hãy để mọi người hướng chung tới quyền lợi dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước một cách hài hòa và đầy đủ. Nếu trí thức trong nước còn phải e dè lo ngại, thì trí thức người Việt định cư ở nước ngoài làm sao khỏi cảm thấy băn khoăn, do dự…

Dân tộc Việt Nam có hành trang bất biến là tình yêu quê hương đất nước nồng nàn. Đi khắp năm châu bốn bể, tôi chưa thấy có dân tộc nào gắn bó với đất nước mình như vậy. Đây là một giá trị vĩnh hằng, không bao giờ mai một dù lịch sử có thăng trầm. Hiện nay dường như chúng ta chưa khai thác được hay khai thác rất ít nguồn tài nguyên vô tận này đặc biệt là chất xám Việt kiều. Tôi mong mỏi rằng nhà nước sẽ sớm nắm bắt được những quy luật cần thiết đã nói ở trên để tranh thủ kịp thời và đúng mức, tạo nên những tác động to lớn hơn, phù hợp với quyền lợi chung của toàn dân tộc.



Hà Nội ngày 20/11/2009


Nguồn: từ Blog cá nhân của GS Nguyễn Đăng Hưng www.ndanghung.com (http://www.ndanghung.com)
CauduongBKDN biên tập lại chính tả

nbc
22/12/09, 07:44 PM
Đại tướng Lê Đức Anh: 'Ta phải giữ cho được tự chủ'


Cập nhật lúc 14:48, Thứ Ba, 22/12/2009 (GMT+7)

http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif (http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif) - Đại tướng Lê Đức Anh chia sẻ với VietNamNet về vai trò bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của quân đội hôm nay, nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam,
Đại tướng nói, "điều quan trọng là phải giữ cho được độc lập tự chủ để trụ vững".

Theo Đại tướng, tình hình quốc tế và khu vực có những diễn biến phức tạp song hòa bình, hợp tác cùng phát triển vẫn là xu thế lớn.

Việt Nam vẫn luôn phải là bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước, với nhân dân các nước. Đây là một thái độ cần thiết và quan trọng trong bối cảnh hiện nay, tránh lơ là mất cảnh giác.

"Chúng ta cần tranh thủ hợp tác với quốc tế để bảo vệ đất nước. Có xây dựng tốt thì mới bảo vệ được tốt. Bảo vệ được độc lập, chủ quyền thì mới có thêm bạn bè", Đại tướng nhấn mạnh.

Vị Đại tướng cũng không quên lưu ý, chúng ta xác định tinh thần làm bạn với nhân dân các nước, nhưng nếu trong nội bộ các nước có thế lực xấu thì chúng ta nên tìm cách phân hóa.

Nói về vai trò và nhiệm vụ của quân đội trong tình hình mới, Đại tướng khẳng định: "Sức mạnh của quân đội gắn liền với sức mạnh của nhân dân. Quân đội Việt Nam là một quân đội vì nhân dân".

Giọng chậm đều, ông vẫn nhớ rõ thời điểm cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khi Việt Nam trải qua những khó khăn về kinh tế, tình hình phức tạp và quân đội đã phải chủ động cắt giảm lực lượng, chỉ tập trung cho các mũi nhọn.

"Lạm phát khi đó lên tới 700%, nếu chúng ta vẫn để lực lượng quân đội lớn như vậy sẽ gây sức ép lớn... Trong nhiều năm, quân đội đã chủ động cắt giảm lực lượng, tập trung sức mạnh tăng cường cho khu vực Tây Nguyên và bảo vệ Biển Đông. Vấn đề là chúng ta phải bảo vệ được nhà nước đang trong cơn khủng hoảng", Đại tướng Lê Đức Anh nói.

Vị Đại tướng cũng khẳng định thêm, trong bối cảnh mới, tình hình đã khác và diễn biến hiện nay cũng không đơn giản. Đây cũng là lúc cần tăng cường sức mạnh của chúng ta hơn nữa.

Ngoài những bài học về tinh thần hợp tác để giữ vững chủ quyền như đã nói ở trên, Đại tướng còn nhắn nhủ: "Bạn bè quốc tế vẫn đang tin tưởng vào chúng ta. Nếu chúng ta không biết tranh thủ và không diệt được nạn tham nhũng, lãng phí thì sẽ để mất thời cơ".

Ông cũng trăn trở về sự tồn tại của một giai đoạn lịch sử Việt Nam.

"Sự thực phải được nói ra. Mình chỉ nói sự thực thôi. Sự thực không được nói là cắt xén lịch sử. Như vậy sẽ nguy hiểm, bất lợi cho thế hệ mai sau. Một khi đã có hiểu nhầm thì khó có thể nói lại được".

Lê Nhung

Nguồn: VietNamNET

P/S: một bài viết mà có lẽ người đọc sẽ phải "ngẫm" nhiều.

nbc
02/01/10, 04:50 PM
Nhận thức, mất chức và tự tử

Tác giả: Khánh Duy

Chủ tịch UNND tỉnh Đồng Tháp đã thừa nhận những sai phạm trong việc hàng chục ngàn ha đất do người dân khai mở đã bị thu hồi cho người thân của lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện thuê làm ao nuôi cá với giá ưu đãi. Một trong số người thân ấy là vợ ông.

Có câu chuyện thế này...

Chưa tới hừng đông, người đàn ông nọ đã dậy thật sớm và bật máy tính của mình lên. Ông viết vài dòng bình luận cuối cùng về vụ scandal tham nhũng liên quan tới vợ con đã hủy hoại danh tiếng chính trị của mình.

Một giờ ba mươi phút sau, ông bước ra khỏi nhà và như thường lệ, trèo lên ngọn đồi nhỏ quen thuộc. Mặt trời đã nhú phía xa xa nhưng bị che mờ bởi một bầu trời giăng kín mây mù. Từ đỉnh đồi, nhà chính trị đưa mắt nhìn quê hương miền nam thân yêu lần cuối rồi gieo mình xuống vực thẳm bên dưới...

Ông chết ngay khi được đưa vào bệnh viện vì chấn thương sọ não...

4Người ta bật máy tính của ông lên và đọc được những dòng cuối cùng ông nhắn nhủ lại vợ con và nhân dân thế này:

"Đừng quá buồn, cuộc sống và cái chết là một phần của tự nhiên. Đừng hối tiếc. Cũng đừng đổ lỗi cho ai cả. Hãy chấp nhận nó như định mệnh".

Trước đó, ông còn nói thế này nữa: "Tôi không thể nhìn thẳng vào mặt các bạn vì nhục nhã. Tôi xin lỗi vì đã làm người dân thất vọng".


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/dam-tang-RohMooHyun-anh-tintuconline.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/dam-tang-RohMooHyun-anh-tintuconline.jpg)
Đám tang cựu Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun. Ảnh: AP
Quê hương miền nam ấy là Bongha, Hàn Quốc và người đàn ông ấy là cựu tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun.

Cái chết của ông Roh vào tháng 5 vừa rồi đã khiến hàng triệu người Hàn Quốc rơi nước mắt và trong đám tang ông, người ta thấy hàng chục ngàn người lẽo đẽo đi theo chiếc xe tang kết đầy hoa trắng...

Xung đột lợi ích

Ông Roh đã bị cáo buộc "nhận hối lộ" 6 triệu đôla từ một nhà sản xuất giày. Doanh nghiệp này đã đưa khoản hối lộ cho vợ, con và anh vợ ông.


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/nguoi-Han-Quoc-khoc-thuong-tong-thong-Roh-Moo-Hyun-anh-AP.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/nguoi-Han-Quoc-khoc-thuong-tong-thong-Roh-Moo-Hyun-anh-AP.jpg)
Người Hàn Quốc khóc thương vị cựu tổng thống. Ảnh: AP

Câu chuyện của Roh không mới ở Hàn Quốc nói riêng và châu Á nói chung. Chuyện nói nôm na như các cụ ta là "một người làm quan, cả họ được nhờ", còn nói học thuật kiểu phương Tây một chút là "xung đột lợi ích", sự nhập nhằng giữa công lợi và tư lợi.

Mô hình khá phổ biến cho "xung đột lợi ích" ở châu Á là chồng "xung phong" nơi tiền tuyến chính trị, vợ và các con an tâm làm kinh tế ở hậu phương. Hậu phương và tiền tuyến hỗ trợ nhau cùng phát triển.

Một tấm gương điển hình ở châu Á là cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra. Ông này khi làm chính trị đã "buông hết" công ty, tài sản cho vợ con quản lý. Thậm chí khi phải kê khai tài sản thật, vợ con ông này còn tìm cách đẩy hết số tài sản ấy cho người coi nhà, giúp việc, lái xe, vệ sĩ... đứng tên.

Hai trong số những người giúp việc trong nhà Thaksin đã từng nằm trong Top 10 người nắm giữ cổ phiếu nhiều nhất trên thị trường chứng khoán Thái Lan.

Năm 2006, Thaksin đã bị lật đổ do những cáo buộc dùng quyền lực chính trị làm giàu cho Tập đoàn Shin do vợ con ông quản lý, đỉnh điểm là vụ bán cả tập đoàn viễn thông ấy cho Singapore mà không đóng thuế.

Ngay cả ở phương Tây cũng không tránh hết chuyện "một người làm quan, cả họ được nhờ". Gần đây nhất là vụ chủ tịch Ngân hàng Thế giới Paul Wolfovitz từ chức vào năm 2007 do bê bối quanh chuyện "dàn xếp nâng lương cho người yêu (cũng là nhân viên Ngân hàng Thế giới)".


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/Thaksin-nguon-anh-AP.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/images/Thaksin-nguon-anh-AP.jpg)
Cựu Thủ tưởng Thái Lan Thaksin Shinawatra. Ảnh: AP

Ông Thaksin từ trước khi làm thủ tướng đã có câu nói nổi tiếng về chuyện "xung đột lợi ích": "Trên đất nước Thái Lan, kinh doanh và chính trị quan hệ khăng khít với nhau như hai anh em sinh đôi vậy".

Không chỉ Thái Lan, bất cứ nơi nào thiếu pháp quyền và phân lập đều là mảnh đất mầu mỡ cho "xung đột lợi ích".

Phản ứng và nhận thức

Bản chất xung đột lợi ích ở mọi nơi là giống nhau, duy chỉ có điều, phản ứng của những chính trị gia bị phanh phui có "tư túi" từ "túi công" thì lại khác nhau. Sự khác đó cũng phản ánh mức độ tiến hóa của xã hội.

Ở Mỹ, ông Paul Wolfovitz ngay lập tức "từ chức" để bảo vệ uy tín của Ngân hàng Thế giới cũng như chính mình, dù vi phạm của ông chỉ đơn giản là nâng lương cho cô bạn gái người Anh gốc Lybia.

Ở Hàn Quốc, ông Roh Moo-hyun đã chọn cái chết để bảo toàn danh dự cá nhân. Là một chính trị gia từng nổi tiếng chống "chủ nghĩa tư bản thân hữu", từng ném thẳng cả một cái bảng tên vào tổng thống tham nhũng Chun Doo-hwan giữa Quốc hội Hàn Quốc vào thập niên 80, Roh đã dùng chính mạng sống của bản thân để giữ hình ảnh "một chính trị gia trong sạch" trong lòng công chúng.

Ở Thái Lan, ông Thaksin lại hỏi ngược dân chúng và những người cáo buộc rằng liệu họ cần một chính trị gia trong sáng như thiên thần nhưng không làm được tích sự gì hay cần một CEO thực sự biết cách điều hành đất nước tới hạnh phúc và giàu mạnh.
Dù Thaksin bị tố cáo tham nhũng, một bộ phận khá lớn tầng lớp nhân dân vẫn "tôn thờ" ông và lịch sử đã chứng minh giai đoạn Thaksin nắm quyền là thời kỳ bình ổn và thịnh vượng hơn cả trong lịch sử Thái Lan.

Còn ở Việt Nam, sau cáo buộc "xung đột lợi ích" vừa rồi, ông Trương Ngọc Hân, chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp cũng đã "thẳng thắn nhìn nhận là có vi phạm trong việc quản lý thu hồi, cho thuê đất bãi bồi ở Châu Thành... trong đó có vợ tôi là bà Trần Ngọc Ánh, em phó chủ tịch Võ Trọng Nghĩa, vợ Bí thư Tỉnh ủy Huỳnh Minh Đoàn".

Tuy vậy, ông lại cho rằng nguyên nhân của những vụ việc sai phạm vừa rồi "chủ yếu do nhận thức thiếu sót" và đã "nghiêm túc kiểm điểm".

Xung đột lợi ích không bắt đầu từ vấn đề "nhận thức". Nhưng "nhận thức" nên là điểm kết thúc của nó, như cựu tổng thống Hàn Quốc đã "nhận thức" ra ở những thời khắc cuối cùng của cuộc đời mình:

"Tôi không còn đại diện cho những giá trị mà tôi hằng đeo đuổi. Tôi không đủ tư cách để nói về những điều như dân chủ, tiến bộ và công bằng".

(Bài viết thể hiện góc nhìn riêng của tác giả)

Nguồn: VietNamNET

World of Love
04/01/10, 09:21 AM
Cái vòng tay biến mất


Hồi còn nhỏ, bài học đầu tiên tôi được học là vòng tay trước ngực khi chào hoặc khi nói chuyện với người lớn. Gặp ai, mạ tôi thường nhắc: Vòng tay thưa chú (cô, dì, chú, bác...) đi con. Khi trẻ con có lỗi, người lớn thường bắt đứng nghiêm, vòng tay lại.

Đi học, mỗi khi trả lời, học trò chúng tôi đều vòng tay lại, thưa thầy rồi mới nói.

Tôi quen đến mức lớn rồi vẫn không bỏ, gặp người lớn tuổi hơn đều vòng tay thưa.

Thế mà không biết từ bao giờ, tôi không còn thấy trẻ con vòng tay nữa. Hỏi ra, thì ở các lớp mẫu giáo, nhiều nơi cô vẫn dạy các em vòng tay, nhưng về nhà, có lẽ vì không được bố mẹ giám sát, nhắc nhở thành ra các em nhanh quên. Càng lớn lên người ta lại càng quên. Vì nhà trường cũng như gia đình cũng không lấy đó làm trọng. Cái vòng tay từ đó ít khi nhìn thấy trong đời sống.

Bật ti vi lên, nếu đang chiếu phim nước ngoài giữa chừng, thấy cung cách chào nhau của họ, đã biết ngay là phim nước nào. Hàn có kiểu của Hàn, Nhật có kiểu của Nhật, Trung Quốc có kiểu của Trung Quốc, Lào, Thái... đều có kiểu riêng...

Tôi rất phục cách ứng xử của họ, nếu là nhân viên, dù bị sếp mắng đến đâu, dù trong lòng thế nào đi nữa, khi sếp đi cũng phải cúi đầu xuống... Kể cả dân xã hội đen cũng thế, bị đánh te tua, máu mồm đang chảy cũng không lau, đầu cúi xuống...

Không như ta.

Người Bắc là người được coi là có khuôn phép nhất. Mỗi bữa ăn đều mời cả nhà ăn cơm. Nhưng lũ trẻ bây giờ ranh mãnh lắm, nó không nói mời ông xơi cơm, mời bà xơi cơm... mà nói ông cơm, bà cơm... Không nói thưa chú con về mà nói chú về. Nói thì nói nhưng mặt nhìn tận đẩu đâu trông rất ngứa con mắt. Tôi ghét nhất điểm này. Có gì đó như là sự đãi bôi cho xong việc.

Học sinh ra đường, gặp thầy, không có chuyện đứng nghiêm vòng tay thưa thầy như hồi xưa mà vẫn ngồi trên xe đạp, xe máy, hét lên chào thầy nhưng mặt cứ vác lên.

Lễ phép không phải là làm cho xong việc. Lễ phép là đạo đức.

Một lần, lâu lắm rồi mới thấy lại, một sinh viên về chỗ tôi thực tập, gặp ai trong cơ quan cũng vòng tay thưa chú, thưa anh, thưa chị... Tôi sửng ra một lúc, thấy lòng mình rưng rưng như thể gặp lại một điều gì đó từ trong sâu thẳm, vô cùng thân quen.

Cứ nghĩ, sao người ta bỏ dạy con, bỏ dạy học trò vòng tay? Kiểu vòng tay là kiểu chào duy nhất chỉ VN có, sao lại bỏ? Thật tiếc.

Có những chuyện rất nhỏ, như cái vòng tay, hay đưa cho người lớn hơn mình cái gì cũng phải đưa hai tay, mắt nhìn vào người đối diện, nhỏ thôi nhưng nó định hướng hẳn cho con người ta một cách ứng xử, một cách nghĩ... và cuối cùng là một nền tảng rất vững vàng để từ đó, dù có "hội nhập" thế nào đi nữa, thì ta vẫn có giá trị trong con mắt thế giới. Mất những cái đó, ta còn gì?

Và nếu duy trì, ta lại có một nét đặc trưng không thể lẫn vào đâu được. Đó cũng là “thương hiệu” Việt vậy!
Nguồn:thanhnien.com.vn

nbc
05/01/10, 06:04 PM
Ích kỷ: sự thắng thế của phần “Con”


Tác giả: Hà Văn Thịnh

Trong bài diễn văn đọc tại nhà thờ lớn nhất thế giới đêm Giáng Sinh – nhà thờ St Peter (còn có tên là nhà thờ Quo Vadis), Đức Giáo hoàng Bennedict XVI nói về nhiều vấn đề, trong đó Ngài đặc biệt nhấn mạnh rằng sự tồi tệ hiện nay của thế giới phần lớn là do con người “chỉ chăm chăm nhìn vào quyền lợi cá nhân ích kỷ của chính mình”; và, vì thế, “biến chúng ta thành tù nhân của quyền lợi và khát vọng của mình”…

Nghe, giật mình và… bừng hiểu điều tưởng chừng như ai cũng đã biết: Hầu như tất cả những sai lầm, xung đột, mâu thuẫn, tệ nạn, nhức nhối… trong xã hội thời nay đều bắt nguồn từ tính ích kỷ quá đáng của chính bản thân mỗi chúng ta!

Vì sợ ảnh hưởng đến quyền lợi cụ thể của mình nên mọi sự phê phán trong dịp lễ tổng kết cuối năm chỉ được nghe khuyết điểm của “một bộ phận”, “một số” nào đó. Lảng tránh sự thật, thậm chí sợ hãi nó là bạn đồng hành muôn thuở của tính ích kỷ. Nếu thật sự đặt cái chung, điều tốt đẹp nhất của chân lý lên trên hết thì không thể nào chấp nhận cách thức mù mờ của hiểu biết khi phân định đúng sai. Sâu và bức bối hơn nữa là “quốc nạn” tham nhũng. Vơ vét thật nhanh cho cá nhân bất kể phương tiện, thủ đoạn đã trở thành bệnh mãn tính của thời kinh tế thị trường. Chúng ta đổ lỗi cho cơ chế nhưng lại quên mất rằng chính con người đẻ ra cơ chế đó. Đã biết thế sao không chịu thay đổi? Câu trả lời còn giản dị hơn cả chuyện trứng nở thành gà: Nếu thay đổi thì lợi ích nhóm, lợi thế của quyền lực, lợi nhuận khổng lồ từ sự gian dối chẳng còn đất để nhiễu nhương!

Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Uỷ viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị mới đây (sáng 25/12/2009) đã nhìn nhận rằng: gần như không có khả năng tự phát hiện tham nhũng. Lý do, theo ông Phạm Quang Nghị là "Nhiều người than phiền, phê bình nhưng toàn nói chuyện nơi khác còn của bản thân hay của đơn vị mình thì không thật nghiêm túc" và “đáng tiếc nhiều vụ việc là do có mâu thuẫn nội bộ mới xảy ra việc tố cáo nhau chứ nếu không thì vẫn thường bao che nhau” (Vietnamnet, 25/12/2009). Nói một cách khác, đó là cách diễn đạt điều mà Bác Hồ đã nói từ rất lâu: Ai cũng có cái ba lô chủ nghĩa cá nhân nhưng vì “nó” đeo ở sau lưng nên không ai muốn nhìn thấy nó.

Làm thế nào để giảm bớt tính ích kỷ của con người?

Trước hết, phải xác định một cách sòng phẳng, rõ ràng như Kinh Thánh rằng bản chất của con người ngay từ đầu là “thích” phạm sai lầm (triết lý từ chỗ loài người được “bắt đầu” khi Éva ăn trái cấm và ai sinh ra cũng phải được rửa sạch tội tổ tông – Virginius Sin). Sai lầm lớn nhất của nền văn minh phương Đông là cho rằng “nhân chi sơ tính bổn thiện” (hoàn toàn ngược lại với phương Tây). Từ xuất phát điểm khiếm khuyết này, những thói tật xấu xa của con người chẳng khác gì nấm mọc sau mưa. Tệ buồn hơn nữa là chúng ta cứ loay hoay dọn dẹp nó mà không hề chịu nghĩ rằng cách thức tốt nhất để đổi thay là đoạn tuyệt với nó. Logic của nhận thức đã phạm một sai lầm ghê gớm là cố mài giũa cho trẻ nhỏ rằng cần phải tốt hơn trong khi lẽ ra phải chỉ mặt đặt tên của vấn đề là hãy bớt xấu đi. Ví dụ rõ nhất là chúng ta dạy cho học sinh ở trường học, con cái trong nhà là phải yêu cái này, yêu cái nọ mà không hề dùng từ ghét. Tại sao không mở đầu những bài giảng về đạo đức bằng những câu như: Căm ghét sự giả dối, tính ích kỷ là “bạn đường” đáng khinh nhất của hành trình sống, chỉ yêu chính mình (ích kỷ, self-seeking) là một cách sống tệ hại, giành phần bánh nhiều hơn là tội ác? Nguyên tắc của nhận thức là khuyên điều tốt không thể tạo ra hiệu quả bằng cách luôn nhấn mạnh những cái xấu, cái không thể chấp nhận.


http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/142.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/142.jpg)


Một sai lầm lớn nữa của nền giáo dục của ta hiện nay là không cho học sinh cơ hội phản kháng. Nếu cái gì thầy, cô nói ra cũng đúng, nếu sách giáo khoa là pháp lệnh, nếu trứng không thể ngo ngoe như rận thì sự chai lỳ của chịu đựng sẽ trở thành một tai hoạ: Thói quen im lặng, “dĩ hoà vi quý” chân chặt sai lầm sẽ là định thức “cần” của ứng xử. Trở lại với ý kiến của ông Phạm Quang Nghị đã trích dẫn trên đây, rõ ràng là chuyện đánh mất phản xạ trước sự khuất tất, sai lầm diễn ra vô khối trong đời là “kết quả” của nền giáo dục “con người mới” mà chúng ta vẫn thoải mái tôn vinh(!) Cái im lặng chịu đựng của cô, cậu học trò ngày hôm qua tất nhiên sẽ dẫn đến sự im lặng bao che, im lặng đồng loã, im lặng để có thể chờ trục lợi – cách sống cơ hội nhiều nguy hiểm.

Biện giải rằng cuộc sống cần những điều tốt đẹp luôn luôn đúng. Thế nhưng, không dám đối diện với những cái xấu, cái ác hiện hữu là lạm dụng, thái quá cái “luôn luôn” đó. Tốt - xấu là cặp phạm trù vĩnh viễn của âm – dương. Nếu tin rằng xấu là dương thì kết quả giáo dục sẽ khác.

Hãy hình dung là không phải tự nhiên mà thời gian bất tử của Kinh Thánh đã được kiểm định từ lịch sử hàng ngàn năm: Cả loài người chỉ còn có một người tốt là ông giá Noé – Noah(!) Cách nhìn ấy tàn nhẫn và xạm đen nỗi buồn nhưng phải tin rằng đó là sự thật, ít nhất trong cái ngầm định được nhân cách hoá là cái tốt không nhiều. Các nhà triết học luôn phân định hai chữ con người bằng dẫn dụ là phần “con” (tính động vật) đi kèm phần “người” (tính nhân bản, đạo đức, trí tuệ). Tuy nhiên, các nhà triết học cũng lảng tránh thực tại là cái phần con ấy là tiền định, là có trước, là lấn át.

Sự ích kỷ chính là cái phần “con” của bản năng sinh tồn động vật muốn ăn “no” nhất có thể vì không tin rằng ngày mai, ngày kia cơ hội được ăn như thế vẫn còn. Chỉ yêu chính mình còn là cách để sống thoát trước những đe doạ không hề nhân nhượng của đối thủ, tai ương. Nếu giáo dục cho học sinh rằng cách sống đó là sai lầm vì xã hội loài người sở dĩ có được là nhờ thành công của chất người, tức là sự chia sẻ, hiểu biết, cảm thông; rằng đấu tranh chống lại cái xấu là bổn phận sống, rằng như Đức Phật đã dạy, kẻ thù lớn nhất của cuộc đời là chính mình…; sẽ đạt tới thành công đồng nghĩa rằng không ích kỷ nhiều lắm vẫn sống tốt, bình thường và hạnh phúc!


Nguồn: TuanVietNamNet

nbc
03/02/10, 02:30 AM
Một nền giáo dục hiện đại hóa (http://boxitvn.blogspot.com/2010/02/mot-nen-giao-duc-hien-ai-hoa.html)


Tác giả: Phạm Toàn

Đây là một trải nghiệm rồi trở thành một chân lý, nghĩ rằng nhắc lại cũng không thừa: nếu chỉ cần thỏa mãn nhu cầu một năm, thì trồng lúa là tạm ổn – nếu cần thỏa mãn nhu cầu mười năm, thì nên trồng cây – nếu phải thỏa mãn nhu cầu một trăm năm, thì nhất thiết phải trồng người. Việc trồng người, đến lúc này, sẽ đứng trước ít nhất ba chọn lựa: làm một cách tàm tạm - làm một cách hiện đại - làm một cách nửa tàm tạm nửa hiện đại. Ta sẽ thấy ngay rằng, cách làm ăn tàm tạm không bao giờ đồng nghĩa với chuyện "lợi ích trăm năm" cả. Còn cách làm ăn nửa tàm tạm nửa hiện đại thì cũng vậy, "trăm năm" mà cứ đan đi giặm lại (tương ứng với cải đi cách lại) thì không thuyết phục được ai hết. Ta thấy ngay điểm nhất trí của toàn xã hội: phải tiến hành công việc vì lợi ích trăm năm - công cuộc Giáo Dục – theo mục tiêu hiện đại. Đó là hướng đi hợp lý nhất.

Xã hội hiện đại hóa

Đến đây, nẩy sinh câu hỏi: vậy hiện đại là gì? Thế nào là một nền giáo dục hiện đai? Và làm thế nào để có được một nền giáo dục hiện đại? Nếu không thống nhất được khái niệm "hiện đại" thì công cuộc hiện đại hóa Giáo Dục trong công cuộc hiện đại hóa đất nước sẽ rơi vào một trong ba kiểu phí phạm: phí lời, phí tiền, phí sức. Phí lời, khi đưa ra quá nhiều khẩu hiệu, quá nhiều lời kêu gọi, quá nhiều vẻ đẹp tu từ, nhưng chẳng đi đến đâu. Phí tiền, khi những món nợ cứ chất chồng song hành với việc than phiền không đủ tiền chi tiêu cho phát triển giáo dục. Và phí sức… Hãy nhìn chỉ một sự việc này thôi thì sẽ hiểu phí sức nghĩa là gì: hai mươi triệu học sinh gò lưng dùng ba cuốn sách đính chính để chữa chín mươi triệu bản sách giáo khoa. Việc đó mới xảy ra đầu năm học 2008-2009, rất dễ kiểm chứng.



Vậy, thế nào là "hiện đại"?

Tiêu chuẩn duy nhất – dấu hiệu duy nhất – để xác định tính hiện đại trong xã hội là sự thay thế xã hội nông nghiệp bằng một xã hội công nghiệp. Xã hội công nghiệp thay cho xã hội nông nghiệp, điều đó dễ nhận thấy, và chân lý đó cũng dễ dàng chấp nhận. Nhưng còn khía cạnh sau đây thì có khi vẫn ít người chú ý tới: xã hội công nghiêp không thay thế cho xã hội nông nghịêp theo lối đột ngột, mà diễn ra trong tiến trình công nghiệp hóa dần dần. Trong tiến trình "hóa thành công nghịêp" ấy, cả một xã hội vẫn sản xuất nông nghiệp theo lối tiểu nông sẽ biến đổi, ngay cả nền nông nghịêp của mình cũng mang tính công nghiệp, để thành một nền nông nghiệp công nghiệp hóa.

Điều vô cùng quan trọng diễn ra trong tâm lý con người trong suốt tiến trình công nghiệp hóa đó. Có một chuyện mang tính chất tiểu tiết minh họa cho trạng thái tâm lý đó: cách dùng cái ốc vít. Khi cái ốc vít được dùng để gá những bộ phận cứng như sắt thép thì con người dễ chấp nhận cách làm theo lối công nghịêp. Nhưng khi dùng ốc vít vặn vào vật mềm như gỗ, rất nhiều công nhân bảy chục năm sau khi ốc vít ra đời vẫn dùng búa đóng như đóng đanh! Cách lao động đó không thuộc xã hội công nghiệp hóa, mà vẫn theo kiểu cách của xã hội nông nghiệp. Tương tự như vậy là hiện tượng công nhân khu công nghiệp hẳn hoi nhưng sau khi về quê ăn Tết thì "vui xuân" luôn và "tút" luôn.

Người ta đổ cái tội vô kỷ luật công nghiệp đó cho phong tục, tập quán. Quả có thế; vốn là nông dân nhiều đời chỉ quẩn quanh với đồng ruộng, nên cái giai cấp công nhân nửa mùa đó rất đỗi nhớ làng nhớ xóm, nhớ cái chốn tiểu nông êm ái cũ. Phải có thời gian, và phải được giáo dục – giáo dục như một sự chuẩn bị "trồng người" và cả giáo dục thông qua kỷ luật lao động công nghiệp – thì đến một lúc nào đó, mọi người sẽ có một lối sống và một lối tư duy như những người dân các nước công nghiệp khác: họ sống ở đâu cũng được, cứ có công ăn việc làm tốt và có đời sống hạnh phúc thì sống ở đâu cũng được; họ không có khái niệm "nhớ nhà", họ không bắt chước Nguyễn Tuân sùi sụt "thiếu quê hương" rồi chen nhau mua vé về thăm quê, để được nhìn cảnh quê xưa cũng đang dần dần công nghiệp hóa.

Nhà trường hiện đại hóa

Như ta đã thấy, một xã hội muốn hiện đại hóa nhất thiết phải đi bằng con đường công nghiệp hóa. Và công nghịêp hóa là cả một tiến trình lâu dài chứ không diễn ra một cách đột ngột như trong truyện thần tiên. Trong tiến trình công nghịêp hóa đó, mắt thường thấy mọc lên những xí nghiệp, mắt thường cũng thấy công việc "thành thị hóa nông thôn" không còn là khẩu hiệu như trong cương lĩnh của nhiều tổ chức chính trị - xã hội thế kỷ hai mươi. Mắt thường của con người cũng thấy cả nền nông nghiệp cũng thành một xí nghiệp công nghiệp kinh doanh nghề nông.

Nhưng đây mới là điều quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa mà mắt thường khó nhận thấy: con người tạo ra hệ thống công nghịêp, và hệ thống công nghiệp vật chất, cụ thể đó cũng đào luyện trở lại con người thành những con người của nền công nghiệp. Đó là một quá trình đôi bên - nền công nghiệp và con người của nền công nghiệp - cùng sinh thành lẫn nhau. Trong quá trình cùng sinh thành đó, xã hội thành một xã hội công nghiệp hiện đại hóa, và con người biến thành con người của nền công nghiệp hiện đại hóa.

Có hai tác nhân đào tạo ra con người công nghiệp hiện đại hóa đó. Tác nhân thứ nhất vận hành một cách tự nhiên, lối sống công nghiệp hiện đại hóa như một thói quen hình thành theo lối mưa dầm thấm lâu. Một tác nhân thứ hai là nhà trường. Đó là lý do vì sao hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi ta được thấy nở rộ các cuộc nghiên cứu tâm lý trẻ em với mấy cột mốc vô cùng đẹp đẽ: năm 1905 với công cuộc của bác sĩ Binet điều tra đo nghiệm trẻ em trước khi vào học tiểu học, sau được vượt Đại Tây Dương và phát triển thành bộ đo nghiệm mẫu mực mang tên Binet-Simon; năm 1910 với bản tuyên ngôn của Thorndike "Đóng góp của tâm lý học cho giáo dục"; và từ năm 1920 trở đi là những công trình do Piaget tiến hành, thăm dò thực nghiệm vào cách học của trẻ em để tìm ra cách dạy các em.

Trong công cuộc trồng người đó, nếu cần lôi ra một dấu hiệu cơ bản, nếu cần quy định thành một nguyên lý về tính chất hiện đại của nhà trường, thì nó đây: một nhà trường hiểu biết sâu sắc trẻ em nhờ đó mà vừa tôn trọng trẻ em đồng thời vẫn dắt tay dẫn trẻ em vào công cuộc tự học, tự giáo dục của chính các em.

Cũng giống như trường hợp của người lớn cùng sinh thành với công cuộc công nghiệp hóa để hiện đại hóa đất nước, trẻ em cũng cùng sinh thành với nền giáo dục tạo cho các em năng lực sống và cùng sinh thành với công cuộc công nghiệp hóa để hiện đại hóa đất nước. Đừng bao giờ có ảo tưởng tổ chức ngay một vài năm, thậm chí một vài chục năm, cho xong xuôi một nền giáo dục hiện đại. Suy nghĩ cách đó vừa là ảo tưởng lại vừa là không hiểu biết các quy luật vận động của xã hội. Nếu cố tình suy nghĩ theo cách đó thì có thể bị nghi ngờ là có động cơ không chính đính.

Trong công cuộc cùng sinh thành với đất nước, trẻ em và người lớn có một điểm giống nhau và một điểm khác nhau.

Điểm giống nhau giữa trẻ em và người lớn là cả hai đều phải bắt tay vào làm ra chính mình trong khi làm ra nền công nghiệp để hiện đại hóa đất nước (ngứoi lớn) hoặc làm ra nền giáo dục hiện đại hóa (trẻ em). Không có ai chỉ thông qua những "trò vui lấy thưởng" cùng những lời hò reo mà có thể làm nên công cuộc công nghiệp hóa hoặc làm ra nhà trường hiện đại hóa. Cả người lớn và trẻ em đều phải mó tay vào làm và học – làm thì học (tạm dịch cái đường lối learning by doing đang thời thượng bây giờ).

Trong công việc làm và học – làm thì học ấy, trong công cuộc làm được tới đâu thì học được tới đó ấy, giữa người lớn và trẻ em có chỗ khác nhau căn bản: người lớn thì dùng công cụ có sẵn và trẻ em thì phải làm ra công cụ cho mình.

Công cụ có sẵn gửi trong cái công việc người lớn nắm giữ để công nghịêp hóa đất nước. Một người lớn không thể nói tôi yêu tổ quốc, nhưng tôi không làm công việc gì hết. Trong công việc người lớn phải làm và chụ trách nhiệm ấy, có chứa đựng sẵn cái kỹ thuật cùng chuỗi công nghệ mang tính thời đại. Một người lớn không thể nói tôi yêu công cuộc công nghịêp hóa để hiện đại hóa đất nước, nhưng tôi không tôn trọng quy trình kỹ thuật, tôi có quyền "phá" máy vì dốt kỹ thuật, tôi có quyền làm hỏng sản phẩm vì không tôn trọng công nghệ sản xuất. Cái kỷ luật lao động công nghiệp hóa chính là thước đo mức độ người lớn đã cùng sinh thành tới đâu với công cuộc hiện đại hóa đất nước. (Một mở ngoặc cần thiết: dĩ nhiên cái kỹ thuật hoặc cái chuỗi công nghệ để người lớn bắt tay vào làm và học – làm thì học không thể là kỹ thuật và công nghệ bẩn nhắm mắt nhập bừa bãi về để làm bẩn tổ quốc).

Trẻ em khác người lớn: các em tập làm ra công cụ. Và là những công cụ chuẩn cho một sự nghiệp hiện đại hóa. Thật ư? Có thể như vậy chăng? Thưa vâng, thật đó. Có thể và phải như vậy lắm. Miễn là ta thống nhất cách hiểu khái niệm công cụ nhà trường dạy cho trẻ em tự "tay" mình làm ra. Đó là cả loạt công cụ trong tư duy của các em. Bộ công cụ học tập các em phải tạo ra ngay trong đầu các em, và đó phải là bộ công cụ hiện đại hóa. Ngay từ khi bước chân vào học lớp Một, ngay từ tiết học đầu tiên, các em đã phải bắt tay tạo ra bộ công cụ đó. Bộ công cụ học tập đó ở trẻ em lớp Một cũng giống như của sinh viên năm thứ mấy của trường Đại học, với một chút khác biệt: hai bộ công cụ cùng chuẩn đó sẽ gia công trên những loại vật liệu khác nhau, thế thôi. Nhưng bất kể với vật liệu nào, thì công cụ tư duy của em bé lớp Một và anh chị sinh viên đại học cũng không được chênh nhau.

Chỗ khó khăn khi thực hiện lý tưởng giáo dục nói trên là ở năng lực bất cập của nhà tổ chức. Chống độc quyền là cần thiết, xã hội hóa là cần thiết, để có nhiều phương án hiện đại hóa nhà trường ngay từ lớp Một. Trong cuộc thi đua này, những nhà trường "hiện đại" theo lối đi vay tiền về mua đồ dùng dạy học "xịn" chắc chắn sẽ thua những nhà trường hết sức tiết kiệm chỉ có những "đồ dùng dạy học" vô hình nằm bên trong tư duy con trẻ.

Nguồn: Vietnamnet, ngày 6 tháng 11 năm 2009

nbc
09/02/10, 06:45 AM
Tâm sự đầu năm với Đà Nẵng

15:36, 8/2/2010 (GMT+7)

(Đà Nẵng Xuân 2010) - Hình như nhiều người đều có cảm nhận này: Thời gian trong hòa bình hóa ra lại trôi nhanh hơn trong chiến tranh, mới đó mà đã 35 năm hòa bình. Cũng lại thường có cảm giác thời gian trôi nhanh, rất nhanh khi người ta làm được nhiều việc, có nhiều việc để mà làm, lúc nào cũng gấp gáp, hối hả, lúc nào cũng thiếu thời giờ, con người đuổi theo đến hút hơi vẫn thấy chưa đủ. Tôi nghĩ người dân Đà Nẵng là những người có được cảm giác như vậy, và đấy quả là một hạnh phúc.



http://media.baodanang.vn/Library/images/76/2010/02/sn_keo%20co%20duoi%20bien.jpg (http://media.baodanang.vn/Library/images/76/2010/02/sn_keo%20co%20duoi%20bien.jpg)

Họ thấy thành phố của mình thay đổi từng ngày. Có lẽ sẽ không sai khi nói rằng ngày nay nhiều người, cả trong nước và ngoài nước, đặt chân đến Đà Nẵng đều công nhận đây là một trong vài thành phố đẹp nhất nước, và là cái đẹp mới, được tạo nên từ khoảng hơn chục năm nay. Trước đó, nhớ lại, thành phố nhếch nhác, thậm chí có cảm giác gì đó như uể oải, chán chường, không muốn động chân động tay, không biết đến bao giờ, không biết làm sao thay đổi cho được đây?

Tôi thường cố nhớ lại cái thời điểm bắt đầu của sự thay đổi đó, cố nhớ lại xem bằng sự kiện nào mà mọi sự đã bắt đầu? Hình như bắt đầu là thế này: Một vài con đường được tu bổ, làm mới. Tôi nhớ đường Đống Đa và đường Nguyễn Tri Phương. Không phải đường phố, còn tệ hơn cả đường làng, ổ voi chứ không phải ổ gà. Rác ngập ra đường, bám chân người đi qua. Thường vẫn vậy, rác trên đường, rác ngay trước cửa nhà, dây cả vào trong nhà, thì cũng dây vào trong tâm trạng con người. Tôi xin lỗi, tôi biết ngày ấy, người ta, người Đà Nẵng, cũng sẵn sàng thả mình sống nhếch nhác. Trước hết từ việc đổ bừa rác ra đường, rồi cả chính trong nhà mình nữa, chính mình nữa, từ ăn mặc cho đến cư xử nhếch nhác cũng chẳng buồn quan tâm…

Cho đến một hôm chính con đường ấy được cương quyết mở rộng ra, làm lại, tráng nhựa láng bóng, thật sự hiện đại. Lạ vậy, bỗng dưng con người ở hai bên đường thấy chính mình phải thay đổi… theo cho bằng con đường. Một con đường, rồi nhiều con đường. Một khu phố, rồi cả thành phố. Bên này sông, rồi cả bên kia sông. Nội ô, rồi cả ngoại ô… Một thành phố hiện đại ra đời, tất nhiên không thể và cũng chẳng cần to bằng Hà Nội hay Sài Gòn, nhưng hiện đại không hề kém, thậm chí mặt nào đó, nói theo cách nào đó, còn có phần hơn. Và diện mạo con người cũng sáng bừng ra. Ai cũng biết, mặt sáng bừng ra vì lòng đã sáng ra. Tôi biết người Đà Nẵng hôm nay đều rất tự hào về thành phố của mình, tự hào chính đáng, vì chính họ đã làm nên sự thay đổi đó. Quyết liệt, mạnh mẽ, thông minh. Thật sự thông minh. Chẳng hạn những cây cầu qua sông Hàn là rất thông minh, chúng đánh thức dậy, với một tốc độ kỳ lạ, cường độ cũng kỳ lạ, cả một vùng đất bên kia sông đầy tiềm năng mới mấy năm trước còn ngủ quên, u tối, quê mùa…

Có thể ở đây có một bài học chăng: Tất cả đã bắt đầu từ một con đường, từ việc “hiện đại hóa” một con đường. Tất nhiên không chỉ trần trụi là một con đường, vấn đề là ở chỗ con đường được trở nên hiện đại, văn minh đó đã tạo ra một môi trường hiện đại, văn minh cho con người. Nghĩa là tạo ra một văn hóa, đánh thức một văn hóa. Một văn hóa mới. Dọn rác trên đường phố; dọn rác trong tâm hồn. Và trí tuệ nữa.

Tôi biết có nhiều nơi muốn đến học Đà Nẵng. Có thể có rất nhiều bài học cụ thể, và bao giờ cũng vậy, mỗi nơi một khác, thực tế khác, cách làm cụ thể ắt cũng phải khác. Riêng tôi, tôi hiểu bài học chủ yếu của Đà Nẵng 35 năm qua trước hết là một bài học văn hóa chứ không chỉ, không chủ yếu là bài học về những biện pháp, dù những biện pháp ấy có khôn khéo, thông minh đến đâu. Hoặc đúng hơn, bài học về những biện pháp giỏi xuất phát từ một thay đổi văn hóa đúng. Vậy đó, trước hết vẫn là văn hóa.



Tôi có một anh bạn thân lãnh đạo một thành phố, là một người lãnh đạo giỏi. Cái giỏi nhất của anh, theo tôi, là ở chỗ bao giờ anh cũng thấy thành phố của mình đang có vấn đề; lúc nào cũng lo. Lo nhất không phải là thấy vấn đề rồi thì làm thế nào đây, mà là lo không thấy vấn đề.

Thật tình, tôi cũng lo như vậy cho Đà Nẵng. Đà Nẵng có thấy, và thấy đúng vấn đề của mình hôm nay? Thật nghịch lý, Đà Nẵng đã chuyển mình mạnh mẽ từ một hành động văn hóa; nhưng vấn đề của Đà Nẵng bây giờ có lẽ cũng lại là vấn đề văn hóa. Tôi có một kỷ niệm, ngày xuân xin cho phép được kể lại. Tôi có may mắn được thân với anh Hồ Nghinh, người Bí thư nổi tiếng dũng cảm của Quảng Nam trong chiến tranh, và hết sức uyên bác, thâm thúy trong hòa bình. Sau 1975, trở về Đà Nẵng có hôm anh tâm sự với tôi: Phải xây dựng Đà Nẵng thành một trung tâm văn hóa. Tôi thưa lại với anh: Việc ấy cần một trăm năm, anh ạ. Anh suy nghĩ một lúc, rồi bảo: Đúng!

Nên nhớ điều này: Trong suốt lịch sử của mình, Đà Nẵng chưa bao giờ là một thành phố văn hóa. Từng là một thành phố thương nghiệp, một thành phố quân sự, một thành phố kinh tế hay cũng có thể công nghiệp chừng nào đó, nhưng văn hóa thì chưa. Và mặt yếu của Đà Nẵng hiện nay cũng là về văn hóa. Bắt đầu sự thay đổi thật đẹp bằng một hành vi văn hóa, nhưng rồi sau đó hình như sự hiện đại hóa đã dần dần xao nhãng nền tảng văn hóa, để cho mặt văn hóa có cảm giác là mặt bị coi nhẹ trong phát triển của mình. Thậm chí có những điều làm sứt mẻ hay tổn thương những tài sản văn hóa vốn chẳng nhiều nhặng gì. Nhìn lại mà xem, hóa ra Đà Nẵng hiện nay là thành phố để lại ít khoảng không gian xanh nhất giữa những rừng bê-tông của mình, ngay cả so với Sài Gòn là thành phố bê-tông nhất nước.

Có những nhà cao tầng mới của Đà Nẵng khá đẹp, nhưng rồi mà xem, chẳng gì đẹp hơn những công viên xanh tĩnh lặng và những hồ xanh tĩnh lặng, đấy mới là cái đẹp vĩnh cửu, và coi chừng xây nhà thật cao thì được, nói cho cùng cũng không phải là điều không làm được, nhưng giữ được sự tĩnh lặng cho tâm hồn thanh thản của con người giữa một thành phố hiện đại mới là khó. Bờ biển vịnh Đà Nẵng được coi là đẹp và quyến rũ nhất thế giới, nhưng những nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ… che lấp và chiếm gần hết những chỗ đẹp nhất. Thật tình rất đáng lo cho bờ biển Đà Nẵng. Những công trình xây dựng quá nhiều đang phá vỡ vẻ đẹp tuyệt vời ở đây…

Và một lần nữa, vì thiết tha với Đà Nẵng, tôi không thể không nói lại điều này: Hòn ngọc văn hóa quý nhất, có giá trị đơn nhất của Đà Nẵng là Bảo tàng Điêu khắc Chăm, có thể xây hàng nghìn nhà cao tầng hiện đại nhất nước, so được với cả thế giới, nhưng không bao giờ và không ở đâu có được một Bảo tàng Chăm Đà Nẵng nữa đâu. Đà Nẵng đã nổi tiếng về kinh nghiệm giải tỏa để xây những khu phố hiện đại, sao không thể, và trước hết không tập trung mọi sự thông minh và kiên quyết để giải phóng hòn ngọc long lanh ấy ra khỏi những kiến trúc tạp nham đang vây kín quanh nó? Đà Nẵng sẽ tuyệt biết bao nếu có được một không gian xanh thoáng đãng quanh bảo tàng của một nền nghệ thuật duy nhất thế giới này bên bờ con sông Hàn cũng thật đẹp thiên nhiên đã phú cho nó…

Gần đây có người đưa ra một khái niệm sâu sắc: Hạ tầng mềm. Tôi hiểu hạ tầng mềm chính là văn hóa. Và cũng lạ, trong sự tồn tại và phát triển của một đất nước, một xã hội, chính hạ tầng mềm, chứ không phải hạ tầng cứng, mới là nền tảng của sự bền vững.



35 năm đã đi qua, như một thoáng chốc, mà để lại trên mảnh đất này biết bao kỷ niệm và bài học. Có lẽ ít có nơi nào có được sự đồng thuận rộng rãi trong nhân dân như ở đây, một thành phố sạch sẽ, chăm chút đến từng số phận con người, kể cả đó là những cuộc đời hoàn lương. Đà Nẵng đã bắt đầu cuộc chuyển đổi đẹp đẽ của mình bằng một hành vi văn hóa trông nhỏ thôi mà sâu sắc và thông minh, từ đó tạo nên được đà phát triển có thể nói chưa từng có. Như ta biết, tất cả đều nằm ở con người. Hành vi văn hóa ấy đã làm nên con người Đà Nẵng chỉnh chu và năng động khiến cả nước yêu mến và cảm phục. Nhưng cũng chính vì vậy mà những tổn thương về văn hóa, lơ là về văn hóa, yếu kém về văn hóa cũng sẽ làm tổn thương, thậm chí trong mức độ nào đó có thể tạo ra sự xuống cấp của con người, nhân tố quyết định tất cả. Con người hằng ngày sống trong một thành phố mà nếu những hòn ngọc văn hóa quý nhất không được coi trọng thì sẽ dần dần đánh mất đi văn hóa của mình, cũng sẽ coi thường văn hóa, không khéo đến lúc nào đó lại sa vào một kiểu nhếch nhác khác, giàu hơn, hiện đại hơn, mà cứ nhếch nhác. Và sẽ càng khó chữa hơn.

Văn hóa thường im lặng và rất nhỏ, tinh tế trong từng quyết định nghe có vẻ dễ dàng như cái bỏ cái xây, và cũng thường mất đi rồi mới biết là vô giá, bao nhiêu năm sau có giàu nhất thế giới cũng không mua lại được nữa.

Năm mới, cũng là mở đầu một thập kỷ mới, hãy hy vọng và tin rằng thành phố thân yêu này sẽ phát triển một cách có văn hóa, như nó đã từng bắt đầu rất giỏi hơn mười năm trước.

Đầu năm 2010

Nguyên Ngọc

Nguồn: Baodanang.vn

Ruyubang_do
09/02/10, 12:47 PM
Văn hóa thường im lặng và rất nhỏ, tinh tế trong từng quyết định nghe có vẻ dễ dàng như cái bỏ cái xây, và cũng thường mất đi rồi mới biết là vô giá, bao nhiêu năm sau có giàu nhất thế giới cũng không mua lại được nữa.
Càng đọc càng thấy thấm thía, gần đây những cái được coi là văn hóa tối thiểu nhất cũng bị 1 bộ phận thanh niên sinh viên, học sinh xem nhẹ và đánh rơi mất. Người Hà Nội bây giờ đang tiếc rẻ câu: "Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An"

nbc
12/02/10, 02:48 PM
Phi trí bất hưng

09/02/2010 0:16

Tổng kết từ thực tiễn qua nhiều đời, người xưa đã nói “phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”. Gần 30 năm qua, nền kinh tế Việt Nam cũng trải qua các cung bậc như thế.

Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, kéo dài trong suốt thập niên 80 thế kỷ trước do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ nông nghiệp, đặc biệt là lương thực. Chỉ sau khi coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, lương thực là số một, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, an ninh lương thực được bảo đảm, đất nước mới cơ bản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Để giàu, phải làm công nghiệp, nên ngay từ năm 1996, đất nước đã chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với phát triển sản xuất, nền kinh tế đất nước đã trở nên năng động hơn khi chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa ở trong nước và hội nhập với nước ngoài.

Chúng ta đã chuyển vị thế từ nước nghèo kém phát triển, rồi đang phát triển có thu nhập thấp và cuối thập niên này sẽ chuyển sang nước đang phát triển có thu nhập trung bình (thấp). Mục tiêu cuối thập niên tới là Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Nước công nghiệp theo hướng hiện đại có nhiều tiêu chí và đòi hỏi phải có nhiều giải pháp, trong đó có một số điểm nổi bật. Nước công nghiệp không có nghĩa là khai thác tài nguyên, mà phải là công nghiệp chế biến. Nhiều nước có tỷ trọng công nghiệp chiếm tới 60 - 70% và có GDP bình quân đầu người rất cao, nhưng nếu chỉ khai thác dầu thô thì vẫn chưa được gọi là nước công nghiệp. Hoặc, có tỷ trọng công nghiệp chế biến cao, nhưng nếu chủ yếu vẫn là gia công, hay tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghệ cao chưa đáng kể, thì vẫn chưa được gọi là nước công nghiệp. Nước công nghiệp không thể có tỷ trọng lao động qua đào tạo ở mức dưới 40%.

Nước công nghiệp theo hướng hiện đại phải có năng suất lao động cao và kết cấu hạ tầng mềm, bao gồm cơ sở luật pháp, cơ chế, chính sách, thông tin gắn với trí tuệ con người. Cần loại bỏ càng nhanh càng tốt tư duy tiểu nông (làm ăn nhỏ, tầm nhìn ngắn, thiếu tác phong công nghiệp, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, làm bừa làm ẩu...) và tư duy bao cấp (doanh nghiệp ỷ lại vào Nhà nước, hoặc Nhà nước can thiệp sâu vào quản trị doanh nghiệp, cơ chế xin - cho...).

Cuối cùng, muốn làm được tất cả những điều trên đòi hỏi phải có tri thức. Ngày nay là thời đại của kinh tế trí thức. Đảng đã có nhiều nghị quyết về vấn đề này, mà gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Cuối năm, nói chuyện phi trí bất hưng, cũng là một niềm mong mỏi và hy vọng vào tiền đồ của dân tộc.

Ngọc Minh


Nguồn: Thanh Niên Online

nbc
13/02/10, 06:32 AM
Trung Quốc trong con mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận
Tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi

Thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

LTS: Thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có tính cách thời đại, đang bàn thảo sôi nổi về tác động này. Định vị Trung Quốc đang trở thành một chủ đề nóng ở nhiều nước trong khu vực.

Bài viết dưới đây đưa ra một góc phân tích về cách nhìn Trung Quốc của Việt Nam và Nhật Bản thời phong kiến. Đây là góc nhìn riêng của tác giả cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời bạn đọc phản biện bài viết này.

Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.


http://tuanvietnam.net/assets/images/chinarise313.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/images/chinarise313.jpg)
Trung Quốc trỗi dậy. Ảnh: Reuters.

Trung Quốc không phải là “thiên triều”

Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin “thiên triều” phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu: “Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn”.

Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và… chấp nhận vĩnh viễn.

Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn “nộp cống xưng thần” là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị Shogun (tức “tướng quân”, dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.

Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.
Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.

Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là một “khuôn mẫu đỉnh cao”, do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.


http://tuanvietnam.net/assets/images/dora1.gif (http://tuanvietnam.net/assets/images/dora1.gif)

Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.

Trung Quốc không phải là khuôn mẫu

Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.

Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và “đặt chình ình” vào giữa cơ thể dân tộc.

Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là… không khác Trung Quốc.

Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài “chiếc hộp Trung Quốc”. Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết… Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.

Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết 8 chữ “Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư”. Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn 8 chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang… ở nhà.

Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.

Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, “Cổ sự ký”, họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc… không đọc được.

Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.

Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, “chữ thánh hiền” là chữ Trung Quốc, “người thánh hiền” là người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.

Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.

Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy

Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được “thánh hiền Trung Quốc” nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.

Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.


http://tuanvietnam.net/assets/images/japan-2.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/images/japan-2.jpg)
Ảnh: 2m.au.com

Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách “vô lễ” như thế này với thánh hiền Trung Quốc? Sách “Sentetsu Sodan” (“Tiên triết tùng đàm”) của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: “Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?”. Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải… chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.

Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải “đặt vấn đề” về mặt văn hóa với Trung Quốc.

Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua Lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này. Họ có những kẻ điên.

Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.

Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái “triết thuyết mới” ấy hay không là chuyện khác.

Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.

Các học phái “Kokugaku”, “Rangaku”, “Mito”… đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết “thiên mệnh”, những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người…
Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.

Lời cuối cho một khởi đầu

Sang đến thế kỷ XIX, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là “khuôn mẫu đỉnh cao”.

Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ XIX, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.

Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. “Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây” – đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.

Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi “Phương Tây” là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như… Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.

Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể không định vị quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.

Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.

Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh “gục bên súng mũ bỏ quên đời”.

Nguồn: TuanVietNamNET (http://www.tuanvietnam.net/2010-02-01-trung-quoc-trong-mat-nhat-ban)

Ruyubang_do
13/02/10, 02:08 PM
sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.
Chữ Việt bây giờ nhìn đẹp nhưng tức trong ruột: chữ viết của ta không phải chữ tượng hình, tại sao phải viêt theo lối Thư pháp của TQ rồi lại khen rằng quốc hồn quốc túy của người Việt. Thử hỏi lật sách GK từ năm giải phóng tới nay, có bộ chữ nào "quằng quại như giun bò" hay "vuông vức hình bánh chưng" như mấy bộ chữ được "ca ngợi" bán nhan nhản ngoài thị trường ?

nbc
20/02/10, 08:28 PM
Giáo dục hãy là "chúa sơn lâm"

Tác giả: Hà Văn Thịnh

Bài đã được xuất bản.: 15/02/2010 06:40 GMT+7

Năm mới, tập quán văn hóa của người Việt chúng ta, chỉ nên nói những điều vui. Tôi cho rằng vui nhất là trên dưới hiểu nhau và, sự thay đổi chính là Thông điệp rõ ràng nhất mà mùa xuân này, ngành GD muốn nói với xã hội, với người dân, với cả đất nước...

Ngẫm trong cuộc đời, chưa có một điều gì đem đến cho tôi nhiều niềm vui và đau đớn như cái nghiệp làm thầy. Đôi khi tôi tự hỏi, vui và buồn, cái nào nhiều hơn? Chắc hẳn vui phải nhiều hơn vì nếu không, cái "ý chí sinh nghề tử nghiệp" đã không còn. Như nhiều xuân khác, sự trăn trở của tôi lại cũng bắt đầu từ nghề nghiệp của mình.

Câu hỏi cũ để tìm lời giải mới cho năm Canh Dần - năm đặc biệt của vận nước, giang sơn với 1.000 năm Thăng Long Rồng cuộn, năm đầu tiên của thập kỷ chuyển mình...

Năm điều cần mổ xẻ

Tại sao ai cũng nói rằng sự phát triển của rất nhiều nước trên thế giới đều liên quan đến yếu tố tiên quyết là phát triển GD đúng hướng nhưng sự trì trệ khó hiểu của nền GD nước ta vẫn đủng đỉnh qua cầu? Sóng dư luận chỉ vỗ oải oạp phía dưới chân cầu trong khi những bất cập cứ thong dong đếm bước.
Đó là một thực tế khi chúng ta không dám nhìn thẳng (hoặc nhìn mà không thấy), rằng triết lý GD đã sai một cách căn bản. Dù muốn hay không, cái gốc của điều này phải được mổ xẻ trước tiên. Tại Hội thảo khoa học "Đảng Cộng sản Việt Nam - 80 năm xây dựng và phát triển" được tổ chức sáng 26.1.2010, hầu như 90 tham luận đều nhất trí phải đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng, coi đây là là yêu cầu bức thiết cho sự ổn định và phát triển.

Xét theo tinh thần này thì chúng ta phải rà soát lại một cách toàn diện triết lý GD.

Thứ nhất, triết lý của nền GD hiện nay vừa mơ hồ về chuyên vừa chung chung về hồng. Nếu mục tiêu đào tạo chỉ nhắm đến những con người vững vàng về lập trường, tư tưởng (tiêu chí đầu tiên) mà quên mất rằng có chuyên môn giỏi, năng động, sáng tạo, biết cách giải quyết tình huống thực tiễn mới là sự vững vàng nhất về "lập trường", thì quan niệm trên là sai lầm khó chấp nhận.

http://tuanvietnam.net/assets/images/chuasonlam.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/images/chuasonlam.jpg)

Thứ hai, sự áp đặt về nhận thức là điều phản khoa học, và phản GD, khi sứ mệnh trường đại học là nơi giúp sinh viên kiếm tìm tri thức và ứng dụng chân lý. Trong khi đó, 80% các chương trình giảng dạy hiện nay đang biến SV thành những robot nhai lại và tụng niệm kiến thức, chỉ tạo nên các sản phẩm đui què về thực tiễn. Hầu hết các doanh nghiệp khi nhận người về đều phải đào tạo lại.

Thứ ba, hãy cho SV cơ hội nghi ngờ sự đúng, sai của những điều mà người thầy đã giảng dạy. Đừng sợ sự phản biện của họ vì người thầy giỏi phải là người biết và hiểu, chịu đựng được sự phản biện đó. Khoa học sẽ bằng không khi phương pháp đào tạo đại học chỉ là đọc chép- công thức phổ biến và học chỉ để thi, để kiếm mảnh bằng.

Hãy học hỏi chuyện nước người: Tại sao tất cả những buổi tranh luận của ứng viên tổng thống hay phó tổng thống đều diễn ra ở các trường đại học? Bởi vì chính sinh viên là tương lai của đất nước, bởi họ dám nói thẳng, nói thật khi họ chỉ có một quyền duy nhất là quyền được thi lại. Bởi họ là sự hội tụ của những tinh hoa tri thức sáng trong nhất của một đất nước. Họ trẻ trung và dũng cảm với bầu máu nóng cống hiến vẹn nguyên...

Thứ tư, sách giáo khoa (SGK) sai, thiếu, nhầm lẫn là điều tối kỵ của bất kỳ nền GD nào. Chúng ta không thể tiếp tục duy trì một bộ SGK chung cho tất cả các vùng, miền. Ít nhất, phải có 3 bộ SGK cho vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và những địa phương còn lại. Những gì sai phải được chỉnh sửa kịp thời.
Nếu chúng ta truyền tải cho con cháu những kiến thức không đúng, làm sao có quyền đòi hỏi chúng ứng xử đúng trong cuộc đời? Những bài giảng đạo đức phải được đầu tư sâu sắc, cụ thể, đầy truyền cảm về khí phách, nhân cách người...Nhưng rốt cuộc ta lại chỉ tạo ra được những "con người mới" vừa vô cảm vừa kém hiểu biết.

Cả một nền GD suốt 17 năm (từ mầm non đến tốt nghiệp đại học) mà con người được dạy dỗ, đào tạo không biết ăn, nói có văn hóa, sống tôn trọng luật pháp, không biết xử lý thực tiễn...thì quả thật chúng ta đã thất bại cay đắng. Có bao nhiêu học sinh biết rằng khi không bỏ rác vào đúng nơi quy định là thiếu văn minh? Có bao nhiêu học sinh nam giới nhận thức được thấy phụ nữ gặp khó khăn phải giúp đỡ là bổn phận tự nhiên?...

Thứ năm, "có thực mới vực được đạo" bao giờ cũng là điều cốt yếu của một nền GD có chất lượng. Sự phân biệt đối xử cho giáo viên dạy môn Lý luận chính trị (45% phụ cấp), giáo viên các trường sư phạm (40%) và các trường khác (25%) là điều thậm vô lý.

Nên nhớ rằng giáo viên ở các ngành không phải sư phạm và chính trị chiếm đến 80% tổng số giáo viên. Sự phân biệt đó đã tạo nên không khí chán nản và không hào hứng vì thầy cô giáo đều là những người hiểu biết. Tại sao anh bắt tôi phải đầu tư, cố gắng hơn nữa trong khi chính việc tôi dạy môn học này đã khó khăn hơn anh rất nhiều lần nhưng lại hưởng chế độ thấp hơn?

Giáo dục phải là "chúa sơn lâm"

Giáo dục phải là chúa sơn lâm theo đúng nghĩa của cụm từ này. Ưu tiên mơ hồ, thiếu tính thực tiễn (giáo viên lương thấp, không đủ sống) là một sự không đáng có với một nền GD đòi hỏi có chất lượng. Trường đại học mà làm gì cũng không có tiền vì kinh phí khó khăn thì làm sao hội thảo, nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo?

Rất kỳ vọng bước sang năm mới, ngành GD sẽ thay đổi thực sự, không phải thay đổi theo kiểu phong trào, đầu voi đuôi chuột.

Chúng tôi- những nhà giáo, rất nuốn khi bước lên bục giảng, được toàn tâm, toàn ý cho công việc giảng dạy, nghiên cứu, đáp lại sự khao khát từ những ánh mắt đợi chờ, khắc khoải của SV. Bởi đó là hạnh phúc không phải nghề nào cũng có.

Thế nhưng, nếu người thầy luôn phải đánh vật với miếng cơm manh áo, đánh vật với đủ mọi điều kiện giảng dạy, nghiên cứu thiếu thốn, với những nghiệt ngã thường nhật...thì làm sao có thời gian để đọc sách, để suy tư, cống hiến với sự thanh thản, nhiệt tình?

Triết lý GD đúng cũng phải đi từ những điều cụ thể.

Năm mới, tập quán văn hóa của người Việt chúng ta, chỉ nên nói những điều vui. Tôi cho rằng vui nhất là trên dưới hiểu nhau và, sự thay đổi chính là Thông điệp rõ ràng nhất mà mùa xuân này, ngành GD muốn nói với xã hội, với người dân, với cả đất nước...

Nguồn: TuanVietNam

nbc
23/02/10, 06:28 PM
Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng ai

Chu Lai

Lâu nay, người ta hay có thói quen suy nghĩ trên một lộ trình đường ray rằng, cái gì đã định hình thì mãi mãi định hình, bất biến, không thay đổi. Ví như lòng yêu nước.

Qua đó, số người này muốn khẳng định chắc nịch: Đã yêu nước là phải xả thân, phải gắn bó tận cùng với số phận của non sông của dân tộc, quên hẳn cái cá nhân vị kỷ của mình đi, chỉ để cho cái lợi ích của cồng đồng lên trên tất cả, nếu cần hy sinh luôn thân mình vì nghĩa lớn.

Đúng! Điều đó hoàn toàn đúng. Bao lâu nay, nhất là trong những điều kiện giặc giã, mất còn sinh tử, cái chủ thuyết mang hồn khí của lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm đó đã tạo dựng nên diện mạo non sông, đã hun đúc nên phẩm cách của dân tộc để đến hôm nay, ta có thể ngẩng cao đầu mà tự hào nói to lên rằng, hết thảy mọi vinh quang và chiến công đó đều thuộc về lòng yêu nước sâu thẳm và bất diệt của người dân Việt.

Nhưng lòng yêu nước không phải bao giờ cũng trung trinh một chiều bền vững. Khi có giặc, lòng yêu nước mặc nhiên được dâng lên như triều cường để bảo vệ chính mình, gia đình thân yêu và giang sơn của mình. Con người lúc ấy mới cao thượng và tốt đẹp làm sao. Trong vắt và tinh khiết làm sao. Tất cả được hội tụ, nâng lên thành những giá trị tinh thần bất khả chiến bại mà đỉnh cao là chủ nghĩa anh hùng bách chiến bách thắng.

Thế rồi, bỗng một ngày không còn bóng giặc, con người bỗng phân thân kỳ lạ. Lòng yêu nước có vẻ như bị tan loãng vào cuộc sống mưu sinh khắc nghiệt thường ngày khiến cho nhiều khi khái niệm yêu nước trở nên bàng bạc, mơ hồ. Khi đó cái TÔI đã ngoi lên lấn át cái ta. Tiếng gào trống rỗng của những chiếc dạ dày và khát vọng hưởng thụ luôn ngự trị trong từng miếng ăn giấc ngủ. Lòng yêu nước thoắt trở nên một cái gì như là xa xỉ, không có thật. Hoặc có đi nữa lại thường chỉ âm thầm nằm day dứt trong trái tim những con người chính trực.

Còn một số khác lại hành trình ngược lại, luôn miệng hô hào yêu nước, thương dân, nhưng không từ một thủ đoạn nào vét cho đầy hầu bao. Mầm mống tham nhũng bắt đầu từ đó mà cái mầm mống này nó càng tệ hại hơn là chính họ lại đi nhân danh lòng yêu nước, yêu dân cần lao, đi đâu ngồi đâu cũng lớn tiếng rao giảng những điều cao siêu đạo lý, trong khi vẫn nhẫn tâm dấn sâu vào sự vô đạo. Họ luôn làm thất thoát, chiếm dụng, đục khoét vào vốn nhà nước, mượn đồng tiền nhà nước, tức là đồng tiền từ mồ hôi nước mắt của người dân đóng góp để vinh thân phì gia, để tự cho phép mình được hưởng một thu nhập chất ngất mà không cần biết xung quanh họ triệu triệu người còn thắt lưng buộc bụng. Họ nhân danh ai, nhân danh cái gì, đã làm lợi cho Tổ quốc được bao nhiêu mà có thể có những hành xử phi nhân và độc ác như thế. Đấy là một căn bệnh vô cảm dẫn đến thoái hoá lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc đã được đổi bằng núi xương sông máu của bao thế hệ mới có.

Mà thôi, ngày xuân nồng nàn chả nên đi sâu đi kỹ vào chuyện này làm gì, nó nhức nhối, nó ngóc ngách, giằng dịt, nó mất xuân đi. Chỉ hy vọng rằng, mỗi độ xuân về, dưới bầu trời xuân tâm linh thăm thẳm, cái tà khí sẽ bị xua dần đi và ánh thái dương cùng với nụ xuân tốt lành sẽ đâm chồi nảy lộc.

Giờ ta nên nói chuyện khác, chuyện về giới trẻ.

Không ít người cho rằng, giới trẻ hôm nay là vô ơn, là không màng gì đến nỗi đau và sự gắng gỏi không cùng của dân tộc đã rớm máu trải qua, là bạc nhược, là thiển cận, là đánh mất truyền thống, là chỉ biết chìm nghỉm vào cuộc sống vật chất hưởng thụ mà không lo đến tương lai, khát vọng, tiền đồ, lý tưởng của đất nước, cứ đà này rồi là chết, là thậm nguy, chí nguy nếu non sông lại phải đương đầu với thác ghềnh ghê gớm như đã từng đương đầu.

Nỗi lo này có phần nào đáng để tâm suy nghĩ vì nó đã nhỡn tiền xảy ra chỗ này chỗ khác, người này người khác, nhưng nếu tĩnh trí lại thì ắt sẽ tìm được lời giải khiến ta bình tâm hơn. Thì đó, sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, các đoàn binh tràn về qua năm cửa ô làm cuộc tiếp quản lịch sử, một đồng chí lãnh đạo đảng cao cấp thấy viên đạn bọc đường của đời sống đô thị, đời sống hoà bình làm thay đổi biết bao những chàng trai mà trước đó họ còn là những chiến binh kiêu hùng đã buộc phải thốt lên: “Gay rồi! Kiểu này không khéo sẽ mất hết cơ đồ!” Nhưng rồi khi chiến tranh nổ ra, Mỹ vào, lại chính những con người đó đã rùng rùng ra trận làm nên những chiến công huy hoàng không thua kém gì thời cha anh đánh Pháp.

Và bây giờ cũng vậy. Bởi một lẽ đơn giản nhưng đã được định vị chắc bền ở tầng sâu trầm tích: Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng một thế hệ nào, thế hệ cha anh triển khai lòng yêu nước bằng cách xông pha vào trận diệt thù, còn thế hệ hôm nay lại triển khai lòng yêu nước bằng cách trau dồi tri thức, năng lực làm giàu cho cộng đồng và làm giàu cho chính mình. Song các thế hệ đều có một mẫu số chung là hạt kim cương của lòng tự trọng lấp lánh nằm trong lồng ngực, mà tới đây nếu có bất cứ một ai, một thế lực nào động chạm đến bàn thờ ông bà, xúc phạm đến dân tộc là thế hệ hôm nay cũng sẽ biết mở những cuộc hành binh oai hùng và tráng lệ không thua kém gì các thế hệ cha anh.

Lịch sử ngàn năm trận mạc chống ngoại xâm đã chứng minh điều đó. Và ngày hôm nay, thế hệ trẻ còn phải chứng minh thêm một điều nữa không kém phần cam go khốc liệt, đó là phải trả lời bằng được câu hỏi: Tại sao cái nhục mất nước ta không chịu được thì chả lẽ cái nhục đói nghèo ta lại dễ chịu đựng hay sao?

Nhìn về thăm thẳm chiều sâu lịch sử, nhìn về rạng ngời phía trước, ta có thể tin rằng, con người Việt Nam hôm nay, thế hệ trẻ hôm nay sẽ trả lời được, sẽ có cách trả lời. Tin như hết mưa trời lại nắng, hết đông lại chuyển sang hè. Mùa xuân nao nức đang về trên ngàn ngàn cây lá, cỏ xanh.

Nguồn: www.baodautu.vn (http://www.baodautu.vn)

nbc
26/02/10, 08:19 PM
Chúng ta đang bỏ quên ngôi chùa thiêng nhất

Nguyễn Quang Thiều

Chúng ta bắt đầu bước vào tháng Giêng, một tháng của lễ hội. Khi lễ hội Chùa Hương chưa khai mạc thì mỗi ngày đã có năm, sáu vạn khách. Có lẽ trong tháng này, rất nhiều người không còn tâm trí cho công việc cho dù họ vẫn đến công sở. Bao nhiều lễ hội, bao nhiêu đền chùa đang đợi họ. Nào lễ hội Chùa Hương, nào chợ Viềng, nào đền Đức Thánh Cả, nào đền Bà Chúa Kho, nào Bia Bà…

Chúng ta phải thừa nhận rằng: trong dòng người cuồn cuộn như sông mùa lũ đến đền, đến chùa thì số người thực sự đi vãn cảnh, du xuân như một nét đẹp văn hóa, như một đời sống tinh thần là phần nhiều, nhưng người đi cầu tiền tài, chức tước cũng không ít.

Không ai bảo những người đi cầu tiền tài, chức tước là không chính đáng. Nhưng soi xét cho tận gốc rễ của vấn đề thì đó là điều thật đáng lo. Bây giờ, để có được những lợi ích cá nhân người ta có thể làm tất cả những gì có thể, kể cả việc “hối lộ Thánh Thần”.

Tôi không phải là người nghĩ ra cụm từ “hối lộ Thánh Thần” xếch mé, láo xược này. Đó là cụm từ do người dân sáng tạo ra từ những quan sát thực tế mà ta có thể gọi đó là sản phẩm của dân gian. Một người bạn vong niên đầu năm khuyên tôi một cách chân thành: “Nếu chú mày muốn có một chút chức tước thì phải đến đền Đức Thánh Trần xin Ngài một câu”.

Cho dù tôi có muốn một cái chức nhỏ nào đó thì tôi cũng không bao giờ đến để xin Ngài điều ấy. Vì đến thì cũng phải dâng lễ cho dù lễ to hay lễ nhỏ. Rồi thì phải khấn rằng: “Con có chút lễ mọn dâng lên Ngài xin Ngài cho con năm nay được lên chức đội phó”.

Nói như thế là bắt đầu hỗn láo với Ngài rồi. Thế hóa ra Ngài là Trưởng Ban Tổ chức của thế gian ư? Chẳng lẽ Ngài là Thánh lại nhận mấy cái lễ mọn cho dù cả tỷ đồng để làm cái điều ấy ư? Tôi thì tôi vẫn nghĩ rằng ở không ít ngôi đền, ngôi chùa lâu nay Thánh Thần không còn trú ngụ hay ghé qua đó nữa. Bởi ở những nơi như thế lâu nay chỉ là cảnh chen lấn, cảnh mua Thần bán Thánh, cảnh mê tín dị đoan, cảnh lừa nhau để kiếm chác. Các Ngài làm sao chịu nổi những cảnh ấy! Vì thế, các Ngài có đâu mà biết đến những trò “hối lộ Thánh Thần”.

Khi nghe tôi tâm sự điều này, có người vặn vẹo: “Thế sao mấy tay hay đến đó xin chức tước đều được thăng quan tiến chức cả?” Nghe vậy, tôi lại bảo: “Đừng xúc phạm Thánh Thần mà có ngày hối không kịp. Việc thăng quan tiến chức được là nhờ mấy “ông thánh ông thần” ngồi ở phòng máy lạnh chứ đâu phải Thánh Thần trong đền trong chùa”.

Mẹ tôi hầu như cả đời không đi chùa cúng lễ. Bà nói: “Sống có đức thì ở đâu Thần Phật cũng biết”. Mẹ tôi cũng nói: “Nếu Thần Phật chỉ phù hộ độ trì cho những ai đến chùa dâng lễ thì lòng tin của bà vào Thần Phật cũng sẽ chấm dứt. Với bà, Thần Phật mà như thế thì khác gì mấy ông, mấy bà dưới trần này. Bà thấu hiểu câu nói của người xưa: thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa. Đúng là như vậy. Ai đó cứ phải chọn chùa mới thể hiện được lòng từ bi của mình thì người đó chưa thực sự từ bi.
Lòng từ bi chỉ thực sự có ở ngay trong chính đời sống thường nhật của con người. Khi ai đó giúp đỡ một người không may mắn, gặp hoạn nạn thì lòng người đó có Phật. Bởi thế, ngôi chùa hay ngôi đền thiêng nhất là ở chính lòng người.

Thế nhưng, quá ít người biết điều đó. Họ thì thầm kháo nhau về ngôi đền này thiêng lắm, ngôi chùa kia thiêng lắm, xin gì được nấy. Thế là nườm nượp kéo nhau đi. Rồi xì xụp khấn vái với đủ lễ vật to nhỏ. Thử hỏi có mấy ai đến đền, đến chùa chỉ bằng một nén nhang tâm tưởng trong sâu thẳm lòng mình để nói với Thánh Thần rằng lòng họ vẫn còn những u tối, còn những tham lam, còn nhiều ghen ghét…, xin Thánh Thần ban cho họ ánh sáng của trí tuệ và lòng từ bi để xua đi những điều tội lỗi kia trong lòng???
Mà chỉ thấy hết người này đến người nọ cầu xin mọi thứ có lợi cho mình, rồi sau khi ra khỏi cửa đền, cửa chùa thì thản nhiên đối xử với nhân quần bằng trái tim vô cảm và nhiều mưu mô, toan tính. Thế mà sao Thần Thánh vẫn mang cho họ nhiều bổng lộc?

[/URL][URL="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2010/02/duxuan-250x195.jpg"]http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2010/02/duxuan-250x195.jpg (http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2010/02/duxuan.jpg)
Du xuân như một nét đẹp văn hóa. Ảnh: fiditour.vn

Khi đặt câu hỏi như vậy tôi đã vô tình trở thành kẻ hỗn láo và xúc phạm Thánh Thần. Một người nói cho tôi nghe rằng: không phải Thánh Thần giúp đỡ những kẻ đó mà Thánh Thần đang đi vắng và vô tình lãng quên thế gian một đôi ngày. Mà một ngày của Thánh Thần bằng 100 năm của những kẻ trần thế. Nhưng Thánh Thần sẽ quay lại. Thế gian không thể mãi mãi suy đồi như thế được.

Nhưng tôi lại không nghĩ rằng Thánh Thần đi vắng. Thánh Thần vẫn dõi theo con người dưới thế gian từng giây từng phút. Thánh Thần đã gửi thông điệp từng ngày cho con người để cảnh báo về tai họa sẽ ập xuống thế gian bởi chính con người. Thông điệp đó hiện ra trong thiên tai dịch họa, hiện ra trong những giết chóc của con người, hiện ra trong sự đối xử tàn tệ của con người với con người, hiện ra trong những cơn hoảng loạn, mù lòa của con người, hiện ra trong sự trống rỗng tâm hồn của con người…

Ngôi đền hay ngôi chùa thiêng nhất chính là ngôi đền, ngôi chùa dựng trong lòng người. Vậy mà chúng ta đã bỏ quên những ngôi đền, ngôi chùa thiêng nhất ấy. Khi lòng không yên thì sống giữa đền, giữa chùa cũng không thấy yên. Khi lòng không từ bi thì quỳ dưới chân Thần Phật trong tiếng mõ, tiếng chuông… lòng vẫn ác. Khi lòng không hiểu được hạnh phúc thì nằm giữa bạc vàng, châu báu cũng vẫn thấy bất hạnh.

Nguồn: tuanvietnam.net (http://www.tuanvietnam.net/2010-02-21-chung-ta-dang-bo-quen-ngoi-chua-thieng-nhat)

nbc
19/05/10, 12:56 PM
Lịch sử tên nước Việt

Theo dòng lịch sử, nước Việt Nam đã mang nhiều Quốc hiệu:

Vào niên đại vua Kinh Dương, năm 2879 TCN., với quốc hiệu Xích Quỷ, địa bàn quốc gia rộng lớn, phía bắc tới sông Dương tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, thuộc nước Tàu ngày nay). Về sau do sự lấn áp võ dõng của du mục Hoa tộc, Việt tộc lui dần về địa bàn gốc. Đánh dấu bằng các niên đại vua Hùng với tên nước là Văn Lang. Năm chót của niên đại này là năm 257 tr.D.L.

Văn Lang (2879 - 258 TCN) : Thuộc về đời Hồng Bàng
Ðầu thời kỳ đồ đồng, những bô lạc người Việt sống ở miền Bắc và phía Bắc trung tâm Việt Nam. Tính ra có khoảng 15 nhóm Lạc Việt khác nhau sống trên vùng cao nguyên mièn Bắc và miền châu thổ sông Hồng Hà, hơn 12 nhóm Âu Việt sống nơi miền Ðông Bắc. Ðể tiện việc trao đổi buôn bán, phòng chống lụt lội, chống lại kẻ thù... Họ có khuynh hướng gom tụ lại thành một nhóm to lớn hơn. Trong số những bộ lạc Lạc Việt, Văn Lang là mạnh nhất.
Những bộ lạc Lạc Việt được gom lại thành một nước lấy tên Văn Lang và người cầm đầu tự xưng là Hùng Vương.

Trong thời kỳ đô hộ bởi Chế độ phong kiến phương Bắc, nước Việt Nam bị chia cắt nhiều và mang tên như là những quận huyện của nhà nước cai trị đương thời :

Năm 221 trước CN, Tần Thủy Hoàng, vua Trung Hoa, xâm chiếm lãnh thổ Việt. Nhà Tần lược định phía Nam và gọi là Tượng quận (246 -206 TCN).

Âu Lạc (257 - 207 TCN) :
Ðời nhà Thục An Dương Vương Âu Việt đã đuổi được Trung hoa và lấy tên Âu Lạc (năm 208 trước CN).

- Nhà Hán lật đổ nhà Triệu và chia Tượng quận ra thành 3 quận nhỏ :
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (202 TCN - 220).

- Cuối nhà Đông Hán trị vì ở Trung Quốc, vua Hiến Đế đổi quận Giao Chỉ thành Giao Châu.
Nhưng sau đó bị Trung Hoa xâm lấn trong suốt 700 năm.

Mùa Xuân 542, Lý Bi xua đuổi được quân Tàu và tự xưng vua nước Vạn Xuân nhưng không bao lâu lại bị quân Tàu chiếm trở lại từ năm 602 cho đến khi Ngô Quyền chiến thắng trận Bạch Ðằng năm 938 và chấm dứt sự đô hộ của người Tàu.

- Sau đến nhà Đường:
Nước Việt Nam lại mang tên mới là An Nam đô hộ phủ (618 - 907)

Đại Cồ Việt :
Năm 968, Ðinh Bộ Lĩnh đánh thắng Thập nhị Tướng Quân và thống nhất lãnh thổ, ông xưng Vương và đặt tên nước là Ðại Cồ Việt. Tên này giữ nguyên dưới triều đại nhà Ðinh (869-979), Lê (980-1009) và cho đến đầu triều đại nhà Lý (1010-1053).

Đại Việt :
Năm 1054, vua Lý Thánh Tông đổi tên nước là Ðại Việt. Tên này được giữ cho đến đời nhà Trần.

Ðại Ngu
Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần và đổi quốc hiệu là Ðại Ngu (nghĩa là hòa bình). Tên này được dùng cho đến khi quân Minh xâm chiếm nước Ðại Ngu và thắng họ Hồ năm 1407.

Sau 10 năm kháng cự với quân Minh đang xâm chiếm nước ta (1418-1427), Lê Lợi đại thắng quân Minh. Năm 1428 ông lên ngôi và lấy trở lại tên cũ là Ðại Việt. Tên này tồn tại trong suốt triều đại nhà Lê (1428-1787) và nhà Tây Sơn (1788-1810).

An Nam quốc :
Nhà Tống công nhận một quốc gia độc lập, dưới triều vua Lý Anh Tông

Việt Nam (1802) :
Thời vua Gia Long thống nhất cả hai miền Nam Bắc, lấy quốc hiệu là Việt Nam từ chữ An Nam và Việt Thường

Đại Nam :
Trong triều đại Minh Mạng (1820-1840) tên nước lại được đổi là Ðại Nam nhưng cái tên Việt Nam vẫn tồn tại rộng rãi khắp nơi trong văn chương, kinh tế và xã hội.

Nguồn: http://vietsciences.free.fr

Từ 1 nguồn khác (mạng Giáo viên sáng tạo):
QUỐC HIỆU VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI
Quốc hiệu luôn là một trong những cái tên thiêng liêng nhất đối với mỗi dân tộc, mỗi con người. Quốc hiệu khẳng định sự tồn tại và chủ quyền của một quốc gia, thể hiện ý thức và niềm tự hào của mỗi dân tộc cũng như sự bình đẳng với các nước khác trên thế giới.


Từ đầu thời đại đồng thau, các bộ lạc người Việt đã định cư ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Lúc bấy giờ có khoảng 15 bộ lạc người Việt sinh sống chủ yếu ở miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, hàng chục bộ lạc Âu Việt sống chủ yếu ở miền Việt Bắc. Tại nhiều nơi, người Lạc Việt và người Âu Việt sống xen kẽ với nhau, bên cạnh các thành phần dân cư khác.

Do nhu cầu trị thủy, nhu cầu chống ngoại xâm và do việc trao đổi kinh tế, văn hóa ngày càng gia tăng, các bộ lạc sinh sống gần gũi có xu hướng tập hợp và thống nhất lại. Trong số các bộ lạc Lạc Việt, bộ lạc Văn Lang hùng mạnh hơn cả. Thủ lĩnh bộ lạc này là người đứng ra thống nhất tất cả các bộ lạc Lạc Việt, dựng lên Nhà nước Văn Lang, xưng vua - mà sử cũ gọi là Hùng Vương - và con cháu ông nhiều đời sau vẫn nối truyền danh hiệu đó. Thời gian tồn tại của nước Văn Lang khoảng từ đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ III trước Công nguyên.

Năm 211 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng cho quân xâm lược đất đai của toàn bộ các nhóm người Việt, Thục Phán - thủ lĩnh liên minh các bộ lạc Âu Việt được tôn làm người lãnh đạo cuộc chiến chống quân Tần. Năm 208 trước Công nguyên, quân Tần phải rút lui. Với uy thế của mình, Thục Phán xưng vương (An Dương Vương), liên kết các bộ lạc Lạc Việt và Âu Việt lại, dựng nên nước Âu Lạc (tên ghép hai chữ của hai bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt).

Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà - vua nước Nam Việt, đưa quân đánh chiếm Âu Lạc, cuộc kháng chiến của An Dương Vương thất bại. Suốt 7 thế kỷ sau đó, mặc dù các thế lực phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ, chia Âu Lạc thành nhiều châu, quận với những tên gọi khác lạ, nhưng vẫn không xóa nổi cái tên Âu Lạc trong ý thức, tình cảm và sinh hoạt thường ngày của người dân.

Mùa Xuân năm 542, Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lương, giải phóng được lãnh thổ. Tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, lấy tên hiệu là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân (Đất nước bền vững vạn mùa Xuân), khẳng định niềm tự tôn dân tộc, tinh thần độc lập và mong muốn đất nước được bền vững muôn đời.

Chính quyền Lý Bí tồn tại không lâu rồi lại rơi vào vòng đô hộ của các triều đình Trung Quốc (từ năm 602). Quốc hiệu Vạn Xuân trải qua nhiều thăng trầm và được khôi phục sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán bằng chiến thắng Bạch Đằng năm 938, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên các sứ quân cát cứ, thống nhất quốc gia, lên ngôi Hoàng Đế, lấy tên hiệu Đinh Tiên Hoàng và cho đổi tên quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt cực lớn, lần đầu tiên yếu tố “Việt” được có trong quốc hiệu). Quốc hiệu Đại Cồ Việt duy trì suốt thời Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053).

Năm 1054, nhân điềm lành lớn là việc xuất hiện một ngôi sao sáng chói nhiều ngày mới tắt, nhà Lý (Lý Thái Tông) liền cho đổi tên nước là Đại Việt (nước Việt lớn, yếu tố “Việt” tiếp tục được khẳng định), và quốc hiệu Đại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần.

Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly phế vua Trần Thiếu Đế lập ra nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Đại Ngu (“Ngu” tiếng cổ có nghĩa là “sự yên vui”). Quốc hiệu đó tồn tại cho đến khi giặc Minh đánh bại triều Hồ (tháng 4/1407).

Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược của Lê Lợi toàn thắng. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, đặt tên nước là Đại Việt (giống như tên quốc hiệu Đại Việt từ năm 1054 thời Lý đến hết thời Trần). Quốc hiệu Đại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1801).

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua và cho đổi tên nước là Việt Nam. Sách Đại Nam thực lục chép: “Giáp Tý, Gia Long năm thứ 3 (1804), tháng 2, ngày Đinh Sửu, đặt Quốc hiệu là Việt Nam, đem việc cáo Thái Miếu. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài”. Đây là lần đầu tiên hai chữ “Việt Nam” được sử dụng với tư cách Quốc hiệu, được công nhận hoàn toàn về ngoại giao.

Tuy nhiên, hai chữ “Việt Nam” đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử nước ta. Ngay từ thế kỷ XIV, hai chữ “Việt Nam” xuất hiện lần đầu tiên ở tiêu đề cuốn sách “Việt Nam thế chí” (ghi chép về các đời ở Việt Nam) của Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, thế kỷ XIX).

Trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi (soạn năm 1434) cũng đã nhiều lần nhắc đến hai chữ Việt Nam “vua đầu tiên (của nước ta) là Kinh Dương Vương, sinh ra có đức của bậc thánh nhân, được phong sang Việt Nam, làm tổ Bách Việt”.

Hai chữ Việt Nam còn được đề cập rõ ràng trong những tác phẩm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), như trong tập “Trình tiên sinh quốc ngữ văn” có câu: “Việt Nam khởi tổ xây nền”. Trong tập "Sơn hà hải động thường vịnh" (Vịnh về núi non sông biển), Nguyễn Bỉnh Khiêm đã 4 lần nhắc đến hai chữ Việt Nam. Rõ hơn, trong các bài thơ gửi trạng Giáp Hải, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang lại/ Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam”, còn trong bài gửi trạng Nguyễn Thuyến có câu: “Tiền đồ vĩ đại quân tu ký/ Thùy thị công danh trọng Việt Nam”.

Trên nhiều tấm bia, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy hai chữ “Việt Nam”, như trên tấm bia khắc ở chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558, có câu “Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ”, bia chùa Cam Lộ (Phú Xuyên, Hà Tây), năm 1590, có câu “Chân Việt Nam chi đệ nhất”.

Thời Lê Trung Hưng (1533-1787), nước ta (cả Đàng Trong và Đàng Ngoài) trở lại tên Đại Việt, song hai chữ “Việt Nam” xuất hiện khá nhiều trong văn bia có niên đại sớm như: Bia chùa Thiên Phúc (làng Đại Lâm, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, Bắc Ninh, soạn năm 1648), bia làng Phú Mẫn (thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh, soạn năm 1649), bia chùa Phúc Thánh (làng Mộ Đạo, huyện Quế Võ, Bắc Ninh, soạn năm 1664) phần bài Minh có câu “Việt Nam cánh giới, Kinh Bắc thừa tuyên”, bia chùa Am Linh (làng Hà Lỗ, xã Liên Hà, Đông Anh, Hà Nội, soạn năm 1670).

Bia Thủy Môn Đình (soạn năm 1670) ở biên giới Lạng Sơn do trấn thủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị thứ tám (1670) có câu: “Việt Nam hầu thiệt trấn Bắc ải quan” (Cửa ải phía Bắc Việt Nam). Ngô Thì Nhậm (1746-1803), một tri thức lớn của nước ta ở thế kỷ XVIII cũng nhận mình là “kẻ hậu học của Việt Nam”.

Tất cả các từ “Việt Nam” trên đây chỉ là danh xưng, thể hiện ý thức của các tầng lớp quan lại và nhân dân về sự tồn tại lâu đời và liên tục của một quốc gia của người Việt ở phương Nam. Đó chưa phải là quốc danh hay quốc hiệu. Chỉ đến năm 1804, danh xưng “Việt Nam”, mới trở thành quốc hiệu, bởi nó được hình thành một cách bài bản hay theo một quy định thống nhất. Điều này được Gia Long nêu rõ trong tờ Chiếu: Đặt Quốc hiệu là để khẳng định sự hiện diện và trường tồn của người Việt ở dải đất phương Nam… “các đấng tiên thánh vương ta xây nền dấy nghiệp, mở đất Viêm bang (vùng đất nóng, khí hậu nhiệt đới gió mùa), gồm cả đất đai từ Việt Thường về Nam, nhân đó lấy chữ Việt mà đặt tên nước: nối hòa thêm sáng, vững được nền thần thánh dõi truyền, giữ được vận trong ngoài yên lặng”.

Đặt quốc hiệu là quy luật của một thể chế “Đế vương dựng nước, trước phải trọng quốc hiệu để tỏ rõ sự thống nhất”; là để khẳng định chính danh, chính phận của bậc đế vương “nghĩ tới mưu văn công võ, ở ngôi chính, chịu mệnh mới”; có định ngày (17/2) có lễ thức đặt quốc hiệu (kính cáo Thái miếu) và lệnh cho triều thần bố cáo với nhân dân cả nước, với các nước láng giềng chính thức từ bỏ tên “An Nam” mà phong kiến Trung Quốc áp đặt.

Gia Long đặt quốc hiệu Việt Nam là sự thể chế hóa nguyện vọng lâu đời của các tầng lớp trí thức, quan lại và nhân dân; khẳng định tính pháp lý về chủ quyền của một Nhà nước Việt ở phương Nam; thể hiện ý chí, sức mạnh muôn đời của các cộng đồng cư dân Việt trên dải đất phương Nam, cũng là một sự khiêm nhường, đúng mực, “biết người biết ta”, trong quan hệ bang giao với nhà Thanh và các nước.

Đến đời vua Minh Mạng, quốc hiệu được đổi thành Đại Nam (năm 1838). Dù vậy, hai tiếng “Việt Nam” vẫn được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm văn học, trong nhiều giao dịch dân sự và quan hệ xã hội.

Việc đặt quốc hiệu Việt Nam tạo niềm tự hào cho các cộng đồng cư dân Việt. Đây chính là sức mạnh tinh thần lớn lao để nhân dân duy trì bền bỉ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trong suốt 80 năm bị xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, để đến mùa thu năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, ra đời một quốc hiệu mới, một thể chế mới. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946.

Sau khi đất nước thống nhất, ngày 2/7/1976, trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định quốc hiệu đó, đưa quốc hiệu Việt Nam trở thành chính thức cả về pháp lý lẫn trên thực tế.

nbc
28/05/10, 08:33 AM
Tị nạn giáo dục: Còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi hết...

Cập nhật lúc 05:53, Thứ Tư, 26/05/2010 (GMT+7)

http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif (http://vietnamnet.vn/common/v3/images/vietnamnet.gif)- Nhà văn Dạ Ngân nói nếu cứ đùa dai với truyền thống hiếu học thì sẽ còn chuyện học sinh đi du học hết.


Du học để “tị nạn giáo dục”


http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201005/original/images1971315_chan_dung_1.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201005/original/images1971315_chan_dung_1.jpg)
Nhà văn Dạ Ngân

Các ông bố, bà mẹ hiện đại ở các đô thị đang có xu hướng “ấn” con đi du học càng sớm càng tốt? Xu hướng này phản ánh điều gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay?
Xin đừng quên người Việt mình rất chăm con, bất đắc dĩ người ta mới chịu xa con sớm và họ biết rõ, con mình sẽ “lóng ngóng” ở xứ người một thời gian dài.

Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm ? Là vì cung cách của nền giáo dục không còn khiến người ta an tâm.

Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách và phải học theo kiểu “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm học nếm mãi.

Ở khía cạnh giáo dục, chị lý giải hiện tượng này như thế nào?

Ngày nay, nhiều người Việt ra nước ngoài là để tị nạn giáo dục.

Tình hình đã mười mươi như vậy, nhưng hình như phía vĩ mô không muốn thay đổi. Làm giáo dục mà không triết lý giáo dục thì sao thiết kế được?



http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201005/original/images1971554_IMG_0867.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/201005/original/images1971554_IMG_0867.jpg)
HS Trường Tiểu học Kim Liên trong lễ khai giảng. Ảnh: Lê Anh Dũng

Sao các môn xã hội không có sức hấp dẫn mà còn khiến HS bội thực, ngán ngẩm? Các em không thích môn văn, không yêu môn sử, không thiết tha môn địa, không “vào” với môn đạo đức công dân? Vậy thì giỏi toán và giỏi các môn tự nhiên để làm gì, để làm người Việt ngô ngọng hay làm rô – bốt?

Tôi thấy bất an với kiểu làm sách giáo khoa, tôi ngạc nhiên với sự im lặng của chính các thầy cô trong ngành giáo dục. Họ biết cả đấy, họ chán đấy mà họ không làm gì, không ai lên tiếng, họ sợ họ hèn hay họ đã chai lì cả rồi?

Nếu tôi là một quan chức trong ngành giáo dục thì chắc chắn tôi sẽ từ chức. Không làm gì nổi nữa, chỉ có cách cho con cho cháu “tị nạn” mà thôi.

Không phải chép văn mẫu đã là “được làm người”

Một gia đình có con trúng học bổng Singapore năm 14 tuổi đã phấn khích thốt lên: “ôi, cháu tôi đã được làm người”…
“Ôi, cháu tôi được làm người” là một câu nói có vẻ quá lên nhưng bên trong nó có sự thật đó chứ!
Hãy xem trường điểm và trường chuyên đã làm cho cha mẹ các em phải chạy chọt và gây thêm ách tắc giao thông như thế nào? Hãy xem tuổi thơ của các em nhỏ (http://vietnamnet.vn/giaoduc/2009/07/855681/) đang được chơi hay đang bị học kiểu “nhồi thức ăn cho ngỗng”? Một cô cháu họ của tôi kể, trong thực hành môn Văn lớp 4 của con nó có thứ đề đại loại: “Hãy viết một bức điện tín”. Chính tôi đã từng giúp cho đứa cháu ngoại học lớp 5 ở Hà Nội làm đề ngoại khóa là “Hãy viết suy nghĩ của em về chiến thắng của trận Điện Biên Phủ trên không?”.

Có phải bắt các em làm chính trị gia hay làm công dân sớm? Sao không để cho các em tiểu học được phát triển tự nhiên cả trong tình yêu đất nước, gia đình, thầy cô và tiếng Việt mà cứ làm cho chúng chán ngấy lên vậy?

Cho con du học là xu hướng đã có từ thời thuộc Pháp, để con cái được học cái văn minh, được sống và được thụ hưởng môi trường văn hóa cao. Tại sao người ta thích cho con đi Singapore, đảo quốc ấy có đúng là thiên đường ở châu Á mà chúng ta đang mơ ước không?

Nhưng chị có nghĩ rằng bọn trẻ sẽ có những tổn thương tâm lý vì xa bố mẹ từ khi còn quá nhỏ?

"Con trai tôi đi làm thạc sĩ ở Úc bằng nguồn ngân sách, gia đình đóng góp 30% chi phí ăn ở (khoảng 200 triệu đồng). Về nước, nó được bổ nhiệm phó giám đốc một Sở, lương và phụ cấp 3 triệu đồng tháng, không đủ nuôi thân. Bà con và bạn bè tôi chép miệng: “Có ai sống tử tế bằng lương, có chức và rồi sẽ có lộc, lo chi”.

Chính sách vậy có khuyến khích được người ta về nước không, có “chiêu hiền đãi sĩ” không và nếu cứ bài ca thản nhiên lương và lậu thì xã hội tiếp tục bất an, làm sao lành mạnh được..."

Tôi không có con nhỏ nhưng tôi đã khuyến khích và đóng góp cho cháu ngoại của tôi vào trường quốc tế từ đầu cấp II. Vì sao? Vì ở đó nó được học chương trình giảm tải, nó được học tiếng Anh bằng phương pháp đúng và không phải làm văn mẫu.

A ha! Riêng việc không phải làm văn kiểu học thuộc lòng và chép nguyên xi văn mẫu đã là “được làm người” rồi. Nó học văn một cách hào hứng và tiếng Việt của nó dậy hương là vì nó được làm văn theo suy nghĩ của mình. Cả nhà xúm nuôi một đứa bé, cực nhưng mà vui, không bị sốc, không bị stress vì “né” được nhiều “ngón hành hạ” của ngành giáo dục trong nước.
Các trường ở Singapore họ hay nhảy vào các trường điểm và trường chuyên của chúng ta để “hớt váng” từ năm lớp 9 hoặc lớp 10.

Số đi du học tự túc thì đủ lứa tuổi. Các em phải chịu thiệt thòi nhưng nền giáo dục của các nước văn minh rèn người khá hay.
Theo tôi, đi từ đầu cấp III là vừa, cho đi sớm hơn là sẽ có hậu quả.

Con mình nuôi lớn mà người ta “dùng"

Việc mỗi gia đình tự lo cho tương lai của con cái như vậy sẽ tạo ra một nguồn nhân lực tốt cho đất nước?
Rõ ràng là nhân tài sẽ thất thoát. Con cái mình nuôi lớn mà người ta dùng, toàn là người thông minh và nhiều người tài đấy chứ. Có đau không, có ức không? Đành chịu.
Các vị ở trên cao có xót không, xót sao không tìm cách và không thay đổi?

Liệu gia đình và chính các em HS đó có phải trả cái giá nào không?
Đừng có mà đùa dai với truyền thống hiếu học của người Việt. Sẽ còn đi nhiều, đi trống rỗng, đi bằng hết, nếu những người cầm trịch của chúng ta không giật mình thì sẽ không cứu vãn được làn sóng tị nạn này đâu.

Rồi sẽ có thêm những thế hệ Việt kiều không biết tiếng Việt, quê hương đất nước xa vời. Đừng nghĩ người Việt sẽ cố kết tình quê hương và đất nước như cộng đồng người Tàu. Chúng ta là những người Việt trần ai, rất dễ bời rời và mất gốc khi ở xứ người.

Xin cảm ơn chị!


Nhà văn, nhà báo Dạ Ngân sinh năm 1952, từng tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du. Là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết nổi tiếng. Trong đó, đặc biệt và gây tiếng vang nhất là tiểu thuyết "Gia đình bé mọn" đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Hà Nội.
Phù Sa (Thực hiện)

Nguồn: VietnamNET

nbc
09/06/10, 10:42 PM
Thể chế lạc hậu và căn bệnh tham nhũng


Nguyễn Trần Bạt
Chủ tịch - Tổng giám đốc, InvestConsult Group

Tham nhũng là một từ ghép. Tham là tham lam, vơ vét. Nhũng là nhũng nhiễu, hách dịch. Tham nhũng dùng để ám chỉ bọn quan lại triều đình phong kiến ngày xưa, luôn sách nhiễu dân thường để nhận quà cáp, biếu xén. Như vậy có thể thấy tham nhũng chỉ xuất hiện ở những người có thế lực, quyền hành trong xã hội.
Tham nhũng là vấn đề đau đầu của tất cả các chính thể trên thế giới, bất kể trình độ phát triển, định hướng, khu vực và truyền thống văn hoá, tuy với những mức độ khác nhau. Nhưng tham nhũng là gì? Trên thực tế, câu hỏi phức tạp hơn chúng ta tưởng. Mặc dù không mới, nhưng cùng với sự phát triển của nhân loại, tham nhũng đã thay đổi nhiều về quy mô, hình thức và phần nào cả về bản chất. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất chính là hậu quả của tham nhũng không chỉ đối với các tầng lớp dân chúng nghèo khổ mà cả với các nền kinh tế, thậm chí là cả các thể chế. Tham nhũng làm lũng đoạn xã hội, xói mòn lòng tin của dân chúng vào các giá trị của xã hội. Trong thời đại toàn cầu hoá, tham nhũng đã trở thành tệ nạn mang tính toàn cầu.

Tham nhũng, nói một cách vắn tắt, là việc sử dụng các quyền lực, uy tín và địa vị công cộng để chiếm đoạt các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội hoặc của người khác. Như vậy, theo chúng tôi, đối tượng tham nhũng không chỉ là những giá trị vật chất như người ta thường quan niệm, mà còn là những giá trị tinh thần. Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu kỹ lưỡng hơn những hình thức tham nhũng này trong phần dưới, nhưng xin khẳng định ngay rằng chính trong lĩnh vực tinh thần, mức độ nguy hiểm của tham nhũng còn ghê gớm hơn so với trong lĩnh vực vật chất. Chính trong lĩnh vực có vẻ như yên ổn này, hiện tượng tham nhũng lại diễn ra tinh vi hơn, nặng nề và tàn phá xã hội khốc liệt hơn.

Tham nhũng là một căn bệnh của nhân loại. Cũng như các loại bệnh tật khác, nó là khuyết tật tự nhiên mang tính bản năng, là một phần thuộc về bản chất của đời sống con người. Chính vì vậy, dù có căm thù hay nguyền rủa tham nhũng đến mức nào, chúng ta cũng không thể xoá sạch được tham nhũng, đơn giản vì chúng ta không thể tiêu diệt con người. Chúng ta không thể chỉ nhìn tham nhũng dưới con mắt của một nhà tội phạm học mà phải nghiên cứu nó một cách toàn diện và biện chứng dưới những khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội. Chỉ có cách nhìn đúng đắn và khách quan mới giúp chúng ta có được những phương thuốc hiệu nghiệm để chế ngự, hay ít nhất là hạn chế thứ bệnh dịch xã hội này.

Tham nhũng vật chất và tham nhũng tinh thần

Bộ mặt dễ nhận biết của tham nhũng là tham nhũng vật chất. Tuy nhiên, ngày nay tham nhũng vật chất không còn hạn chế trong lớp người có quyền lực mà còn lan rộng ra trong mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, kể cả lớp người trước đây không thể tham gia vào hoạt động này như thầy giáo, thầy thuốc... Người thầy đáng kính ngày nay có thể tham nhũng bằng cách thức chẳng khác bao nhiêu cách thức của một tên lâu la đòi tiền mãi lộ mỗi khi có học sinh qua "cửa". Một thầy thuốc "như mẹ hiền" thì dùng cách bắt chẹt con bệnh. Tại rất nhiều quốc gia đang phát triển, một bộ phận đáng kể dân chúng, trong đó có nhiều nhân vật đáng kính, chi dùng số tiền gấp hàng chục lần tiền lương, nguồn thu nhập hợp pháp của họ. Nói các khác, tham nhũng vật chất đã trở thành nguồn sống chủ yếu của họ. Tham nhũng vật chất trở nên trầm trọng, nguy hại và khủng khiếp hơn nhiều khi nó mang tính chuyên nghiệp và trở thành lối sống của một tầng lớp dân cư có địa vị quan trọng trong xã hội.

Tuy nhiên, tham nhũng vật chất cũng chỉ là bề nổi, là dạng thông thường của tham nhũng.

Chúng ta sẽ phạm phải sai lầm là đơn giản hóa vấn đề, hay nói khác đi, không nhìn thấy phần chìm của tảng băng tham nhũng, nếu không chỉ ra hình thức tham nhũng giấu mặt khác đang lộng hành trong xã hội hiện đại. Xã hội càng phát triển thì hiện tượng tham nhũng ngày càng tinh vi với nhiều biến thái và sắc thái mới. Khi đói, người coi kho có thể tham nhũng bằng cách ăn cắp bánh mỳ, tức tham nhũng để tồn tại. Khi không đói nữa anh ta có thể tham nhũng để có tiền mua sắm những hàng hóa cao cấp, xa hoa, tức tham nhũng để có các tiện nghi sống. Cao hơn nữa, một số người chuyển sang tham nhũng lẽ phải. Đó chính là tham nhũng tinh thần, bộ mặt thứ hai của tham nhũng, mà như trên đã nói, mức độ trầm trọng và mối nguy hại gây ra cho xã hội còn khủng khiếp hơn nhiều. Điều nguy hiểm là ở chỗ tham nhũng tinh thần dường như không bị lên án, không bị trừng trị và nhiều khi chính thủ phạm cũng không ngờ rằng mình phạm tội. Vì thế, chúng ta có thể khẳng định rằng tham nhũng tinh thần là biểu hiện cao nhất, tinh vi nhất và cũng nguy hiểm nhất của tham nhũng. Nếu như chống tham nhũng vật chất có mục đích là làm trong sạch đời sống xã hội thì chống tham nhũng tinh thần có nhiệm vụ là chống lại sự rủi ro đối với sự phát triển của nhân loại.

Tham nhũng tinh thần thường được che đậy, ẩn giấu dưới ba hình thức phổ biến sau:

Tham nhũng quyền lực: Có thể kể ra ba mức độ khác nhau của tham nhũng quyền lực. Thứ nhất, lạm dụng và vận dụng một cách sai trái các quyền hợp pháp mà xã hội trao cho; thứ hai, chế ra các hình thức để mở rộng quyền lực nhằm thỏa mãn những lợi ích không hợp pháp và; thứ ba, lợi dụng quyền lực để thỏa mãn khát vọng về quyền lực nhằm duy trì quyền lực đã tham nhũng được hoặc mưu cầu cương vị quyền lực cao hơn.
Điển hình cho hình thức tham nhũng quyền lực là hiện tượng nhiều cá nhân không xứng đáng, không đủ phẩm chất nhưng lại chiếm giữ những cương vị nhiều khi rất quan trọng trong bộ máy nhà nước. Câu nói trong dân gian "tham quyền cố vị" chính là muốn nói đến loại tham nhũng này. Trong bức tranh chung về tham nhũng người ta sẽ thấy tham nhũng quyền lực là yếu tố mở đầu để tham nhũng phát triển lên quy mô lớn hơn. Nhiều nhà cải cách xã hội nỗ lực chống tham nhũng nhưng do không nhìn rõ và không ngăn chặn được hiện tượng tham nhũng quyền lực nên thường bị thất bại.

Độc quyền tư duy: Tương tự như sự độc quyền và đặc quyền trong tham nhũng vật chất, độc quyền tư duy là sự tước đoạt quyền tư duy của dân chúng, coi họ là những người thấp kém không có địa vị đáng kể trong xã hội. Chế độ kinh tế bao cấp, trong đó người dân sống trong sự bao cấp vật chất và tinh thần, nhất cử nhất động đều phải thỉnh thị ý kiến chỉ đạo của cấp trên là một ví dụ như thế. Hậu quả là toàn xã hội rơi vào tình trạng trì trệ. Ngày nay, khi đã chuyển sang kinh tế thị trường, tình trạng độc quyền tư duy vẫn còn để lại những di chứng trầm trọng cho xã hội mà hầu hết chúng ta chưa ý thức được hết mức độ tai hại. Rất nhiều người, kể cả những trí thức hàng đầu, vẫn tiếp tục sống yên ổn trong sự bao cấp tinh thần, cho rằng tư duy về những vấn đề "quốc gia đại sự" là độc quyền của cấp trên, còn nhân dân thì cứ thực hiện theo mệnh lệnh.
Về bản chất, độc quyền tư duy tước mất khả năng và quyền tư duy sáng tạo của quần chúng và tư duy trở thành độc quyền của một nhóm người. Khi đó, khoa học sẽ mất đi giá trị chân chính, cuộc sống sẽ đơn điệu và nguy hiểm, nhân dân không còn là người chủ của xã hội, những người không chỉ có khả năng mà còn có quyền tư duy và đóng góp trí tuệ cho công cuộc xây dựng và kiến tạo cuộc sống mới. Độc quyền tư duy là sự níu kéo quá khứ, cản trở sự phát triển của lịch sử.

Độc chiếm lẽ phải: Đời sống tinh thần của nhân loại không chỉ bị nghèo nàn bởi sự độc quyền tư duy mà còn bị vẩn đục và méo mó bởi nạn độc chiếm lẽ phải. Độc chiếm lẽ phải là biến những lý thuyết mà mình phát hiện, biến những tín điều mà mình nghĩ ra thành "chân lý" của toàn nhân loại. Nhiều người trong giới được gọi là trí thức, là những "nhà lý luận" hay "nhà khoa học", thường tự coi mình là biểu hiện của lẽ phải. Họ mặc nhiên coi những điều họ nghĩ, họ nói, họ làm là đúng và áp đặt "lẽ phải" của họ cho toàn xã hội. Đó là biểu hiện cao nhất và cũng là nguy hiểm nhất của tham nhũng tinh thần. Độc chiếm lẽ phải làm nghèo nàn đời sống tinh thần của nhân loại. Nó xoá bỏ những xu hướng tự nhiên cần thiết cho một môi trường tinh thần lành mạnh và tiến bộ. Nó chính là hiện tượng đúng nhất để lấy làm ví dụ cho tính từ "phản động".

Để chống lại thói độc quyền lẽ phải trước tiên cần nâng cao nhận thức của nhân dân. Mỗi chúng ta, đặc biệt là những nhà chính trị, những nhà khoa học, cần phải có ý thức trách nhiệm cao hơn đối với vận mệnh của nhân loại. Chúng ta không nên và không được phép đưa ra các dự báo viển vông, không nên khuyến dụ con người đi theo các cuộc phiêu lưu vô trách nhiệm. Lịch sử cho thấy nhân loại đã phải trải qua những kinh nghiệm đau xót khi bằng thói tham nhũng lẽ phải người ta biến mình thành chúa, thành thánh, thực chất là thành kẻ độc quyền và độc tài về mặt chân lý, khi hàng triệu con người bị biến thành vật thí nghiệm cho những ý tưởng cá nhân.

Hai bộ mặt của tham nhũng có mối quan hệ gắn bó với nhau, chúng hỗ trợ và che chở lẫn nhau. Tham nhũng tinh thần là cơ cấu bảo trợ về chính trị cho tham nhũng vật chất, còn tham nhũng vật chất làm ô nhiễm đời sống tinh thần của toàn xã hội, tạo điều kiện cho tham nhũng tinh thần phát triển.

Nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội của tham nhũng hiện đại

Mặc dù là một hiện tượng muôn thuở, tham nhũng ở mỗi quốc gia, mỗi thời đại lịch sử, chịu tác động của những nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau. Đặc biệt, ở những quốc gia phi dân chủ, nơi thể chế chính trị lạc hậu và kìm hãm sự phát triển, căn bệnh tham nhũng càng trầm trọng và hầu như không thể kiểm soát. Để chống tham nhũng hiệu quả cần phải dựa trên cơ sở phân tích khoa học những nhân tố đó. Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra những phân tích sơ bộ:

Về mặt chính trị, tham nhũng là kết quả của hệ thống chính trị thiếu khả năng tự kiểm soát. Một hệ thống chính trị không xây dựng được các tiêu chuẩn, không tự kiểm soát được, để cho quyền lực bị đánh cắp đại trà trên quy mô xã hội, dưới mọi hình thức, mọi mức độ sẽ tạo cơ hội tốt cho tham nhũng phát triển. Hệ thống chính trị thiếu khả năng tự kiểm soát sẽ làm xuất hiện sự nhập nhằng trong nhận thức và những cơ cấu không được pháp chế hoá. Tất cả các yếu tố này giải thích tại sao trong thời đại chúng ta, tham nhũng lại nở rộ tại những quốc gia có nền chính trị không chuyên nghiệp, hay nói một cách giản dị, tại những quốc gia trong đó nền chính trị tuột khỏi tầm kiểm soát của xã hội.

Tham nhũng là kết quả của tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chính trị. Tham nhũng gắn liền với bản chất con người, nhưng không phải bất kỳ ai cũng tham nhũng và cũng có thể tham nhũng. Để tham nhũng phải có quyền hoặc quyền lực. Ngoài ra, tham nhũng phụ thuộc vào các cơ chế xã hội có nhiệm vụ ức chế hành vi tham nhũng. Khi một quốc gia lâm vào tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chính trị, những người thoát khỏi sự ức chế của các cơ chế xã hội sẽ lợi dụng, lạm dụng quyền lực, địa vị, uy tín xã hội để thực hiện hành vi tham nhũng. Cùng với tình trạng thiếu dân chủ trong sinh hoạt chính trị, sự thiếu công khai trong đời sống chính trị cũng tạo ra không gian đen tối cho hiện tượng tham nhũng phát sinh và phát triển.

Về mặt kinh tế, tham nhũng là hậu quả của môi trường kinh tế thiếu minh bạch. Môi trường kinh tế thiếu minh bạch là mảnh đất tốt cho các hành vi tham nhũng sinh sôi nảy nở. Điều này lý giải tại sao tham nhũng tại các nước đang phát triển trầm trọng hơn nhiều so với các nước phát triển, nơi có môi trường kinh tế minh bạch hơn. Tại những nước có môi trường kinh tế kém minh bạch, việc trốn thuế diễn ra tràn lan, lý do đơn giản là tại đó hành vi này dễ dàng thực hiện trót lọt hơn tại các quốc gia khác. Trong môi trường kinh tế thiếu minh bạch, sự can thiệp thái quá và nhiều khi thô bạo của các cơ quan nhà nước vào hoạt động kinh doanh làm méo mó các quan hệ kinh tế - xã hội. Đó là tình trạng thích hợp, là cơ hội vàng để các tham quan dễ bề trục lợi.

Về mặt nhà nước, tham nhũng là con đẻ của những thể chế tồn tại bất hợp lý và bị độc quyền lũng đoạn. Chúng ta đã thấy tham nhũng phát triển cả về hình thức và quy mô cùng với sự phát triển của xã hội, nhưng điều đó không có nghĩa là có một sự tương quan tỷ lệ nào đó giữa tham nhũng và phát triển. Quy mô tham nhũng lệ thuộc nhiều vào tính chất của thể chế nhà nước. Chẳng hạn tại các quốc gia nghèo khổ châu Phi, nơi tập trung nhiều thể chế lạc hậu và phi dân chủ, quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị bị phân chia một cách tùy tiện hoặc không được bảo vệ và sử dụng cẩn trọng, tức là các quyền lực này dễ bị tham nhũng, mở đường cho nạn tham nhũng tràn lan trong xã hội. Các thể chế này không đủ năng lực để tự kiểm soát, nhưng lại ra sức ngăn cản việc xây dựng một thể chế mới có thể quản lý xã hội hữu hiệu hơn. Tình trạng bất hợp lý của thể chế có thể thấy rõ ở những quốc gia mà một bộ phận nhân lực quan trọng của nó được trả lương quá thấp so với nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Thể chế bất hợp lý đã buộc nhiều người phải tham nhũng để sống, để tồn tại.

Về mặt pháp luật, tham nhũng là kết quả của tình trạng không hợp pháp hóa các quyền và lợi ích cá nhân. Tình trạng nhiều quyền lợi chính đáng của cá nhân không được hợp pháp hóa hoặc bị hạn chế có thể quan sát thấy tại nhiều quốc gia chậm phát triển. Ta có thể lấy ví dụ như tình trạng "ngăn sông cấm chợ" tại Việt Nam trước đây hay sự hạn chế các hoạt động xã hội của nữ giới tại Afghanistan mới đây, khi chỉ vì những suy nghĩ thiển cận, người ta muốn tối thiểu hóa không gian sống của mỗi cá nhân. Điều này trên thực tế đã đẩy nhiều người vào vòng xoáy tham nhũng để thỏa mãn các khát vọng thật ra là chính đáng của họ. Điều nguy hiểm là ở chỗ sự thiếu thể chế hóa sẽ tạo ra trạng thái nhập nhằng về nhận thức. Việc thay thế các chế tài kiểm soát bằng những thỏa thuận ngầm trên quy mô xã hội hoặc đạo đức xã hội khiến các nhóm lợi ích luôn chèn ép, chen lấn lẫn nhau trong cùng một cá nhân. Nếu chúng ta tạo cho cá nhân một không gian sống tốt, nếu chúng ta hợp pháp hóa các quyền cá nhân chính đáng để mỗi cá nhân có thể phát huy tối đa sức sống, sức sáng tạo của họ trong khuôn khổ pháp luật, chắc chắn rất nhiều người bình thường sẽ sống và ứng xử theo những chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi trong xã hội.

Về mặt văn hóa xã hội, tham nhũng bắt nguồn từ sự đạo đức giả của hệ thống chính trị - xã hội. Hệ thống xã hội được xây dựng trên nền tảng đạo đức giả này đã đẩy nhiều người phải sống với bộ mặt giả tạo. Chẳng hạn, việc trả công chủ yếu không theo hình thức tiền lương mà dưới hình thức các tiêu chuẩn hưởng thụ là cơ sở kinh tế của một lối sống đạo đức giả. Một ví dụ khác có thể thấy ở nhiều nền kinh tế chuyển đổi, khi người ta thủ tiêu chế độ đặc quyền đặc lợi, nhưng không có biện pháp cân bằng các lợi ích bị đột ngột xoá đi ấy. Kết quả là một số người tìm đến những biện pháp phi pháp để giành lại những gì đã mất. Với cách nhìn như vậy, chúng ta thấy rằng đôi khi các vị tham quan vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của một hệ thống xã hội xa lạ với bản chất con người.

Tham nhũng còn được hỗ trợ bởi các yếu tố tiêu cực trong nền văn hoá, chẳng hạn tính gia trưởng vốn là một đặc điểm rất rõ nét tại nhiều nước châu á. Trong lịch sử đương đại châu á có quá nhiều ví dụ về các nhà chính trị gia trưởng, độc tài, những người trong thời kỳ cầm quyền lâu dài đã trở thành những "bố già" của đất nước. Văn hóa gia trưởng gắn liền với việc độc quyền sở hữu lẽ phải chúng tôi vừa đề cập ở trên. Kết quả là quyền lực dễ bị đánh cắp, tạo cơ sở cho cả tham nhũng vật chất và tinh thần.

Về mặt nhân văn, tham nhũng là hậu quả của quan niệm lệch lạc và thái độ thiếu tôn trọng các giá trị cá nhân. Các giá trị cá nhân không được tôn trọng sẽ dẫn đến sự xâm hại các giá trị công cộng. Điều này có vẻ ngược đời nhưng thực ra rất hợp với logic. Trên thực tế, việc chống chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá luôn luôn dẫn đến một tình trạng cực đoan trong đời sống tinh thần của xã hội. Tâm lý xem nhẹ nếu không muốn nói là bài bác các giá trị cá nhân khiến người ta tìm mọi cách tối thiểu hóa không gian sống của cá nhân, làm cho con người thiếu ý thức trách nhiệm về hành vi của mình, dễ dàng bằng lòng với thực tại, dễ dàng tham nhũng, tiếp tay hoặc chí ít cũng là mặc nhiên thừa nhận tham nhũng.

Sự ngộ nhận về giá trị cá nhân và giá trị tập thể còn dẫn đến cả hiện tượng tham nhũng mang tính tập thể, nghĩa là có sự cấu kết, đồng tình để tiến hành hành vi tham nhũng trên quy mô lớn hơn. Đó là gì nếu không phải là mầm mống của tội phạm có tổ chức? Nếu cá nhân nào không chịu tham nhũng, họ sẽ không còn là người của tập thể, họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Điều này giải thích tại sao tham nhũng tại những nước có sự nhìn nhận sai lạc về cá nhân và tập thể lại càng trầm trọng và khó đẩy lùi hơn nhiều nước khác.

Những phân tích ở trên về nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội cho thấy rằng để chống tham nhũng chúng ta phải sử dụng các biện pháp toàn diện, dựa trên những giải pháp có tính khoa học, tuyệt đối không được xem việc chống tham nhũng chỉ như một biện pháp mang tính hình sự nhằm trừng trị con người.

Như trên đã nói, tham nhũng vật chất cũng như tinh thần ngày nay đã phát triển với quy mô rất lớn, với những dạng thức vô cùng tinh vi, phức tạp và gây nên những tác động khủng khiếp tới đời sống xã hội. Nó khiến cho rất đông dân chúng rơi vào trạng thái thụ động hoặc cam chịu. Vì thế, cuộc chiến chống tham nhũng cần bắt đầu bằng việc hâm nóng lại quyết tâm chống tham nhũng của người dân. Điều này không phải đơn giản. Sự sùng bái cá nhân ở một số quốc gia, sự nô dịch tư tưởng ở một số quốc gia khác cũng như cảnh bần cùng về vật chất tại những quốc gia kém phát triển nhất đã dập tắt những hy vọng cuối cùng về một xã hội trong sạch. Chính vì vậy, chúng ta phải chống tham nhũng chủ yếu trên phương diện chính trị, với những biện pháp chính trị và được tiến hành với tư cách của những nhà chính trị, trong đó việc đầu tiên là phải trong sạch hoá, phải gương mẫu hóa bộ máy nhà nước. Muốn vậy, lãnh đạo không thể được coi là địa vị có các quyền để tham nhũng, mà phải là sự thể hiện và biểu dương những giá trị cao quý của con người. Khi nào các thành viên của bộ máy nhà nước trở thành những mẫu mực của đời sống cao quý của tinh thần, thể hiện tài năng và đạo đức, như là tấm gương để dân chúng noi theo thì lúc ấy bắt đầu một trạng thái nhà nước kiểu mẫu. Việt Nam từng có một nhà nước tốt đẹp như vậy. Đó là giai đoạn cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, khi mỗi bộ trưởng là một danh nhân, một nhân sĩ, một huyền thoại, một mẫu mực về con người. Chỉ có nhà nước kiểu mẫu như vậy mới đủ sức kiểm soát được chính mình và khống chế được tham nhũng. Đó là nhà nước dân chủ, đúng nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong đó người dân có quyền lựa chọn thể chế chính trị và cả các quan chức điều hành bộ máy nhà nước. Trong một xã hội dân chủ con người có quyền lựa chọn những chân lý mà mình nhận thức được chứ không bị bắt buộc phải tuân theo những "chân lý" mà người khác áp đặt. Giá trị của xã hội dân chủ chính là ở chỗ con người có quyền lựa chọn, xác định chân lý phù hợp với nhận thức của mình.

Việc chữa bệnh muốn hiệu quả thì không chỉ tập trung vào việc loại bỏ những tác nhân ngoại lai gây bệnh mà còn phải chú ý đúng mức đến việc đảm bảo một môi trường tốt để duy trì và nâng cao thể trạng con người, tức là tăng khả năng đề kháng của cơ thể. Cũng vậy, việc chống tham nhũng đòi hỏi phải làm trong sạch môi trường tinh thần, nơi hình thành, nuôi dưỡng và phát triển nhân cách của con người. Xã hội có thể và cần phải tự xây dựng một nền văn hóa có khả năng đề kháng đối với những mầm mống tham nhũng. Để giải quyết bài toán tham nhũng, mỗi quốc gia phải xây dựng được một môi trường văn hóa lành mạnh, theo nghĩa là nó không dung nạp các yếu tố thuận lợi cho tham nhũng. Một môi trường văn hóa lành mạnh giúp con người biết tự đấu tranh để không bị rơi vào vòng xoáy của tham nhũng. Trong một cộng đồng nhỏ, một công ty chẳng hạn, nhà lãnh đạo không chỉ cần có tài mà còn cần phải trong sạch mới có thể điều hành công ty tốt. Cũng vậy, trên quy mô toàn xã hội, để điều hành đất nước tốt mỗi quốc gia phải làm trong sạch hóa bộ máy nhà nước ở các cấp.

nbc
17/06/10, 04:38 PM
Tranh luận là một năng lực văn hóa

Trích trong bài viết ""Xây văn hóa tranh luận để Việt Nam thành cá kình"

trên Tuần Việt Nam (VietNamNET) của tác giả: Nguyễn Lương Hải Khôi


Nhà văn Trung Quốc Vương Sóc, trong "Người đẹp tặng ta thuốc bùa mê", từng nói rằng, trên văn đàn Trung Quốc, các nhà văn, nhà lý luận mạt sát lẫn nhau rất khủng khiếp, nhưng tuyệt nhiên không hề thấy sự xung đột về tư tưởng và cách nhìn, ngược lại, trong vô số các bài tranh luận trên mặt báo, vẫn thấy chỉ có một cách nhìn thống nhất, còn các cuộc tranh luận máu lửa đơn giản chỉ là sự va chạm về mặt quan hệ giữa những cá nhân.
Điều đó có nghĩa là, khi tranh luận, thay vì nhận xét về những ý kiến, người ta phán xét về con người đưa ra ý kiến đó. Trong tranh luận, trí thông minh, thay vì được dùng để hoàn thiện những năng lực của lý tính, lại hướng đến việc sản xuất ra những cách diễn đạt cay độc nhất để xúc phạm người khác.
Việt Nam có vẻ như không khá hơn Trung Quốc ở điểm trên, và muốn phát triển được, nhất thiết phải tiến hóa để văn minh hơn. Nếu Việt Nam muốn phát triển bằng cách "khác Trung Quốc", thì trước tiên văn hóa Việt Nam phải khác Trung Quốc về điểm này.
Văn hóa tranh luận là sáng tạo cốt tử của văn minh Phương Tây từ hơn 2.000 năm qua. Người Phương Tây gần như không thể sống mà không có tranh luận. Họ là cá kình, mà văn hóa tranh luận là đại dương của họ. Còn ở hầu hết phần còn lại của thế giới thì văn hóa tranh luận là cái được du nhập. Chúng ta bước vào tranh luận cũng giống như một loài trên cạn bước xuống nước.
Tranh luận cũng giống như bơi lội. Khi bơi, con người đặt mình vào giao điểm giữa những luật vận động của cơ thể và những luật vận động của tự nhiên, để sáng tạo nên những luật vận động mới cho chính mình.
Voi, ngựa, ngan, ngỗng... mặc dù cùng ứng xử với cùng một luật vận động của môi trường nước, mỗi loài do có luật riêng trong cách vận động của cơ thể, nên phải có một luật bơi của riêng mình.
Việt Nam cũng phải sáng tạo ra một văn hóa tranh luận của riêng mình, bởi vì, con vịt muốn bơi theo cách của cá kình thì cần phải tiến hóa thành cá kình trước đã.

Nguồn: VietNamNET

nbc
08/07/10, 11:35 AM
Học tiến sĩ để làm gì?


Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Bài đã được xuất bản.: 08/07/2010 06:00 GMT+7

Người trí thức chân chính phải nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng trong cộng đồng.

Tiến sĩ không phải danh xưng phù phiếm
Để có được văn bằng tiến sĩ (TS), ứng viên phải đạt hai điều kiện. Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học. Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh (NCS) phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó.

Không phải như bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa, đối với bậc TS, kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học. Để mở rộng kiến thức về một đề tài, NCS phải làm nghiên cứu khoa học (NCKH) theo sự hướng dẫn của thầy cô. Chính phần NCKH này phân biệt giữa TS và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ. Không có NCKH thì không thể là TS được.

Cũng cần phải nhấn mạnh rằng đề án nghiên cứu cấp TS không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn (như nhiều người ngộ nhận), mà phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức cho chuyên ngành. "Tri thức mới" ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ, v.v...


http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/TS-de-lam-gi-1.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/TS-de-lam-gi-1.jpg)
Không có NCKH thì không thể là tiến sĩ được


Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn. Xin nhớ rằng khám phá insulin phải đợi đến gần 50 năm sau mới ứng dụng trong lâm sàng.

Học TS không chỉ là hoàn tất luận án. Có rất nhiều người tưởng rằng học TS chủ yếu là hoàn tất một luận án, nhưng thực tế thì không phải như thế vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo.
Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của NCS. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn (có thể quan trọng) trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng TS.

Ngoài luận án ra, NCS phải đáp ứng 6 tiêu chuẩn như sau :

- NCS phải chứng tỏ mình có những kiến thức cơ bản về khoa học, và những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi.

- NCS phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi. Có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.

- NCS phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình.

- NCS phải làm chủ được phương pháp NCKH hay phương pháp thí nghiệm cơ bản.

- NCS phải chứng tỏ đã đạt được những kĩ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học.

- NCS phải chứng tỏ mình đã nắm vững kĩ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

Một luận án khi hoàn tất mà chỉ để trên giá sách của thư viện trường cũng chỉ là một mớ tài liệu ít người biết đến. Vì ít người biết đến và nằm trong thư viện, nên chẳng có bao nhiêu người biết được luận án đó có cái gì mới hay xứng đáng với cấp TS hay không.

Do đó, NCS cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức "thử lửa" tốt nhất cho NCS, bởi vì qua đó mà đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của NCS.

Thật ra, công bố quốc tế là một điều gần như tất yếu trong quá trình học TS ở các ĐH bên châu Âu, châu Mỹ, và châu Úc, những nơi mà họ khuyến khích (có nơi gần như bắt buộc) NCS phải công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án TS. Ở một số nước Bắc Âu, luận án TS thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các ĐH lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philipin v.v... cũng có qui định tương tự.

Một trong những câu hỏi mà NCS khi mới bước vào học TS là cần phải có bao nhiêu bài báo khoa học để có thể bảo vệ luận án TS? Câu hỏi này khó trả lời, bởi vì nó còn tùy thuộc vào qui định của trường ĐH, của phân khoa, và những qui định này rất khác nhau giữa các trường ngay cả trong cùng một nước.
Chẳng hạn như trong các khoa xã hội và kinh tế học, yêu cầu bài báo khoa học không được đặt nặng bằng các khoa khoa học tự nhiên và thực nghiệm. Ở Mỹ người ta không có những qui định "cứng" phải có bao nhiêu bài báo khoa học để viết luận án TS, vì NCS phải học "coursework" một thời gian trước khi bắt tay vào nghiên cứu.

Ở Anh và Úc thì TS hoàn toàn làm nghiên cứu chứ không có coursework, nhưng cũng không có quy định trên giấy trắng mực đen bao nhiêu bài báo. Tuy nhiên, có quy ước ngầm theo kiểu "unspoken rule" là một luận án TS cần phải có ít nhất 2 bài báo khoa học, hoặc 3 bài báo khoa học, cộng với các bài khác chưa công bố.

Trong một phân tích mới công bố trên Scientometrics, tác giả Hagen phân tích cho thấy tính trung bình, một luận án TS ở Viện Karolinska có 4 bài báo khoa học, và con số bài báo dao động từ 3 đến trên 6 bài. Theo phân tích (xem biểu đồ dưới đây), gần 80% luận án có 4 bài báo khoa học; 12% có 5 bài; 5% có trên 5 bài; một phần nhỏ (4%) có 3 bài.


http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/TS-de-lam-gi-4.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/TS-de-lam-gi-4.jpg)
Số lượng bài báo khoa học trong một luận án TS (Viện Karolinska, năm 2008)


Học vị TS là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục ĐH. Ở các nước phương Tây, xã hội kính trọng những người có học vị TS và gọi họ bằng danh xưng "Doctor".

Để xứng đáng với danh xưng đó, xã hội đòi hỏi người có học vị phải đạt hai điều kiện chung: Phải chứng tỏ rằng mình đã quán triệt và làm chủ được lĩnh vực nghiên cứu; và thứ hai, phải phát triển hay cống hiến được một cái gì mới cho kho tàng của tri thức nhân loại. Cái cốt lõi của học vị TS (và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị TS với các học vị ĐH khác) có thể tóm lược bằng hai chữ: Nghiên cứu. Để phát triển hay mở rộng tri thức, thí sinh phải khảo sát, điều tra, và suy ngẫm, chứ không đơn thuần là một kỹ thuật viên về một lĩnh vực chuyên môn nào đó.

Học tiến sĩ để...thay đổi xã hội và con người

Mặc dù những cảnh báo trên là hoàn toàn sự thật và có thể xảy ra cho thí sinh, nhưng tôi phải công bằng mà nói rằng cũng có một vài "an ủi" cho thí sinh nào cảm thấy mình có đủ khả năng và đức tính để theo học TS.

Thứ nhất, thí sinh có thể tự hào rằng mình đã hoàn tất chương trình học, hoàn tất nghiên cứu, và được trao văn bằng TS. Nếu thí sinh có khả năng và đam mê, sự nghiệp NCKH có thể đem lại cho thí sinh nhiều phần thưởng vật chất và tinh thần có giá mà các ngành nghề khác không có được.

Thứ hai, trong khi theo học TS hay sau khi tốt nghiệp, thí sinh có thể sẽ gặp gỡ và làm việc với những người thông minh nhất trên hành tinh này. Thí sinh sẽ tiếp cận và tiến dần đến những lý tưởng và ý tưởng không nằm trong tầm tay của mình, làm được việc đó, thí sinh sẽ cảm thấy tri thức mình trưởng thành thêm. Thí sinh sẽ giải quyết nhiều vấn đề mình chưa bao giờ gặp trước đó, khám phá các khái niệm chưa bao giờ được nghe đến. Hoặc phát hiện những nguyên lí có thể làm thay đổi xã hội và con người.

Thứ ba, là lý tưởng sống của người làm NCKH rất có ý nghĩa. Tôi có thể nói lại câu này mà không sợ bị chê là "nói ngoa". Nói về niềm hân hoan trong nghiên cứu, có một "chân lí" mà có lẽ bất cứ nhà khoa học nào cũng đồng ý: Trong các hoạt động của con người, NCKH là lẽ sống có ý nghĩa nhất. Tại sao nhà khoa học phải tiêu tốn nhiều thời gian trong phòng nghiên cứu, mày mò sách vở, bận tâm với từng con số, quan tâm đến từng biểu đồ, trong khi họ có thể sống với gia đình, làm cỏ trong vườn, hay tán gẫu với bè bạn tại quán cà phê, quán nhậu?


http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/TS-de-lam-gi-5.jpg (http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/TS-de-lam-gi-5.jpg)
Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như TS, chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học


Đúng là nhà khoa học cũng có thể có một cuộc sống gia đình như hàng triệu triệu người khác, làm những việc trong gia đình như bao nhiêu người khác trên thế giới này. Nhưng cái khác nhau là thay vì làm những việc đó, nhà khoa học có thể làm việc trong một phòng thí nghiệm, trong phòng máy tính, trong thư viện, bên giường bệnh với bệnh nhân, hay thậm chí trong chuồng nuôi chuột bạch v.v...nơi mà họ có thể khám phá những điều thú vị nhất trên đời mà chưa có người nào biết đến.

Có thể nói NCKH là một niềm vui tuyệt đối. Còn gì vui hơn khi khám phá của mình đem lại lợi ích cho hàng triệu người trên thế giới, như khám phá vi khuẩn H. pylori của giáo sư Marshall, người vừa được giải Nobel y học vừa qua.

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội. Bằng cấp không phải dùng để đo những kết quả trên, mà chỉ là những phân chia đẳng cấp khoa bảng rất tương đối.

Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như TS, chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học, và tự nó chưa nói đủ về khả năng chuyên môn của nhà khoa học. Tương tự, một học hàm cao nhất như giáo sư cũng không phản ánh chính xác được mức độ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Người trí thức chân chính phải nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng trong cộng đồng.


Nguồn: VietNamNET

nbc
09/07/10, 10:32 PM
Lợi ích nhóm và giám sát của xã hội

PGS.TS PHẠM BÍCH SAN
(giám đốc Văn phòng phản biện xã hội,
Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật VN)

Câu chuyện ông chủ tịch Hội đồng quản trị Vinashin tự ý bổ nhiệm em ruột, con trai vào các vị trí quan trọng của tập đoàn trái với quy định của Đảng, Nhà nước và ông chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang bị phát hiện sống buông thả suốt thời gian dài nhưng không được xử lý đã gây nên trong dư luận những quan ngại về sự tồn tại của các nhóm lợi ích.

Nhiều câu hỏi đã được đặt ra như vì sao nội bộ Vinashin và nội bộ cơ quan Đảng, chính quyền tỉnh Hà Giang lại rơi vào sự im lặng đáng sợ trước những sự việc như vậy? Và khi các thiết chế nội bộ trong những tổ chức đó tê liệt thì vai trò của xã hội ở đâu, tại sao xã hội không lên tiếng hay không thể lên tiếng trong những trường hợp như vậy?

Nhiều người có cùng chung suy nghĩ và cảnh báo rằng lợi ích nhóm, lợi ích gia đình một khi đã được thiết lập, hình thành một cách bất minh và lũng đoạn trong một tổ chức, nó sẽ như cái vòi bạch tuộc ăn sâu vào cơ thể tổ chức, làm mục ruỗng tổ chức ấy. Những câu hỏi không mới trên đây sẽ mãi tồn tại nếu như chúng ta không đi sâu vào giải quyết ngọn nguồn của nó.

Nhìn ở khía cạnh xã hội, có hai vấn đề cần chú ý.

Thứ nhất, lợi ích cá nhân không được tôn trọng đúng nghĩa nên đã hình thành khá phổ biến trong xã hội cái gọi là đạo đức giả. Và điều trớ trêu là càng bài trừ lợi ích cá nhân thì lợi ích cá nhân lại càng phát triển.
Không ít cá nhân đã khống chế hoạt động của cả một tập thể và dành cho mình nhiều đặc quyền, đặc lợi. Khi đó, tập thể bị vô hiệu hóa và nảy sinh hàng loạt biểu hiện tiêu cực: dĩ hòa vi quý, mặc cả lợi ích, tâm lý sợ người lãnh đạo, câu kết với nhau để cùng hưởng lợi... Và khi những thứ tâm lý này phát triển, người ta có thể ngang nhiên làm trái với các quy định của pháp luật, làm trái quy định tổ chức mà không hề e ngại.

Thứ hai, không ít người cho rằng các thiết chế để kiểm soát trong nội bộ tổ chức của chúng ta đang có vấn đề nên khả năng “tự đề kháng” rất thấp. Yếu tố quan trọng nhất mà thế giới hiện đại, văn minh ngày nay người ta đề cao đó là sự kiểm soát của các tổ chức xã hội đối với hoạt động của bộ máy. Khi các thiết chế nội bộ bị vô hiệu thì các tổ chức xã hội phải lên tiếng và có quyền lên tiếng. Khi đó, các quy định đúng đắn mới được giám sát chặt chẽ và được bảo vệ thường xuyên.

LÊ KIÊN ghi

Nguồn: Tuổi Trẻ Online

nbc
14/07/10, 02:58 PM
Điều kiện để tăng trưởng bền vững (http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/ieu-kien-e-tang-truong-ben-vung.html)

Hoàng Tụy

Thế giới ngày nay có mấy đặc điểm lớn ngày càng nổi bật:

- tài năng, trí tuệ của con người, chứ không phải tài nguyên vật chất sẵn có, là sức mạnh quyết định sự phồn vinh của xã hội;

- toàn cầu hóa là xu thế không cưỡng nổi chỉ có thể chấp nhận và thích nghi tốt nhất mới có thể phát triển đất nước thuận lợi;

- bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là yêu cầu khẩn thiết của cả loài người, riêng đối với một số nước như Việt Nam càng thêm khẩn thiết;

- thế giới biến chuyển cực nhanh, với tính phức tạp và phi tuyến ngày càng tăng, muốn thành công trong thế giới đó phải thường xuyên cập nhật tình hình để kịp thời điều chỉnh tư duy và hành động cho thích hợp.

Đó là nhận thức cơ bản cần xuất phát từ đó để bàn định phương hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Xem thường hoặc nhận thức bất cập về bất cứ đặc điểm nào trên đây cũng đều có thể dẫn đến sai lầm phải trả giá nặng nề, ngay trước mắt hoặc trong tương lai không xa.
Mặc dù từ nhiều năm rồi chúng ta đã cảm nhận ngày càng thấm thía áp lực thời đại đối với công việc của đất nước, song có lẽ do sức ỳ bảo thủ từ thời mấy chục năm bị cô lập với thế giới vẫn còn quá mạnh, nên hai thập kỷ đổi mới vẫn chưa đủ cho chúng ta thay đổi nếp tư duy, cách nhìn trong hàng loạt vấn đề hệ trọng. Đặc biệt tuy đã nhận thức được phần nào tri thức, thông tin là của cải quý giá nhất thời nay, nhưng giáo dục, khoa học – những lĩnh vực đã được long trọng tuyên bố thuộc quốc sách hàng đầu – dù đã có những tiến bộ nhất định, nhưng dù muốn nói gì, vẫn không thể phủ nhận sự tụt hậu quá xa của chúng ta so với thế giới và so với yêu cầu phát triển của đất nước.

Nhiều người thường nghĩ rằng đối với một dân tộc thông minh, lanh lợi, lại dũng cảm cần cù như dân tộc ta thì yếu tố tài năng, trí tuệ nếu chưa phải là ưu thế ít ra cũng không thể là trở ngại gì lớn khi bước vào kinh tế tri thức. Tuy nhiên thực tế phũ phàng cho thấy không hẳn như vậy.

Cái nghịch lý sờ sờ là tài trí và dũng khí của người Việt trong công cuộc chống ngoại xâm tuyệt vời là thế mà trong xây dựng hòa bình lại không mấy nổi bật, có phần thua kém nhiều dân tộc khác. Nguyên nhân tại đâu?

Tất cả vấn đề là ở chỗ sự thông minh, lanh lợi của từng cá nhân chưa là gì cả nếu những cá nhân ấy không được liên kết trong một cơ chế quản lý nhằm sản sinh ra synergy (cộng năng) vượt hơn nhiều lần sức mạnh, tài trí, năng lực của từng cá nhân, từng bộ phận cộng lại. Cái cơ chế đó chính là trí tuệ hệ thống, là cái phần mềm để vận hành hệ thống một cách thông minh. Quản lý đất nước trước hết là chăm lo thiết kế và từng bước hoàn thiện cái phần mềm đó để có thể khai thác hết mọi tiềm năng.

Không đi sâu vào chi tiết, chỉ xin nêu lên một trong những niềm trăn trở lớn nhất của bất cứ ai có tấm lòng với đất nước, đó là tại sao tham nhũng đã được xem là mối nguy hại đe dọa sự mất còn của chế độ mà ba bốn chục năm nay vẫn không đẩy lùi được, mặc cho sự bất bình của nhân dân và sự phê phán của dư luận bạn bè khắp nơi trên thế giới?

Rất rõ ràng chừng nào tham nhũng còn nặng thì không thể nói đến phát triển bền vững. Nhìn quanh ta, Indonesia đã có một thời phát triển khá ấn tượng, nhưng rồi vì tham nhũng nên sụp đổ và cả chục năm nay vẫn chưa gượng dậy được. Philippines từng là nước khá giả nhất ở Đông Nam Á vào những năm 50-60 mà về sau tụt dần và lẹt đẹt mãi cũng chỉ vì tham nhũng. Trái lại, Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc đi nhanh được vì không bị nạn tham nhũng trì kéo. Rộng ra trên thế giới cũng không thấy có nước tiên tiến nào sống chung với tham nhũng mà tồn tại được.

Khi một căn bệnh xã hội nảy sinh và kéo dài triền miên mấy chục năm trời, thì đó là biểu hiện một khuyết tật hệ thống, không thể nào loại trừ chỉ bằng cải tiến khâu điều hành. Lúc đó phải xem xét lại cơ chế hoạt động của hệ thống, chắc chắn trong cơ chế ấy có lỗ hổng lớn, không xử lý cái lỗ hổng đó thì không có cách gì khôi phục sự hoạt động bình thường của hệ thống.

Một vị lãnh đạo gần đây có nói đại ý rằng tham nhũng không phải là thói xấu cố hữu của người dân Việt Nam mà do quản lý kém, khiến nhiều người vốn không muốn tham nhũng cũng bị lôi kéo vào vòng tham nhũng. Đúng như vậy, đây là ung nhọt sinh ra do quản lý. Có điều phải đi sâu hơn: vậy muốn cắt bỏ cái ung nhọt đó cần tìm ra cái lỗ hổng quản lý gì cần khắc phục và ai phải chịu trách nhiệm về cái lỗ hổng đó?

Khoa học hiện đại đã phát hiện có nhiều tổ chức, nhiều đối tượng trong thiên nhiên, trong xã hội rất phức tạp mà cơ chế sinh ra và phát triển chúng lại đi theo một lược đồ lặp khá đơn giản. Con quái vật tham nhũng thiên biến vạn hóa ở nước ta cũng đã sinh ra theo một lược đồ lặp đơn giản như vậy, mà cốt lõi là cái nghịch lý lương/thu nhập trong bộ máy hành chính sự nghiệp: chỉ trừ trong một số ít ngành, đơn vị ưu tiên (không bao gồm khoa học, giáo dục), còn phổ biến là lương quá thấp, không đủ sống mức sống hợp lý, trái lại thu nhập thực tế cao hơn lương rất nhiều lần. Phần lương thì kiểm soát chặt chẽ, dù còn nhiều bất công, nhưng phần thu nhập ngoài lương thì phân phối tùy tiện, phụ thuộc vào khả năng tự xoay xở của từng ngành, từng đơn vị, từng người. Mà biên độ xoay xở thì rộng bao la, càng lên cao càng ít có kiểm soát vì trong nhiều trường hợp nó được hợp pháp hóa đến mức trở thành đương nhiên. Cái lược đồ sản sinh ra tham nhũng đó lặp lại y như nhau từ cấp thấp đên cấp cao. Và một khi lược đồ đó hoạt động thì cấp trên dễ dãi, dung thứ cấp dưới, cấp dưới thông cảm, bảo vệ cấp trên, lập thành một vỏ bọc kiên cố nuôi dưỡng tham nhũng bất chấp mọi luật lệ.

Sau nhiều năm tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng nhưng chủ yếu theo chiều rộng, bây giờ đến lúc ta phải chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu để phát triển bền vững. Hơn lúc nào hết, cần xem xét lại cơ chế quản lý kinh tế xã hội để phát hiện, loại trừ những khuyết tật hệ thống, mở đường cho giáo dục, khoa học phát triển lành mạnh, trước hết là giải tỏa cái nghịch lý lương/thu nhập. Có thể khẳng định dứt khoát chừng nào còn tồn tại cái nghịch lý quái gở này thì tham nhũng còn nhiều đất để được nuôi dưỡng và phát triển, và triển vọng biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại còn mờ mịt.

H. T.


Nguồn: Tiasang (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&CategoryID=42&News=3295)

nbc
22/07/10, 02:18 PM
Thực trạng "ba thế giới" và lỗi của một nền giáo dục


Tác giả: Vương Thảo
Bài đã được xuất bản: 22/07/2010 06:00 GMT+7

Những đứa trẻ, nhìn một cách công bằng và sâu sắc, là những kẻ bị bỏ rơi trong chính ngôi nhà của mình. Hầu hết những con đường trong những cảm nhận tơ non đầu đời và trong trí tưởng tượng của chúng đã bị bịt lối.

LTS: Chưa bao giờ dư luận xã hội lại bàn về giáo dục một cách bức xúc như hiện nay. Điều đó cho thấy một cách gián tiếp những sản phẩm xuất xưởng của nền GD đang mắc nhiều lỗi tựa như Toyota mắc lỗi chân ga, chân phanh vậy. Nguyên nhân nào đưa đến những lỗi trong sản phẩm người của chúng ta? Đó là câu hỏi mà tất cả những ai có trách nhiệm và quan tâm đến GD đều đi tìm câu trả lời.
Trong bài viết dưới đây, tác giả Vương Thảo đưa ra thực trạng "ba thế giới" mà những đứa trẻ phải đi qua trong giai đoạn trưởng thành quan trọng nhất của đời người, từ lúc sinh ra cho đến khi tốt nghiệp trung học phổ thông: đó là gia đình, nhà trường và xã hội. Và thực trạng của "ba thế giới" ấy được trình bày trong ý thức xây dựng một nền GD nhân văn và khoa học. Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu.

"Vườn ươm" gieo hạt vô cảm

Lâu nay, chúng ta phê phán ngành GD như là bộ phận chịu trách nhiệm chính đối với những vấn đề kiến thức, nhân cách và lý tưởng sống của học sinh, sinh viên - những chủ nhân tương lai của đất nước. Điều đó không hoàn toàn đúng. Nhà trường chỉ là một trong "ba thế giới" - gia đình, nhà trường và xã hội - có tầm quan trọng như nhau để tạo ra một sản phẩm người như chúng ta mong đợi. Khi một trong ba thế giới đó bị lỗi thì sẽ dẫn đến lỗi trong sản phẩm người.

Thế giới đầu tiên tôi muốn nói đến là gia đình. Đó là thế giới mà một con người vừa sinh ra đã được chứng kiến bằng cả sự vô thức của mình. Với những đặc điểm của đời sống xã hội và văn hoá Việt Nam, từ lúc sinh ra cho đến lúc bước vào lớp 1 của bậc tiểu học là khoảng thời gian mà con người đó chủ yếu sống trong thế giới gia đình. Đó là giai đoạn vô cùng quan trọng.


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Loi-nen-GD-bai-1-1.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Loi-nen-GD-bai-1-1.jpg)
Gia đình là thế giới đầu tiên của một con người

Chúng ta vẫn thường ví tâm hồn con người ở giai đoạn này là một tờ giấy trắng. Vì vậy, đời sống gia đình chính là nơi sẽ viết những dòng đầu tiên vào tờ giấy trắng tâm hồn ấy. Bởi thế, những giá trị nhân văn trong đời sống gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đặt nền móng đầu tiên để hình thành nhân cách con người đó. Trong giai đoạn này, sự thiếu thốn vật chất có thể ảnh hưởng ở mức độ nào đó với việc phát triển thể lực. Nhưng sự thiếu thốn tinh thần sẽ ảnh hưởng một cách hệ trọng đến việc hình thành nhân cách và tâm hồn sau này của con người đó.

Có thể nói, gia đình là "người" được chọn lựa một cách tự nhiên để gieo những hạt giống đầu tiên của Cái đẹp vào tâm hồn một đứa trẻ. Việc gieo những hạt giống này được thể hiện qua hai hình thức: Ngôn ngữ và hành động của những người lớn trong thế giới gia đình. Cho dù ở lứa tuổi này, sự nhận thức của một đứa trẻ đối với những thông điệp trong ngôn ngữ và trong hành động từ người lớn là vô cùng hạn chế thì sự liên tục của ngôn ngữ và hành động ấy vẫn tạo ra một môi trường bao phủ gần như toàn bộ sự thức dậy và lớn lên của tâm hồn trẻ nhỏ.

Người Việt Nam có câu: "Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà". Câu nói đó không có nghĩa quy toàn bộ trách nhiệm dạy dỗ đứa trẻ cho hai người đàn bà quan trọng này trong gia đình. Mà có nghĩa, sự ảnh hưởng quan trọng của những người hàng ngày trực tiếp gần gũi nhất với việc nuôi dạy tâm hồn đứa trẻ. Vì lâu nay, việc chăm sóc đứa trẻ chủ yếu là công việc của hai người đàn bà đó trong gia đình. Nhưng với câu nói đó, cần hiểu là tất cả mọi thành viên trong gia đình có mối giao tiếp ngày ngày với đứa trẻ đều có ảnh hưởng tới đứa trẻ tuy ở những mức độ khác nhau.

Những lời nói thô tục, ích kỷ, hằn học, vô cảm...cùng những hành xử thiếu sự chia sẻ, yêu thương, tôn trọng giữa những người lớn trong gia đình với nhau hoặc với người hàng xóm và ngược lại, sẽ đi vào tâm hồn của trẻ nhỏ trực tiếp hoặc gián tiếp.

Theo kết quả điều tra xã hội học ở nhiều nước trên thế giới thì những đứa trẻ có vấn đề như tự kỷ, trầm cảm, bỏ học, sống ích kỷ, quan hệ tình dục sớm, tham gia vào các tệ nạn xã hội, phạm tội... chủ yếu là những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong những gia đình có một đời sống tinh thần nghèo nàn, bất hạnh.

"Nghèo nàn" nuôi dưỡng "nghèo nàn"

Một đời sống tinh thần nghèo nàn chính là nguy cơ lớn nhất hiện nay đang lan rộng vào các gia đình Việt Nam. Những đứa trẻ không còn được uống dòng sữa của những lời ru, những câu chuyện cổ tích, những thì thầm yêu thương...nữa. Người lớn đã không làm điều đó và đang dần quên điều đó.

Hơn nữa, người lớn đã mở mắt về một phía khác. Họ chăm sóc phần thân xác của con cái một cách quá mức. Với họ, mục đích sống là nhanh chóng và bằng mọi cách tạo dựng một đời sống vật chất cho dù là để cho con cái họ mà lại bỏ quên việc tạo dựng một đời sống tinh thần cho chúng.

Đấy là sai lầm nghiêm trọng của họ trong việc GD con cái. Và khi con cái họ rơi vào một đời sống tồi tệ thì họ không thể hiểu vì sao lại thế. Họ tự tin rằng họ đã làm hết sức mình cho con cái. Đúng vậy. Nhưng họ đã làm ở một phía khác, cái phía mà vô tình họ đã đẩy con cái mỗi lúc một đến gần hơn miệng vực của đời sống thực dụng này.

Chúng ta hãy tự hỏi và hãy trả lời thật trung thực: Mỗi ngày, một đứa trẻ sẽ nghe được bao nhiêu lời yêu thương hay những điều đẹp đẽ trong ngôi nhà của nó? Ngay cả khi một đứa trẻ chưa biết đi hoặc chưa biết nói thì mọi ô cửa tâm hồn của nó lúc nào cũng mở ra đến đón nhận tất cả những gì đang hiển hiện và chuyển động quanh nó. Thực tế, tâm hồn của đứa trẻ đã được hình thành từ khi nó chỉ là một bào thai trong bụng mẹ. Và như thế, nó đón nhận rất nhiều điều để nuôi dưỡng tâm hồn từ phía đời sống mà nó chưa chính thức gia nhập.


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Loi-nen-GD-bai-1-3.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Loi-nen-GD-bai-1-3.jpg)
Quá nhiều sữa và vật chất nhưng lại quá ít những lời ru, những câu chuyện cổ tích...


Nhưng hiện thực nói rằng: Câu chuyện mà không ít những đứa trẻ nghe được từ khi nằm trong nôi cho đến khi cắp sách tới trường ngày đầu tiên chỉ là những câu chuyện "vật chất hóa" của người lớn. Những câu chuyện đó từng tí một, từng tí một gieo vào những đứa trẻ lòng tham muốn đầy thói sở hữu, hưởng lạc và chiếm đoạt chứ không phải một giấc mơ ngập tràn ánh sáng nhân văn.

Không phải tất cả người lớn chỉ chăm chắm vào mục đích tạo dựng một đời sống vật chất mà là họ đã không nhận thức được ý nghĩa quan trọng của đời sống tinh thần trong việc GD con cái.

Hơn nữa, chúng ta không hề có một chiến lược trợ giúp những kỹ năng cho người lớn trong việc nuôi dưỡng con cái.

"Sống" cho người lớn nhưng lại bị bỏ rơi

Hiện thực cũng nói rằng: Quá nhiều gia đình cha mẹ chỉ nói chuyện với con cái về những vấn đề của họ chứ không phải của những đứa trẻ. Đó là những yêu cầu của người lớn đối với một đứa trẻ phải thực hiện cho họ chứ không phải cho chúng.

Người lớn yêu cầu đứa trẻ phải đi ngủ đúng giờ, phải ăn những thứ mà người lớn muốn, phải học thêm các môn, phải biết nói tiếng Anh hoặc Pháp, phải đạt học sinh giỏi, phải biết chơi piano, phải vào được trường chuyên...

Những yêu cầu đó luôn luôn giống như những mệnh lệnh đầy áp lực. Và để thực hiện được những yêu cầu đầy tính ham muốn đó của người lớn, đứa trẻ phải sống một cuộc sống "khổ sai" và đơn điệu. Đó không phải là những lắng nghe, những chia sẻ, những gợi mở, những khuyến khích, những dẫn dắt...của những người trải nghiệm.

Và những đứa trẻ vẫn sống đủ thời gian của tuổi thơ cho mỗi đời người nhưng bản chất của tuổi thơ đó lại bị đánh cắp. Các nghiên cứu khoa học trên thế giới từ trước đến nay đều đi đến kết luận: Một đứa trẻ không sống đủ và đúng với bản chất của tuổi ấu thơ sẽ thường trở thành một người có tâm hồn khiếm khuyết hoặc méo mó.

Những chuyện mưu kế, chuyện ăn chia, chuyện tranh giành, chuyện tư thù, chuyện bất mãn...ngoài xã hội đến những cãi cọ, trách móc, những tranh giành, những mắng nhiếc, ngờ vực...giữa những thành viên người lớn trong gia đình hoặc giữa những thành viên ấy với các quan hệ xã hội bên ngoài của họ đều trở thành những ám ảnh tồi tệ và giá lạnh, gián tiếp vây bọc đứa trẻ.

Tôi đã từng nghe một đứa trẻ lên 7 kêu lên: "Bố mẹ suốt ngày chỉ nói chuyện tiền". Hoặc một đứa em nói với đứa anh: "Hôm nay bố chửi ông nội đấy, anh ạ". Khi một đứa trẻ ngày ngày phải nghe chuyện đồng tiền thì đến một lúc nào đó đồng tiền sẽ trở thành mối quan tâm của chính nó một cách vô thức. Và khi một đứa trẻ thường xuyên phải nghe những lời nói "hỗn xược" của bố hay mẹ nó với ông hoặc bà của nó thì đến một lúc nào đó nó sẽ "hỗn xược" với một người hơn tuổi mà không thấy sợ hãi.

Sai lầm này bắt nguồn từ hai nguyên nhân cơ bản. Thứ nhất, hầu hết các bậc cha mẹ và những người lớn trong gia đình không nhận thức được tính hệ trọng trong việc GD thẩm mỹ cho trẻ nhỏ và chính họ không được truyền dạy phương pháp GD một đứa trẻ. Thứ hai, người lớn không nhận thức được ý nghĩa đích thực của hạnh phúc con người mà ngược lại chính họ đã và đang bị chủ nghĩa vật chất kích động và thống trị.

Có bao nhiêu người mỗi ngày có một chương trình cụ thể để dành riêng cho những đứa trẻ như: Kể một câu chuyện xúc động, đọc cho chúng nghe một cuốn sách hay, đặt những câu hỏi về cái đẹp và lòng tốt cho chúng, gợi mở trí tưởng tượng của trẻ nhỏ, tạo mối quan hệ giữa chúng với những thành viên khác trong gia đình cũng như mối quan hệ giữa chúng với các đồ vật, các vật nuôi và thiên nhiên quanh ngôi nhà của chúng?

Hiện thực đời sống trong nhiều gia đình Việt Nam chứng thực rằng: Có quá ít những gia đình làm được điều đó cho những đứa trẻ. Những đứa trẻ, nhìn một cách công bằng và sâu sắc, là những kẻ bị bỏ rơi trong chính ngôi nhà của mình. Hầu hết những con đường trong những cảm nhận tơ non đầu đời và trong trí tưởng tượng của chúng đã bị bịt lối.

http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Loi-nen-GD-bai-1-4.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Loi-nen-GD-bai-1-4.jpg)
Suốt ngày sống trong "ngôn ngữ" của tiền, một đứa trẻ lớn lên sẽ thế nào. Ảnh minh họa


Người lớn thường kêu lên với những đứa trẻ về sự chìm ngập của họ trong hàng núi công việc. Nhưng người lớn đã không nhận ra những đứa trẻ cũng phải gánh vác một khối lượng công việc như những trái núi khổng lồ. Chúng phải giã từ bản chất của tuổi ấu thơ để thực hiện quá nhiều "đơn đặt hàng" ép buộc của người lớn.

Trong khi đó, một không gian mỹ học thật vô cùng khó tìm thấy trong hầu hết các ngôi nhà chúng ta kể cả những ngôi nhà của những người có điều kiệt rất tốt để tạo nên không gian đó. Không gian mỹ học này là tất cả những gì tạo nên những vẻ đẹp từ màu sắc, hình khối, âm thanh. Trong đó có nét mặt, giọng nói và các động tác khác của con người.

Bây giờ, mỗi gia đình Việt Nam thử làm thống kê về những gì họ nói và hành động một ngày trong gia đình họ thử xem. Qua khảo sát và quan sát một cách tự nhiên trong rất nhiều năm nay, tôi thấy ngôn ngữ và những hành động chủ yếu của các thành viên người lớn diễn ra trước mắt những đứa trẻ trong ngôi nhà của họ hầu hết lại không thuộc về một đời sống tinh thần. Tâm hồn và nhân cách của những đứa trẻ sẽ như thế nào khi được hình thành trong một thế giới như thế? Và những khiếm khuyết, méo mó trong tâm hồn của một con người cũng bắt đầu từ những điều đó.

Nguồn: VietNamNET (http://tuanvietnam.net/2010-07-21-thuc-trang-ba-the-gioi-va-loi-cua-mot-nen-giao-duc)

nbc
28/07/10, 06:10 PM
Hiểu dân chủ lúc..."xế chiều"

Tác giả: Hiệu Minh
Bài đã được xuất bản.: 26/07/2010 06:00 GMT+7

Muốn có xã hội công bằng, văn minh thì tâm thức của mỗi cá nhân phải được dạy, được hiểu và biết về dân chủ, từ thầy cô, đến bố mẹ, rồi đứa trẻ và cả xã hội. Chẳng có vị lãnh đạo tối cao nào tuyên bố mang lại điều thiêng liêng ấy cho một dân tộc, để rồi sau một đêm, cả quốc gia ấy trở thành dân chủ. Đó là quá trình "mang nặng đẻ đau" hàng thế kỷ.

LTS: Khái niệm "Dân chủ - công bằng - văn minh", là một trong những quan điểm trong Chiến lược phát triển được nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (khóa X) mới đây. Đó không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí câu chữ, mà chính là sự thay đổi quan trọng về nhận thức lãnh đạo.Tuy nhiên từ nhận thức đến thực tiễn triển khai bao giờ cũng là khoảng cách lớn, cần những kiến giải, những giải pháp cụ thể, xuất phát từ trí tuệ và lòng nhiệt tâm với vận mệnh dân tộc, để cho dân chủ thực sự là động lực kích thích sự sáng tạo của mỗi cá nhân, cộng hưởng thành sự phát triển của đất nước.

"Ngõ cụt" ngôn ngữ vì nỗi sợ ám ảnh...

Thử tưởng tượng, bạn là người Việt thuộc lớp người "ngũ thập tri thiên mệnh", lứa tuổi 50 thông suốt chân lý của tạo hoá, hiểu được mệnh trời.

Nhưng có người muốn làm một thăm dò đơn giản. Đi dự hội thảo, khi diễn giả dứt lời và hỏi "Quí vị có câu hỏi hay phát biểu gì không?"

Bao nhiêu người dám đứng lên? Giả sử hội nghị mang tầm khu vực hay quốc tế, liệu có cánh tay Việt nào giơ lên? Người nhà ta chọn hàng ghế đầu để đối mặt với diễn giả, phản hồi trực diện bằng cả ngôn từ lẫn ánh mắt, hay chọn chỗ khuất phía cuối để ngủ vì đang bị...trái giờ?

Hiểu được mệnh trời nhưng liệu có dám nói về những điều mình thông suốt chân lý, dù biết rằng, diễn giả trên kia nói đôi điều không lọt tai.

Nhiều người tâm sự rằng, rất muốn phát biểu. Nhưng khi đứng lên, lời lẽ bay đi đâu hết cả, đầu óc trống rỗng. Người ta bỗng rơi vào khủng hoảng từ ngữ, từ từ ngồi xuống, đỏ mặt và xấu hổ.


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Hieu-dan-chu-2.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Hieu-dan-chu-2.jpg)
Cơ nguyên nào mang đến "ngõ cụt" trong ngôn từ khi hội nhập?


Trong khi đó, rất đông thính giả muốn thiết tha nghe phe ta nói. Họ ít thấy dân tộc này "nói vo" ở những diễn đàn quan trọng. Nếu có, chỉ là những bài đã viết sẵn, thuộc lòng, không sai một dấu phảy. Cơ nguyên nào mang đến "ngõ cụt" trong ngôn từ khi hội nhập? Dù nhiều diễn đàn quốc tế hết sức thoải mái, mỗi ý kiến không hề bị kết luận "đúng hay sai", mà "đó là một ý kiến". Phải chăng vì sợ sai, chúng ta không dám nói? Không đủ tự tin trước đám đông, sợ bạn cười, sợ cấp trên mắng và sợ cả bản thân mình.
Về khách sạn nằm nghĩ mới nhận ra, mình đã được giáo dục dân chủ là thế nào đâu. Nếu được học, đó là kiểu "thầy đọc- trò ghi": "Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó nhân dân làm chủ, đảng lãnh đạo, chính phủ thực hiện" và cứ thế về nhà nhai lại y nguyên mà chả hiểu gì.
Ra thế giới bên ngoài, bỗng thấy mình được thoải mái nói năng thì đã quá muộn. Đứng trên bục thực hành "văn minh toàn cầu" ở tuổi ..."xế chiều", khi nhịp tim có vấn đề và não trạng không còn minh mẫn. Nói vài dòng cũng phải giở "phao" trong túi ngực.

Chuyện trên tưởng nhỏ nhưng cũng làm cho không ít quốc gia lỡ chuyến tầu của nhân loại.

Dân chủ "trắng- đen"

Người da đen ở Mỹ hiện được hưởng sự công bằng hơn so với thế kỷ trước không phải do người da trắng văn minh, có học thức và nghĩ cần có công bằng xã hội. Chắng có người da trắng hay tổng thống nào lại rộng lòng làm việc đó. Sự dân chủ giữa hai chủng tộc trắng- đen này do đấu tranh mà có, máu đã đổ và đổ rất nhiều để phân chia quyền lực.

Tại Mỹ cách đây 60-70 năm, ở một số bang, dân da đen lên xe bus được ngồi từ ghế cuối xe và dân da trắng ngồi ghế gần tài xế. Cứ thế, từ hai đầu và đuôi xe, hành khách đen trắng được từ từ lấp hết chỗ.
Đến khi đầy xe, nếu có một người da trắng lên thì một người da đen ở chỗ giáp ranh giữa hai màu da phải đứng lên nhường chỗ cho người da trắng kia và anh da đen phải đứng. Lần lượt, những người da trắng được ưu tiên ngồi và da đen phải đứng nếu còn khách lên. Người tài xế có thể quyết định người da đen nào đứng lên để nhường chỗ.

Thời đó, dân da trắng luôn là ưu tiên số một trong cửa hàng ăn, trong mua sắm và được chiếm chỗ trên xe khách.

Chuyện xe bus "đen- trắng" chỉ kết thúc khi cô thư ký da đen Rosa Parks nhất định không nhường chỗ. Rosa bị bắt và đưa ra tòa, bị phạt 10$ và nộp án phí 4$ (giá năm 1955).

Tuy nhiên, hiện tượng Rosa trở thành một phong trào phản kháng lan rộng trong người da đen. Luther King được lựa chọn làm chủ tịch cho phong trào phản đối nạn xe bus "phân biệt chủng tộc", người da đen cương quyết không nhường chỗ. Cuối cùng, tòa án phán quyết việc phân biệt đối xử như trên vi phạm pháp luật.

Người da đen được giải phóng với nhiều quyền lợi hơn, công bằng hơn, dù một kẻ căm thù dân chủ đến điên khùng đã giết chết thủ lĩnh Luther King vào năm 1968.

Nhưng những gì mà Rosa và Luther King để lại đã giúp cho nước Mỹ được cảnh tỉnh về nạn phân biệt màu da đáng xấu hổ. Vì thế, hôm nay có Tổng thống da đen Barack Obama đang lãnh đạo thế giới tại Nhà Trắng.

http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage308209-12533-Hieu-dan-chu-5.JPG (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage308209-12533-Hieu-dan-chu-5.JPG)


Dân chủ từ tâm thức và giáo dục

Hỏi vài đồng nghiệp phương Tây khoảng 30-40 tuổi rằng, tại sao họ tự tin trước đám đông, không ngần ngại bầy tỏ chính kiến. Câu trả lời khá rõ, quốc gia họ được tận hưởng nền giáo dục "dân chủ, tự do" tại gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội ngay khi con người còn ấu thơ.

Thăm nhiều lớp học phổ thông ở phương Tây người ta hay gặp những câu đại loại như "Không có ý kiến đúng, không có ý kiến sai, chỉ có ý kiến của bạn, của tôi và của chúng ta". Tại sao vậy? Vì họ muốn thế hệ trẻ mạnh dạn bày tỏ chính kiến mà không sợ sai. Sự tự tin giúp cho não trạng tiếp thu thế nào là dân chủ, công bằng và xác lập bản ngã cá nhân từ rất sớm, cũng là khởi thủy của sự sáng tạo.

Cô cháu sống ở khu Ba Đình viết email kể: Khi Hà Nội chớm thu, lá rụng đầy đường Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Trần Phú, đẹp vô cùng. Người mẹ thường cho con trai ra nghịch lá. Cậu thích lắm, hất tung lá lên không, rồi nằm lăn ra đất.

Hỏi cu cậu lớn lên con thích làm gì. Cu cậu trả lời hết sức bất ngờ "'Con sẽ làm người quét lá".

Điều gì xảy ra nếu người mẹ trẻ mắng đứa con "ngu" rồi bắt con trở thành bác sỹ. Rất có thể khi đi máy bay chẳng hạn, cu cậu còn dám muốn thành phi công hay không. Sự không tôn trọng "ý kiến cá nhân" của người mẹ có thể phá hỏng tương lai của chính đứa con mình.

Muốn có xã hội công bằng, văn minh thì tâm thức của mỗi cá nhân phải được dạy, được hiểu và biết về dân chủ, từ thầy cô, đến bố mẹ, rồi đứa trẻ và cả xã hội. Chẳng có vị lãnh đạo tối cao nào tuyên bố mang lại điều thiêng liêng ấy cho một dân tộc, để rồi sau một đêm, cả quốc gia ấy trở thành dân chủ. Đó là quá trình "mang nặng đẻ đau" hàng thế kỷ.

Dân chủ và văn minh

Tại sao các nước văn minh thường có những luật lệ chặt chẽ về bảo vệ quyền con người, bình đẳng giới, và kể cả quyền trẻ em. Đó là vì họ không thể nói suông về dân chủ mà cần có pháp luật đảm bảo và thực thi mọi nơi mọi chỗ.

Người ta cấm đánh trẻ vì không muốn chúng bị người lớn áp đặt. Muốn chúng nghe lời, bố mẹ phải "đàm phán" cho tới khi hai bên đi đến "thỏa thuận". Đó là mầm mống cho dân chủ, công bằng xã hội và được pháp luật bảo vệ ngay từ lúc một sinh linh ra đời.

Nước ta từ thời 1945 là "Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa"- đó không phải là khái niệm mới.

Gần đây, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói "Đại hội XI của Đảng phải làm sao đạt mục tiêu chung là lựa chọn, giới thiệu và bầu được những người không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn, có tư duy đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, có năng lực tham gia vào việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; có đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; đoàn kết và có khả năng quy tụ sự đoàn kết, có uy tín cao trong Đảng và trong nhân dân".
Một việc có thể làm ngay mà không phải du nhập từ đâu để tìm ra người lãnh đạo không tham nhũng. Đó là người được lựa chọn vào trung ương, vào chức vụ cao, cần qua những phép thử của dư luận.
Obama khi tranh cử Tổng thống phải khai thu nhập cá nhân, kể cả hồ sơ sức khỏe, cho 350 triệu người Mỹ biết, với tình trạng tim mạch như thế, liệu chân có run khi nói trước hàng triệu người?


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Hieu-dan-chu-7.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/Hieu-dan-chu-7.jpg)
Muốn có xã hội công bằng, văn minh thì tâm thức của mỗi cá nhân phải được dạy, được hiểu và biết về dân chủ. Ảnh minh họa


Ai muốn lên lãnh đạo cần công khai minh bạch toàn bộ tài sản của mình, từ tài khoản nhà băng, xe cộ, nhà cửa, đất đai. Việc đó nên làm trước mỗi cuộc bầu bán. Ứng viên cần thông báo rõ trên trang web. Việt Nam có tới 20 triệu người dùng internet, đủ để phủ sóng dư luận tới 86 triệu dân. Nếu cho rằng lý lịch hay tài sản các ứng viên thuộc vào bí mật quốc gia, dân không có quyền được "biết, bàn, làm, kiểm tra", đợi yên vị rồi mới công bố tên tuổi thì dân chủ lúc đó e rằng chỉ có thể trên lời nói, sẽ không được người dân tâm phục, khẩu phục.

Nó cũng tương tự như người ở tuổi tri thiên mệnh, hiểu ra nền văn minh nhân loại thế kỷ 21 vào tuổi xế chiều, để rồi gà gật ngủ lúc trái giờ, chẳng kịp nhìn bánh xe con tầu hội nhập lăn đi.

Nguồn: tuanvietnam.net (http://tuanvietnam.net/2010-07-24-hieu-dan-chu-luc-xe-chieu-)

nbc
01/08/10, 09:29 AM
Đừng xóa sổ chùa của tổ tiên


GS Trần Lâm Biền là một trong những nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam, luôn tâm sức cho công cuộc bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá dân gian, tín ngưỡng tôn giáo như: Phật giáo và văn hoá dân tộc; Một con đường tiếp cận lịch sử, Diễn biến kiến trúc truyền thống của người Việt; Chùa Việt; Đồ thờ trong di tích của người Việt.

Nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật

Theo ông, đạo Phật và những ngôi chùa có vị trí như thế nào trong đời sống người Việt?

Đối với người Việt, đạo Phật rất được tôn trọng. Trong tôn giáo tín ngưỡng người Việt, chính đạo Mẫu bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ. Chỉ cách đây 2.000 năm đạo Phật mới tới từ phương Nam và nhanh chóng được tiếp nhận vì nó phù hợp với tinh thần của người Việt lúc đó. Sự xâm lược, quấy nhiễu của phương Bắc đã đi kèm theo việc người phương Bắc đưa đạo Nho, đạo Lão vào để dùng hệ tư tưởng ấy thống trị người Việt. Người Việt đã dùng đạo Phật như một sự đối trọng.

Đó là quá khứ. Còn hiện tại thì sao?

Gần đây, một số kẻ đã lợi dụng và biến đổi đạo Phật đi nhiều. Do vậy mà ứng xử với đạo Phật của một bộ phận người không đi vào bản chất tốt đẹp sâu xa của đạo. Bộ phận này vì không hiểu đến nơi đến chốn đạo Phật đã nhập vào chùa nhiều thứ không phải Phật. Nhiều khi những thứ đó còn gắn với mê tín dị đoan. Người ta đang sống phần nào vội vã, tuỳ tiện xây dựng lại nhiều ngôi chùa không theo truyền thống. Đạo Phật dạy con người đi tìm sự đơn sơ nhưng thuộc về bản chất tốt đẹp nhất.

Bái Đính - Sự khoe mẽ một cách thái quá

Nghe ông nói tôi mới nhớ, gần đây chùa Bái Đính nằm trong một quần thể du lịch ở Ninh Bình dù chưa hoàn thành nhưng đã giữ nhiều kỉ lục lớn nhất Đông Nam á: tượng Phật bằng đồng; chuông, 500 bức tượng La Hán...

Không nên gọi cái chùa mới xây đó là chùa Bái Đính. Chùa Bái Đính là ngôi chùa cũ. Nếu gọi cái mới xây đó là chùa Bái Đính là hoàn toàn xoá sổ chùa của tổ tiên đấy.

Ngôi chùa mới đó có một thứ lố bịch. Trong kiến trúc ba tầng mái, như chúng ta thấy kiến trúc ba tầng mái của chùa Bút Pháp có tháp Cửu phẩm liên hoa - là nơi thế giới của người chết. Nhưng chùa Bái Đính mới ấy lại có cái gọi là tam quan - ba tầng mái ở ngoài, khiến người ta đến với cái chết trước khi đến với Phật. Điều đó không chấp nhận được. Toà nhà ba tầng mái có nhiều ý nghĩa lắm, thường nó phải nằm ở phía sau như ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Sổ (Thanh Oai). Cái chùa Bái Đính mới ấy là phi văn hóa phật giáo truyền thống và mặt nào đó nó có tính khoe mẽ.


http://bee.net.vn/dataimages/201007/original/images422971_T14_tro.jpg (http://bee.net.vn/dataimages/201007/original/images422971_T14_tro.jpg)
Giá trị của ngôi chùa cổ truyền thống thực sự không nằm ở vật chất mà ở chỗ khác.


Phi văn hóa phật giáo truyền thống và có tính khoe mẽ! Ông có thể mở mang kiến thức cho tôi về điều này không?

Những ngôi chùa được xây to lớn nhiều khi nó có tính áp chế khiến con người khi bước vào ngôi chùa tâm hồn của mình bị “ngợp” bởi sự hoành tráng, hình thức làm người ta nhẹ cái tâm đi. Đứng trước ngôi chùa quá to lớn như Bái Đính mới thì con người cảm thấy tâm hồn của mình bị teo đi, bé nhỏ trước áp lực tinh thần nào đó.
Người ta không thấy được bản chất hoà vào thiên nhiên, hoà vào vũ trụ, hoà với thế gian của bản thân họ nữa mà chỉ còn tính quy phục mà thôi. Tính chất ấy không đúng với tinh thần của người Việt. Xu hướng xây dựng những ngôi chùa to lớn là khó có thể chấp nhận được trên dòng chảy truyền thống.

Chùa Bái Đính mới dù chưa hoàn thành nhưng khách tham quan đã đến rất đông trong một hai năm gần đây. Phải chăng vì ngôi chùa đó phù hợp với "văn hóa hiện đại"?

Khách tham quan thì cứ tham quan. Chúng ta không thể trách họ được. Chiến tranh đi qua đã tạo ra sự hụt hẫng về mặt tinh thần. Do vậy có nơi nào đó để giải toả tâm hồn là người ta sẽ đến. Người ta đến Bái Đính mới là "để xem", "để ngợi ca" sự to lớn về cái gì đó rất đời thường chứ không phải thờ đạo. Khi nào sự hiểu biết về đạo trong du khách được nâng cao thì vai trò của chùa Bái Đính mới sẽ tàn phai.
Người Việt Nam không chấp nhận sự to lớn, sự khoe mẽ một cách thái quá đâu! Người Việt đi sâu vào cái tâm. Sự vĩ đại của nó là ở cái tâm thánh thiện chứ không phải hình thức. Có thể hiện tại cái hình thức đang làm mờ cái tâm nhưng khi cái trí của mỗi người phát triển cao hơn thì họ sẽ nhận ra đó là sai lầm.

Khi biết thì sự đã rồi

Nhưng hiện nay không phải chỉ ở Ninh Bình xây chùa mới Bái Đính mà đã có rất nhiều nơi, nhiều địa phương tổ chức xây chùa mới?


Không ai cấm xây dựng những ngôi chùa mới nhưng đừng đem những ngôi chùa lớn vào đất của chùa cũ. Bởi chùa cũ là tiếng nói của tổ tiên. Đi vào tín ngưỡng chúng ta phải đi theo truyền thống, phải Việt Nam. Đừng để những ngôi chùa kiến trúc mới Tây không phải Tây, Tàu không Tàu. Một số ngôi chùa hiện đại đã được làm một cách tuỳ ý không theo kiến trúc truyền thống.
Một ngôi chùa hay đền, đình phải đạt chuẩn thông tam giới. Mái tượng trưng cho tầng trời. Đất - thân của nó là nơi thần và người tiếp cận, cần được thông nhau. Vì thế nền đất phải để mộc. Nếu có lát phải để những mạch rộng hoặc dùng gạch bát thấm nước để thông âm dương.
Những nơi đặt ban thờ thì gầm ban thờ lộ đất... để âm dương không bị cách trở. Nhưng nay thì người ta lát hết, thậm chí lát cả gạch men hoa. Họ tưởng là sang trọng nhưng họ không hiểu việc đó đã tạo nên sự ngăn cách âm dương không đi theo dòng truyền thống.

Vậy vì sao lại nhất định phải giữ lại những ngôi chùa cũ bé nhỏ và xuống cấp?

Giá trị của ngôi chùa cổ truyền thống thực sự không nằm ở vật chất mà ở chỗ khác. Đó là những di sản văn hoá cho chúng ta thấy tộc người chủ thể đi đến đâu để dấu tích lại tới đó. Điều đó quan trọng như thế nào? Chính những di sản văn hoá của tổ tiên để lại cho biết bước phát triển của cộng đồng dân tộc đi dần tới thống nhất như ngày nay một cách cực kỳ rõ ràng.
Thế mà nay cứ phá cái cũ đi để xây những cái mới lên thì còn gì để chúng ta chứng minh những điều ấy. Dù nó tàn phai thì vẫn để đấy vì nó vẫn đang nói với chúng ta những thì thầm của tổ tiên.

Nhưng thực tế xu hướng xây chùa mới to lớn, khang trang đang khá phổ biến?

Đó là một cảnh báo về hiện tượng phá hoại truyền thống văn hoá dân tộc. Đúng hơn là phá hoại bản sắc làm méo mó tâm hồn dân tộc. Một dân tộc có thiện tâm vô cùng cao nay lại chỉ quan tâm đến hình thức. Tôi xin nhắc lại là xây dựng chùa cao to mấy cũng được nhưng hãy để ra ngoài không gian kiến trúc của tổ tiên đã làm.

Phải chăng việc xây dựng những ngôi chùa mới nằm ngoài sự quản lý của ngành văn hoá?

Có thể ngành văn hoá cũng không biết đến điều ấy. Đến khi biết thì sự đã rồi.

Vâng. Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị mà ông đã dành cho độc giả của KH&ĐS.



"Người dân đi lễ chùa để công đức nhà chùa. Nhưng không ít nhiều tiền dùng sự công đức để thao túng việc xây dựng. Xã hội chỉ có thể tốt đẹp khi đạt trình độ "phú quý sinh lễ nghĩa" chứ hiện nay mới chỉ đạt mức "no hơi ấm cật dậm dật chân tay"; vì kiến thức chưa đạt được đến mức hiểu biết lễ nghĩa…nên nó đã đẻ ra những kiến trúc trọc phú vô học, nhìn vào sự vô học lại tưởng là sự đẹp đẽ vì không có kiến thức. "

Nguồn: Beenet (http://bee.net.vn/channel/1988/201007/GSTS-Tran-Lam-Bie-Dung-xoa-so-chua-cua-to-tien-1760453/)

nbc
24/08/10, 11:23 PM
Hiện tượng Ngô Bảo Châu: "Thông minh" hay "trí khôn"?


Tác giả: Phạm Toàn
Bài đã được xuất bản.: 23/08/2010 06:00 GMT+7

Một hệ thống giáo dục mà cứ bắt buộc ai ai cũng có kiến thức như nhau và ai ai cũng chỉ có một con đường đi thi vào đại học, là một hệ thống cho thấy các tác giả của nó còn thiếu một thứ trí khôn nào đấy.

LTS: Sự kiện Giáo sư Ngô Bảo Châu được trao tặng Giải thưởng toán học Fields danh giá làm xới nên biết bao cách nhìn nhận lý giải con đường đi, sự thành công và sự thăng hoa của anh trong toán học, một lĩnh vực khoa học khó nhọc. Một điều thú vị, tuổi thơ, GS Ngô Bảo Châu là học sinh của Trường tiểu học Thực nghiệm Giảng Võ (Hà Nội) do GS Hồ Ngọc Đại chủ xướng. Nhân dịp này, Tuần Việt Nam trân trọng đăng bài viết của nhà văn - nhà giáo Phạm Toàn về một vấn đề thú vị: "Thông minh" và "trí khôn", đưa ra mấy gợi ý có thể giúp bạn đọc hiểu thêm sự quan trọng cực kỳ của phương pháp giáo dục

Trí khôn: Được dạy dỗ hay tổ chức hoạt động?

Có người hỏi "con ngỗng vì sao nổi?". Ông hay chữ đáp "đa mao thiểu nhục tắc phù" (lắm lông ít thịt thì nổi). Người hỏi vặc lại "thế cái thuyền không lông không thịt sao cũng nổi?" Liền hỏi "cái hòn đá kia sao nứt làm đôi?" Ông hay chữ đáp "phi thiên đả tắc nhân đả" (không Giời đánh thì Người đập làm nó nên nỗi ấy". Người hỏi lại vặc tiếp "thế cái ... ? (Truyện dân gian)

Có hai khái niệm cần được hiểu thật đúng thì mới ứng dụng được vào công cuộc giáo dục: "Thông minh" và "trí khôn".

Khái niệm thông minh là một tính từ, tiếng Anh và tiếng Pháp có khái niệm tương đương diễn đạt là intelligent. Khái niệm trí khôn là một danh từ, tiếng Anh và tiếng Pháp có khái niệm tương đương diễn đạt là wisdom.

Nếu không tìm ra phương pháp khảo sát hai khái niệm này, một người làm cả đời, nhiều người làm nhiều đời cũng không xuể - lý do thật đơn giản: loài người thoát khỏi trạng thái động vật để thành người là cả một quá trình dài dặc tự làm ra trí khôn cho chính mình. Thành tích đó được sách vở ghi lại đã nhiều, mà các quan niệm đối lập nhau cũng lắm.

Chính vì thế, cần giới hạn phương pháp khảo sát, chọn lựa giữa hai cách hiểu - một cách, con người được dạy dỗ để trở nên thông minh, để có trí khôn, hay là một cách nữa, con người được tổ chức hoạt động để tự tạo ra trí khôn cho mình.

http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/tri-khon-thong-minh-2.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/tri-khon-thong-minh-2.jpg)
Cần hiểu đúng hai khái niệm trí khôn và thông minh


Trong trường hợp thứ nhất, việc dạy dỗ có thể có kết quả, thậm chí kết quả rất cao, nhưng kết quả không diễn ra với đông đảo dân chúng - mà chính vì thế, trong một thời gian dài, cả xã hội mới có quan niệm như thông minh vốn sẵn tư trời. Và sự thất vọng mang tính bi kịch thường xảy ra ngay cả với các "hổ phụ", khi các bác đó không sinh ra hổ tử mà lại sinh... "cẩu tử". Được cái người dân bao giờ cũng khôn ngoan (bây giờ, người ta hay gọi là "minh triết") tìm cách an ủi nhau trước những thất bại không sao lý giải nổi: Thôi mà, ai giàu ba họ ai khó ba đời, đau khổ mà làm gì, thua keo này bày keo khác, học tài thi phận ấy mà ...

Còn trong trường hợp thứ hai ...

Ba chân kiềng: Jean Piaget - Hồ Ngọc Đại - Howard Gardner

Để đi tới cách xử lý với vấn đề thông minh hoặc trí khôn theo con đường tổ chức cho con người tự tạo ra trí khôn của mình, ta cần kiên nhẫn hơn để tìm hiểu về cách thức làm việc đó.

Con đường nghiên cứu đó được tiến hành một cách tâm lý học, và nếu tổng kết theo nhận thức của người viết bài này, nghĩ rằng cái tam giác nhận thức luận tạo ra bởi ba tác giả tiêu biểu sau đây hẳn có thể có ích cho các nhà sư phạm (và cả các quan chức quen dạy dỗ thần dân):


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/tri-khon-thong-minh-7.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/tri-khon-thong-minh-7.jpg)


Xin phép được diễn giải. Tâm lý học manh nha từ lâu, thậm chí từ thượng cổ, nhưng nó chưa bao giờ thành một khoa học. Chỉ vì muốn thành một môn khoa học, phải xác định được đối tượng nghiên cứu, thậm chí tìm được đơn vị nghiên cứu nhỏ nhất, và kết quả nghiên cứu phải kiểm chứng được - nhà khai sáng Immanuel Kant còn thách thức thêm: Phải toán học hóa được. May sao, đến thế kỷ thứ 19, Wilhem Wundt nhà sinh lý học Đức đã tiến hành những thực nghiệm sinh lý học người (đo những phản ứng sinh lý của người trước nóng, lạnh, nặng, nhẹ, nhanh, chậm, vv...) có sự tham gia của người chịu thực nghiệm - và đó chính là bước đi đầu tiên để tâm lý học thành bộ môn thực nghiệm, để trở thành bộ môn khoa học.

Sau Wundt, bác sĩ Alfred Binet người Pháp bắt đầu đo nghiệm trẻ em độ tuổi đi học và nhà tâm lý Mỹ ông Edward Thorndike tiến hành đo nghiệm rộng rãi trên động vật để tìm ra quy luật tâm lý học của huấn luyện và học tập và đến năm 1910 Thorndike đã có thể công bố bài báo hết sức quan trọng về Sự đóng góp của tâm lý học cho giáo dục.

Cuộc hành trình nghiên cứu tâm lý học từ châu Âu cuối thế kỷ 19 qua châu Mỹ để kiểm nghiệm trên diện rộng theo lối "công nghiệp", rồi lại đã quay trở lại châu Âu trong những tổng kết của Jean Piaget hồi đầu thế kỷ 20. Trong công trình tâm lý học của Piaget có cả lý thuyết và thực nghiệm. Phần lý thuyết là con đường phát triển nhận thức một cách tự nhiên của con người từ khi lọt lòng.

Lý thuyết đó cho thấy học tức là tự học của chủ thể - kể từ việc học bằng bú, mút, sờ, nhai, cắn, ngửi... rồi toét miệng cười... cho đến những thao tác học tập phát triển từ những thao tác cụ thể (học và nhận thức bằng "mó máy") đến những thao tác trừu tượng (tạo ra biểu trưng và dùng biểu trưng).


http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage255191-12794-tri-khon-thong-minh-5.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage255191-12794-tri-khon-thong-minh-5.jpg)
GS. Hồ Ngọc Đại


Piaget đã mở trường thực nghiệm mang tên Jean-Jacques Rousseau, ông đã cho chính ba đứa con của mình vào học trường này - để thực nghiệm sự tác động chủ động của nhà sư phạm vào các giai đoạn phát triển - thực nghiệm tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh các bộ môn trong giáo dục nhà trường. Một cách làm được Albert Einstein khen là "giản dị như một thiên tài"! Đó là lý do chọn Piaget như một đỉnh của chân kiềng lý thuyết tâm lý học giáo dục hiện đại. Bây giờ ta sang chân kiềng thứ hai với đại diện - theo dự kiến của người viết - là Giáo sư Hồ Ngọc Đại.

Phải đặt Hồ Ngọc Đại vào hệ thống tâm lý học Xô Viết. Cần nói về hệ thống này và Hồ Ngọc Đại trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Cũng cần thấy, ngay cả sau khi rời Liên Xô về nước và sau khi Liên bang này sụp đổ, thì Hồ Ngọc Đại vẫn là người thuộc trường phái tâm lý học Xô Viết.

Cái tương tác quan trọng nhất giữa Hồ Ngọc Đại và trường tâm lý học này diễn ra trong bối cảnh trường thực nghiệm giáo dục phổ thông các lớp đầu cấp ở Moskva. Tại đây, khác với ở Trường thực nghiệm Jean-Jacques Rousseau của Piaget, thành tựu to lớn nhất của người Nga là sự dũng cảm tổ chức cho trẻ em chiếm lĩnh các khái niệm khoa học. Trên tư cách đó, bằng những thành tích dạy trẻ em 6-7 tuổi người Nga chiếm lĩnh toán học hiện đại, qua cả những tổng kết lý thuyết của ông, Hồ Ngọc Đại đáng được coi là người thuộc thế hệ nhà tâm lý học Xô Viết trẻ tuổi.

Tại Việt Nam, hoạt động tâm lý học giáo dục của Hồ Ngọc Đại được triển khai cả trong phòng thí nghiệm lẫn trên diện rộng, điều chưa từng có ở tất cả các thế hệ nhà tâm lý học trường phái Nga hoặc Xô-Viết. Thành tựu tâm lý học giáo dục của Hồ Ngọc Đại ở Việt Nam từ năm 1978 tới đầu thế kỷ 21 khi hệ thống Công nghệ Giáo dục đang triển khai của ông bị yêu cầu dừng hoạt động. Thành tựu do Hồ Ngọc Đại tạo ra không phải là số lượng học sinh thực nghiệm ở 43 tỉnh và thành phố trong cả nước. Cái đáng giá nhất của nó nằm ở chỗ khác: Nó đã đưa ra được một định nghĩa mới cho vấn đề vẫn gọi bằng lý thuyết.
Xưa nay, khi nghĩ tới lý thuyết, người ta thường nghĩ đến những con người chững chạc ăn nói ề à, khi viết văn thì chốc chốc lại có câu chú thích sách kinh điển - và người ta gọi đó là "lý thuyết" cùng "nhà lý luận".

Bây giờ, với cách làm việc mới như đã được Hồ Ngọc Đại triển khai, lý thuyết được quan niệm lại: Đó là một định hướng từ khi bắt tay vào việc với sự hình dung kết quả cuối cùng và kết quả này được tạo ra trong suốt quá trình hoạt động được đảm bảo bằng những thiết kế khoa học - khách quan - để mở cho khả năng điều chỉnh. Cái định hướng lý thuyết như thế của Hồ Ngọc Đại là sự tìm tòi vào cách học (thậm chí CÔNG NGHỆ HỌC) của trẻ em diễn ra trong suốt quá trình TỰ HỌC của các em, được dắt dẫn bởi những bản thiết kế được tạo ra một cách khoa học, được thực thi một cách khách quan, và được điều chỉnh thường xuyên (thông qua những "thửa ruộng mẫu" -- demonstration plot -- hay là các trường thực nghiệm) cho phù hợp với thực tại bao giờ cũng năng động.

Và bây giờ ta sang chân kiềng thứ ba có tên tuổi đại diện là Howard Gardner.

Ông là tác giả của một định hướng lý thuyết có tên là lý thuyết trí khôn nhiều thành phần (Theory of Multiple Intelligences, viết tắt là MI). Định hướng này công nhận các thành tựu tâm lý học giáo dục đã hình thành, trừ một nhược điểm to lớn của chúng: Tính chất "tinh hoa - bác học" trong cách nhìn nhận trẻ em.

Thực vậy, lý thuyết MI phản đối cách "đo nghiệm" trẻ em chỉ bằng những câu hỏi và nhận được những câu trả lời bằng cây bút chì và tờ giấy trắng - đặc biệt coi trọng đưa lên ngôi Vương cho trí khôn toán học. Lý thuyết MI cho rằng trí khôn con người phong phú hơn thế rất nhiều, và cũng uyển chuyển hơn thế rất nhiều.

http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage283283-12794-tri-khon-thong-minh-4.jpg (http://tuanvietnam.net/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage283283-12794-tri-khon-thong-minh-4.jpg)
Sơ đồ 7 loại trí khôn của Howard Gardner


Theo H. Gardner, và quan điểm này đã được tất cả các nền giáo dục nào muốn dân chủ hóa đến tận gốc rễ nhận thức của người học, con người ta có ít nhất 7 thành phần trí khôn, có người có đủ cả 7 thành phần, nhưng không nhất thiết ai ai cũng cứ phải có đủ các thành phần đó thì mới "khôn". Bảy thành phần đó là: Trí khôn ngôn ngữ, trí khôn lôgich-toán, trí khôn âm nhạc, trí khôn không gian, trí khôn cơ thể ở dạng động, trí khôn cá nhân hướng nội, và trí khôn cá nhân hướng ngoại. Quan điểm này của Gardner về trí khôn người làm đảo lộn quan niệm về nhà trường vì cho rằng có những khi trí khôn con người được hình thành ngay cả bên ngoài nhà trường nữa. Quan điểm này đặc biệt ủng hộ sự đa dạng hóa nhà trường không dựa trên giàu nghèo và địa vị xã hội, mà dựa trên việc tổ chức một cách phù hợp nhất năng lực tự nhận thức của người học.

Ngô Bảo Châu: "Thông minh" và "trí khôn"

Bạn sẽ hỏi: như trường hợp Giáo sư Ngô Bảo Châu, thì đó là "thông minh" hay đó là "trí khôn"?

Theo cách hiểu nào, ta cũng vẫn cứ có một Ngô Bảo Châu thông minh. Nhưng theo một cách nhìn khác đi về trí khôn - và cái này phải hỏi chính Ngô Bảo Châu thôi - rất có thể vị GS trẻ trung đó sẽ "phiến diện" về một thành phần trí khôn nào đó: Ta có quyền nghi ngờ Ngô Bảo Châu không làm xiếc giỏi như Marcel Marceau chẳng hạn, nghĩa là có thể thiếu cái trí khôn cơ thể ở dạng động... Biết đâu đấy?

Suy luận kéo theo nhận xét vừa rồi có thể như sau: Một hệ thống giáo dục mà cứ bắt buộc ai ai cũng có kiến thức như nhau và ai ai cũng chỉ có một con đường đi thi vào đại học, là một hệ thống cho thấy các tác giả của nó còn thiếu một thứ trí khôn nào đấy. Trí khôn cá nhân hướng nội và hướng ngoại chẳng hạn.

Là cứ đoán thế, biết đâu là chừng?!


Nguồn: TuanVietNamNET (http://tuanvietnam.net/2010-08-21-ngo-bao-chau-thong-minh-hay-tri-khon-)

nbc
16/09/10, 10:30 PM
Giả sử phương Tây lại cấm vận Trung Quốc lần nữa (http://boxitvn.blogspot.com/2010/09/gia-su-phuong-tay-lai-cam-van-trung.html)


Dương Danh Dy tóm lược

Sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Trung Quốc bị một số nước phương Tây chủ yếu cấm vận về nhiều mặt như hạn chế tiếp xúc chính trị, buôn bán, đầu tư … Sau một thời gian, hầu hết mọi cấm vận đã được xóa bỏ, nhưng đến nay một số lĩnh vực như kỹ thuật cao, hàng quân sự… vẫn còn là khu cấm.

Không biết vì lý do gì mà một người Trung Quốc giấu tên (chỉ ghi bút danh là Thần Bản bố y xyj) nhưng tỏ ra khá quen thuộc với nhiều nhân vật có trách nhiệm trong những ngành sản xuất, quản lý có liên quan của Trung Quốc đã đề cập tới vấn đề nói trên.

Dưới đây là phần tóm lược.

Giả sử vì các vấn đề như: Đài Loan, Triều Tiên, Ấn Độ, Nam Hải (Biển Đông), Đảo Điếu Ngư (Senkakư), Tô Nhan tiêu (Suyan istal), Mông Cổ, Tây Tạng, v.v. mà quan hệ với phương Tây xấu đi, hãy thử tưởng tượng xem tình hình sẽ ra sao khi phương Tây lại một lần nữa cấm vận Trung Quốc.

(Sau khi Mã Anh Cửu nhận chức, Quốc dân đảng ở Đài Loan tuyên bố sẽ không đòi Đài Loan độc lập. Cơ hội tốt nhất của đại lục chỉ là 4 năm, vì khóa tới chưa biết Quốc dân đảng có thắng cử hay không và do đó chưa biết tình hình Đài Loan sẽ ra sao, cho nên nêu giả thiết về vấn đề Đài Loan là cần thiết).

Có 16 tình trạng sau:

1. Sau 3 năm, mọi máy bay hàng không dân dụng Trung Quốc sẽ phải ngừng bay vì không còn phụ tùng thay thế, cả nước chỉ còn một loại máy bay kiểu “Yun-7” (Vận-7) sản xuất trong nước có thể bay thương mại nhưng động cơ máy bay phải nhập khẩu.

2. Sau 3 năm, mọi tuyến đường sắt tốc độ cao Trung Quốc đều phải ngừng chạy, vì toàn bộ bánh xe lửa chạy tốc độ cao và phần mềm hệ thống khống chế điện đều phải nhập khẩu, Trung Quốc chưa thể sản xuất trong nước (Hà Hoa Vũ, Tổng công trình sư Bộ Đường sắt Trung Quốc, Tạ Duy Đạt, Giáo sư Trường Đại học Đồng Tế, v.v.).

3. Toàn bộ ngành sản xuất ôtô du lịch Trung Quốc đều phải ngừng sản xuất, bởi vì Trung Quốc chưa thể sản xuất được các chi tiết của động cơ ô tô như hệ thống khống chế điện, hệ thống điện khống chế phun dầu, vòng găng (séc măng piston), hệ thống thay đổi tốc độ tự động, và hộp số, ngay cả thép tấm, bu lông dùng cho loại ô tô cao cấp cũng vậy.

4. Toàn bộ ngành sản xuất TV màu Trung Quốc sụp đổ. Mặc dù hiện nay Trung Quốc mỗi năm sản xuất được 86,6 triệu chiếc TV màu các loại, nhưng hệ thống mạch vi điện tử trong mỗi chiếc TV vẫn hoàn toàn phải dựa vào nhập khẩu (Thứ trưởng Bộ Công nghiệp tin tức Lại Cần Kiệm).

5. Toàn bộ ngành sản xuất điện thoại di động sụp đổ. Toàn bộ hệ thống mạch vi điện tử dùng trong điện thoại di động đều phải dựa vào nhập khẩu, năm 2006 riêng thị phần của mấy công ty điện thoại lớn như IT, CDMA, Motorola... chiếm tới 90% thị phần.

6. Toàn bộ ngành sản xuất màn hình lỏng sụp đổ vì 98% màn hình lỏng dựa vào nhập khẩu.

7. Giả sử phương Tây lại cấm vận Trung Quốc, chắc là Trung Quốc sẽ không xây dựng những tòa nhà cao tầng nữa, bởi vì sẽ không có thang máy đủ leo lên độ cao lớn. kỹ thuật và nghiên cứu phát triển ngành thang máy Trung Quốc hoàn toàn bị thương nhân nước ngoài khống chế, người Trung Quốc chỉ nhận trách nhiệm “lắp ráp”. Năm 2006, chỉ 13 doanh nghiệp nước ngoài đã nắm tới 80% thị phần thang máy.

8. Giả sử phương Tây lại cấm vận Trung Quốc, ngành công nghiệp đóng tàu Trung Quốc sẽ sụp đổ toàn diện vì có tới 60% những thứ trên một con tàu là phải nhập khẩu, chỉ có đóng vỏ và lắp toàn bộ là ở Trung Quốc thôi.

9. Giả sử phương Tây lại cấm vận Trung Quốc lần nữa, Trung Quốc sẽ không sản xuất nổi một chiếc máy giặt, một chiếc tủ lạnh bởi vì hệ thống mạng điện dùng cho hai loại máy này Trung Quốc hoàn toàn chưa thể sản xuất được.

10. Giả sử phương Tây lại cấm vận Trung Quốc lần nữa, ngành sản xuất đồ chơi Trung Quốc sẽ hoàn toàn sụp đổ, bởi vì các hệ thống vi mạch dùng cho đồ chơi, Trung Quốc cũng chưa sản xuất được.

11. Giả sứ phưong Tây lại cấm vận Trung Quốc, ngành máy móc công trình Trung Quốc cũng sẽ sụp đổ toàn diện. Theo thống kê của Hội Máy móc công trình tỉnh Hồ Nam, thì tiền nhập khẩu phụ tùng cho các loại máy công trình của tỉnh này chiếm 40% giá thành, năm 2006 xuất khẩu được 500 triệu USD thì tiền nhập khấu phụ tùng chi tiết máy mất 300 triệu USD.

12. Ngành sản xuất điện chạy bằng sức gió Trung Quốc sẽ sụp đổ toàn diện vì toàn bộ kỹ thuật then chốt của ngành này đều do nước ngoài nắm và những chi tiết máy then chốt phần lớn vẫn phải nhập khẩu.

13. Qua lần động đất ở Tứ Xuyên, thấy xuất hiện nhiều máy bay trực thăng với nhiều kiểu dáng, nhưng hầu nhu toàn bộ là hàng nhập của Nga, Mỹ, Pháp... trong nước có loại “Zhi-8” (Trực-8) nhưng chỉ là chế tạo phỏng theo kiểu “Siêu ong vàng” của Pháp, còn loại “Zhi-9” (Trực-9) thì vẫn phải nhập khẩu kỹ thuật của Pháp.

14. Các máy công cụ khống chế bằng số và dao cắt gọt. Từ năm 2002, Trung Quốc trở thành nước dùng nhiều máy công cụ các loại lớn nhất thế giới và nước nhập khẩu các loại máy này lớn nhất thế giới. Năm 2005, Trung Quốc nhập khẩu các loại máy công cụ cao cấp hết 5,2 tỷ USD, năm 2006 tăng lên 6,4 tỷ USD. Những máy công cụ sản xuất trong nước và các loại dao cắt gọt phần lớn vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu (80%). (Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học kỹ thuật Trung Hoa Viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc Lý Bồi Căn).

15. Các thiết bị then chốt dùng cho điện hạt nhân, thiết bị chế tạo các mạch vi điện tử, thiết bị y tế dùng hạt nhân, thiết bị kỹ thuật cốt lõi của ngành hoá dầu, v.v. Trung Quốc còn hoàn toàn chưa chế tạo được. Có một số người nói rằng khả năng phỏng chế (bắt chước chế tạo) của Trung Quốc rất mạnh, nhưng những cái kỹ thuật cao thì không thể phỏng chế được, ví dụ như màn tinh thể lỏng, mạch vi điện tử, động cơ máy bay… không thể phỏng chế nổi công nghệ, cách xử lý vật liệu, phương pháp gia công, v.v.

16. Giả sử phương Tây lại cấm vận, toàn bộ ngành sản xuất mô tô Trung Quốc sẽ sụp đổ bởi vì những phụ tùng then chốt vẫn phải nhập khẩu.

Tác giả bài viết nói thêm: “Thưa các vị, tôi biết những điều tôi viết đã làm tổn thương sâu sắc tới lòng tự tôn yếu đuối của các vị, trước tiên xin đừng vội phản đối, tôi nói là sự thực.
Sự thực là các máy tính điện tử mà các vị đang sử dụng hiện nay có tới 99,99999% sử dụng mạch vi điện tử nước ngoài….”

huyphan
29/09/10, 07:10 AM
Người Việt có thông minh không?

Tác giả: MINH DŨNG


Người Việt thường vận dụng trí tuệ của mình vào trong những hành vi ứng xử tạo nên những tiểu xảo trong cuộc sống, trong giao tiếp. Chính sự lanh lẹ, tinh ranh, tiểu tiết trong ứng xử tác động ngay trực tiếp tới người khác đã làm nổi bật cái gọi là "thông minh" của người Việt.

LTS: Người Việt có thông minh không? Đây là tiêu đề bài viết của cộng tác viên Minh Dũng gửi đến cho Tuần Việt Nam. Nhận thấy đây là chủ đề thú vị, tôn trọng tính thông tin đa chiều, và để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin đăng tải bài viết, và mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi, thảo luận của quý bạn đọc về chủ đề này.

Xưa nay, người ta thường dùng khái niệm "văn hóa tiểu nông" để chỉ thứ văn hóa sản sinh bởi một xã hội sản xuất nông nghiệp, mạnh mún, mang tính tự cung tự cấp, ít tính liên kết và sản xuất chuyên sâu với trình độ phân công lao động thấp. Sản phầm của nền sản xuất tiểu nông ít được thị trường hóa. Văn hóa tiểu nông khiến con người luôn ở thế thủ, chỉ lo cho lợi ích bản thân và trước mắt, ít dám nghĩ chuyện lâu dài, và cũng ít có khả năng nghĩ chuyện lâu dài. Nền sản xuất tiểu nông luôn lặp lại và duy trì những quy trình có sẵn đã hạn chế tư duy tìm tòi khám phá của con người.

Thông minh hay tinh ranh tiểu tiết?

"Sự thông minh" của người Việt Nam tưởng chừng chẳng có liên quan gì tới thứ văn hóa tiểu nông. Văn hóa tiểu nông tưởng như vô hại đối với tính thông minh hay không thông minh của người Việt. Nhưng ở đây, bằng những nghiên cứu phân tích xã hội học, người ta đã lột tả rất rõ sợi dây liên kết này.

Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về sự thông minh của người Việt. Và có nhiều ý kiến đánh giá rằng: Người Việt thông minh với nghĩa so sánh tương đối với các chủng tộc trên thế giới.

Chúng ta luôn thừa nhận câu cửa miệng "người Việt thông minh". Nhưng dường như chưa mấy ai đặt phạm trù thông minh của người Việt trong bối cảnh nền văn hóa, tâm lý và tập quán của cộng đồng xã hội người Việt, nên nhận diện về "sự thông minh ấy" còn phiến diện và không mang tính thuyết phục. Người Việt thông minh là vậy, thế tại sao ít có viễn kiến, ít có phát minh sáng chế, ít có nhà tư tưởng mang tầm cỡ nhân loại... Tại sao và tại sao?

Người Việt có thông minh không? Khách quan mà nói, giống người Việt không đến nỗi ngu độn (!). Có rất nhiều học sinh Việt Nam rất giỏi tại các trường danh tiếng thế giới. Những cuộc thi quốc tế về toán, lý hóa... thường đoạt giải cao. Nhưng để kết luận là thông minh (thông minh hơn so với các chủng tộc khác) thì phải so sánh. Hãy so sánh trí thông minh của người Việt với người Nhật, người Hàn, người Trung Quốc, người Ấn Độ, người Trung Đông, người Do Thái, người châu Âu, số người chiếm tới 80% dân số thế giới.

Nếu nói "người Việt thông minh" có nghĩa trí tuệ người Việt là thượng đỉnh trong số 80% dân số địa cầu. Không, chẳng đời nào lại như vậy! Các nhà bác học lớn, những nhà tư tưởng vĩ đại đóng góp cho văn minh loài người mà người Việt ta là nhóm người đang được hưởng thụ đại đa số cũng chỉ nằm trong những giống người kể trên. Làm phép so sánh như thế, ai cũng tin rằng người Việt chẳng thể hơn ai về trí tuệ trên trái đất này.

Vấn đề nằm ở đâu? Vấn đề là nằm ở chỗ, người Việt thường vận dụng trí tuệ của mình vào trong những hành vi ứng xử tạo nên những tiểu xảo trong cuộc sống, trong giao tiếp. Chính sự lanh lẹ, tinh ranh, tiểu tiết trong ứng xử tác động ngay trực tiếp tới người khác đã làm nổi bật cái gọi là "thông minh" của người Việt. Sự tinh ranh, tiểu tiết trong ứng xử cuộc sống cũng là căn nguyên chính tạo nên những thói hư tật xấu như thói hay ganh ghét, đố kỵ, trở thành một trong những đặc trưng tính cách của người Việt "một anh làm thì tốt, ba anh cùng làm thì hỏng việc".


Người Việt thông minh là vậy, thế tại sao ít có viễn kiến, ít có phát minh sáng chế, ít có nhà tư tưởng mang tầm cỡ nhân loại...
http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/Nguoi-Viet-co-thong-minh-khong-2.jpgVí von khác: Người Việt rất giỏi về các môn "chọc gậy bánh xe", "qua cầu rút ván", "gắp lửa bỏ tay người", "ném đá giấu tay"... Tiểu xảo trong giao thiệp dễ để lại ấn tượng trong lòng người khác một cách vừa bất ngờ, vừa gây kích thích, vừa thú vị và có cả nể sợ. Chỉ thế thôi, tính chất thông minh đã được gắn với người Việt.

Người Đức nghĩ ra Mercedes và sản sinh ra Karmarl tại sao không gắn tính thông minh vào? Người Trung Quốc có nhân vật Khổng Minh và viết ra Tây Du Ký hết thế hệ người Việt này đến thế hệ khác xem không chán, sao cũng không được gắn mác thông minh nhỉ? Vậy theo tôi, thật nực cười khi chúng ta tự nhận người Việt là thông minh.

Việc đánh giá người Việt thông minh hoàn toàn chỉ là sự đánh giá cửa miệng, thiếu cơ sở nghiêm túc. Đối với người nước ngoài nói về người Việt thì thường chỉ là lời khen "đãi môi". Còn ai, người Việt nào tin và tôn sùng điều đó thì đó là kẻ ảo tưởng trầm trọng. Chưa có một công trình hay sự thừa nhận khoa học nào về nhân chủng học khẳng định tính thông minh nổi bật của dòng giống Việt.

Trí thông minh người Việt - sản phẩm của "văn hóa tiểu nông"

Người Việt rất ít khi dùng trí tụệ dành cho việc đi sâu khám phá. Bản chất vấn đề là thứ mà người Việt ít hướng tới, biến nó trở thành xa xỉ phẩm. Nên người Việt chẳng có mấy lý thuyết chuyên sâu, ít có sáng tạo phát minh cho nhân loại, không có mấy nhà tư tưởng. Nền khoa học của người Việt cũng chỉ toàn là thứ sao chép, lắp ráp, bắt chước do người khác làm nền tảng.

Người Việt rất ít khi dùng trí tuệ dành cho việc đi sâu khám phá. Bản chất vấn đề là thứ mà người Việt ít hướng tới, biến nó trở thành xa xỉ phẩm. Nên người Việt chẳng có mấy lý thuyết chuyên sâu, ít có sáng tạo phát minh cho nhân loại, không có mấy nhà tư tưởng. Nền khoa học của người Việt cũng chỉ toàn là thứ sao chép, lắp ráp, bắt chước do người khác làm nền tảng.
Những điều suy nghĩ chủ yếu của người Việt đối với cộng đồng thường không hướng vào lợi ích chung mà thường xuyên vận dụng để mưu cầu lợi ích riêng, để phù hợp với mục tiêu cá nhân, mang tính trước mắt. "Tính cộng đồng" mà nhiều người đánh giá là cao của người Việt thực chất là sự tri giác đối với xung quanh, một mặt để hạn chế sự khác biệt tức hạn chế sự phê phán, đánh giá của xã hội đối với bản thân (để đồng dạng).

Đồng thời người ta luôn tìm cách ứng xử để tạo vỏ bọc hình ảnh đẹp đẽ, giải tỏa thói sĩ diện huênh hoang cho chính mình. Cũng chính nó trở lại là thủ phạm của thói nhút nhát, tự ti khi cảm thấy mình yếu kém hơn xung quanh hoặc chưa chứng minh được mình hơn người.

Như vậy, trí tuệ của người Việt trở thành nô lệ của sự đánh giá, nó không hạn chế để phát triển lợi ích riêng có và rất hạn hẹp trong việc mở mang lợi ích chung. Người Việt chúng ta luôn tâm niệm với cái thiết thực nhất, trực tiếp nhất và là lợi ích trước mắt, những điều lớn lao, cao cả đối với cộng đồng là việc của người khác. Tâm lý "ôm rơm nặng bụng", "ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng" theo góc độ quan tâm tới vấn đề chung đã làm thiệt thòi cho lợi ích cộng đồng.
http://www.tuanvietnam.net/assets/Uploads/Nguoi-Viet-co-thong-minh-khong.jpg

Trí thông minh người Việt- sản phẩm của "văn hóa tiểu nông". Ảnh minh họa
Thiên hướng chú trọng sử dụng trí tuệ vào mặt này mà không tập trung vào mặt khác của đời sống xã hội không phải tự trí tuệ, mà được quyết định bởi nền văn hóa, thói quen, tâm lý của xã hội. Thứ văn hóa, tâm lý, thói quen tạo nên việc tập trung sử dụng trí tuệ vào một mặt nhất định của đời sống xã hội hay nói cách khác là thiên hướng sử dụng trí tuệ của người Việt như những điều đã phân tích ở trên chính là do "văn hóa tiểu nông". Đây là thứ văn hóa lạc hậu, sai lệch, trì trệ, là thứ di sản văn hóa bệnh dịch, khó có thể gột rửa được ngay nhưng cần có ý thức để gột rửa.

"Văn hóa tiểu nông" tạo nên một nếp sống bừa bãi, tùy tiện của người Việt (văn hóa sống, văn hóa ứng xử). Nhiễm "văn hóa tiểu nông", con người sẽ thiếu sự tôn trọng xung quanh (bao gồm tất tần tật từ người cho đến vật)- tất cả những thứ mà họ cảm thấy không liên quan trực tiếp tới mình. Vì vậy, nó là thủ phạm của sự thờ ơ với lợi ích cộng đồng, cũng là nguyên nhân của tính cách đố kỵ, tham lam, bè nhóm, thiển cận, cục bộ...

Vậy là ngoài việc tìm ra thủ phạm tạo ra cái mác "thông minh" háo danh của người Việt, ta cũng đã tìm ra một trong những thủ phạm cản trở sự thăng tiến của dân tộc Việt Nam nằm trong lĩnh vực văn hóa, đó là "văn hóa tiểu nông".
Nguồn: tuanvietnam_Vietnamnet

nbc
04/11/10, 08:13 AM
Không thể giao Hà Nội cho... "những con cáo" tư vấn


Tác giả: Khánh Linh

3 năm trước, tôi ở TPHCM. Có một cửa hàng Gucci rất lớn mới khai trương. Rồi một khoảnh khắc, tôi nhìn vào khung cửa sổ rất lớn của cửa hàng với hình ảnh quảng cáo khổng lồ một phụ nữ hiện đại, giàu có, nhưng trong đó tôi lại nhìn thấy sự phản chiếu một phụ nữ Việt Nam bán rong nhỏ bé, đội nón lúp xúp. Đó là thời điểm tôi bừng tỉnh.


LTS: Giữ được bản sắc cho những công trình kiến trúc đã khó, giữ bản sắc của một thành phố còn "vất vả" hơn rất nhiều. Hà Nội với những thế mạnh về văn hóa, lịch sử, liệu có đang đánh mất mình khi phát triển? GS Michael Douglass (Trung tâm Nghiên cứu toàn cầu hóa, ĐH tổng hợp Hawaii, Mỹ) là người luôn "cổ súy" cho mục tiêu xây dựng những thành phố sống tốt, thay vì quá chú trọng đến phát triển kinh tế. Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với GS sau Hội thảo quốc tế "Hà Nội thiên niên kỷ - thành phố quá khứ và tương lai".

Trở thành tài sản riêng của ai đó?

- GS có quan tâm đến Đề án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 và những thảo luận xung quanh đó không?

- Tôi rất quan tâm chứ. Tôi cho rằng tương lai của Hà Nội phải thuộc về những người HN, và bản quy hoạch đang được làm kia phải phản ánh tiếng nói của họ. Nhưng tôi cảm thấy thực tế của bản đồ án này không phải như vậy. Đồ án quy hoạch đã không phản ánh được văn hóa và lịch sử giàu có của thành phố, và có rất nhiều vấn đề còn tồn tại về giao thông, môi trường... cho đến việc giữ bản sắc của thành phố.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Douglass.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Douglass.jpg)
GS Michael Douglass. Nguồn: Website ĐHTH Hawaii


Bản thân tôi không chống lại những công trình hiện đại bằng sắt, thép, kính, nhưng phải cân bằng. Siêu thị cũng tốt thôi, nhưng còn chợ thì sao, tại sao không giữ cả hai? Tại sao ta không có thêm cả công viên dành cho công chúng và những phòng tập tiện nghi hay những resort cho những người giàu có? Dường như các bạn đang biến nhiều không gian công cộng thành không gian riêng cho một nhóm người.
Mối lo lắng của tôi là tầm nhìn của ai, tiếng nói của ai đang được phản ánh trong đồ án quy hoạch? Còn chính quyền ở đâu, khi chính những đường phố, những tòa nhà cũng trở thành tài sản riêng của ai đó? Bạn có thể vào trong, nhưng chẳng thể làm gì ở đó, vì nó không phải của bạn. Trong khi chính chợ, công viên cũng như hè phố ở Hà Nội... mới là không gian để con người trò chuyện, chia sẻ, cả với những người quen và người không quen.
Một vấn đề nữa là công bằng xã hội, dường như ở Hà Nội bây giờ thì người giàu có tất cả, còn những người nghèo mất đất, mất cơ hội, mất nguồn sống. Mọi người đều phải được trao cơ hội để có cuộc sống tốt hơn, không thể chỉ tập trung cho những người giàu.

- GS đã có buổi seminar với chủ đề "Hà Nội - thành phố toàn cầu hay thành phố sống tốt". Phải chăng ý GS là Hà Nội đang theo xu hướng thành phố toàn cầu?

- Tôi không biết nhiều về HN như các bạn, nhưng ngược lại tôi nhìn thấy nhiều điều mà các bạn không nhìn thấy. Tôi không dám "bảo" ai đó phải làm gì, mà muốn mở ra những cuộc đối thoại, trao đổi để từ đó các bạn sẽ tìm thấy một tầm nhìn chung. Ở buổi seminar, tôi nhận ra mọi người đến đó đều rất quan tâm đến chủ đề, và đến phần thảo luận thì tôi không phải nói nhiều vì mọi người thay nhau nói rồi. Lẽ ra mỗi 6 tháng, chúng ta phải có một buổi trao đổi, thảo luận tập thể như vậy.

Những con gà sẽ bị ăn thịt

- Ý tưởng về một lựa chọn cho Hà Nội trong GS xuất phát từ khi nào?

- Ồ, một câu hỏi rất thú vị. Khi tôi đến đây lần đầu tiên, tôi nghĩ vấn đề của Hà Nội phải ở hướng ngược lại, thành phố có vẻ "đóng băng", không có nhiều sự phát triển. 10 năm phát triển đầu tiên là quãng thời gian phát triển tốt, mọi thứ thay đổi theo chiều hướng tốt lên, kể cả việc có một vài chung cư cao cấp, khách sạn sang trọng hay siêu thị chẳng hạn. Nhưng sẽ đến một điểm "ngưỡng", có lẽ từ khoảng 4, 5 năm trở lại đây, khi mọi thứ trở nên quá mức. Hà Nội giờ đây ngập tràn hình ảnh của các tập đoàn lớn, giống với bất cứ một thành phố nào.
3 năm trước, lúc đó tôi ở TPHCM. Có một cửa hàng Gucci rất lớn mới khai trương. Rồi một khoảnh khắc, tôi nhìn vào khung cửa sổ rất lớn của cửa hàng với hình ảnh quảng cáo khổng lồ một phụ nữ hiện đại, giàu có, nhưng trong đó tôi lại nhìn thấy sự phản chiếu một phụ nữ Việt Nam bán rong nhỏ bé, đội nón lúp xúp. Đúng thời điểm đó, tôi cảm thấy Việt Nam thu nhỏ lại, Đó là thời điểm tôi bừng tỉnh.

Và bây giờ là câu chuyện quy hoạch Hà Nội, khi mà công ty đang xây dựng những khu đô thị mới lại chính là công ty tư vấn thực hiện quy hoạch này. Đó là sự xung đột, sự đối lập lợi ích rất lớn, sẽ thiếu vắng sự khách quan. Điều này không được phép xảy ra.
Tôi đã từng nói đùa rằng "chúng ta không nhờ những con cáo canh giữ những con gà"

- Ồ, thế thì sẽ chẳng còn con gà nào cả?

- Đúng thế, chắc chắn những con cáo sẽ vui vẻ nhận lời, chỉ có điều những con gà sẽ bị ăn thịt.
Điều bạn cần biết là tại sao tất cả những công ty tư vấn đó lại nồng nhiệt đến Việt Nam trong bối cảnh suy giảm kinh tế này. Ví dụ với các công ty Hàn Quốc, bạn phải biết là ở Hàn Quốc có hơn 500.000 ngôi nhà và căn hộ đang bỏ không, chẳng có người ở. Các công ty đó chẳng có việc gì để làm ở Hàn Quốc, nên phải tìm việc ở nơi khác. Tình trạng đó cũng diễn ra với nhiều công ty của các quốc gia khác. Ở Mỹ cũng có hàng trăm, hàng ngàn trung tâm thương mại đang bị để không. Các bạn phải tỉnh táo với xu thế này.
Ở Việt Nam hiện tại có quá nhiều cơ hội cho các tập đoàn kinh tế kiếm được lợi nhuận khổng lồ. Chỉ cần mua đất nông nghiệp, rồi xây dựng đô thị trên đó. Chẳng phải làm gì nhiều, chỉ xây vài ngôi nhà hiện đại và bảo bạn bỏ tiền mua nó. Bạn tưởng đó là đầu tư nước ngoài, nhưng thật ra không phải, chính người Việt bỏ tiền mua những ngôi nhà đó đấy chứ?
Cũng do nhu cầu của chính người Việt Nam, ai cũng muốn bước chân vào tầng lớp trung lưu, và họ nghĩ họ sẽ làm được điều đó bằng cách mua một căn nhà ở khu đô thị kiểu Ciputra chẳng hạn? Một nghịch lý là tất cả những người bạn của tôi có nhà ở Ciputra đều không muốn sống ở đó, họ mua nhà để đầu tư thôi, nên tạo ra bong bóng bất động sản, "chẳng ai muốn, nhưng lại có vẻ như ai cũng muốn mua chúng". Một điểm khác biệt nữa của Việt Nam là các bạn có thể xin tiền của bố mẹ, anh chị... để mua một căn nhà rất sang trọng. Bạn sử dụng những mối quan hệ gia đình truyền thống theo cách không thể có ở các nước phương Tây.

20 năm nữa, mọi thứ sẽ biến mất?

- Theo GS, để trở thành một thành phố sống tốt, Hà Nội nhất định phải giữ được những nét đặc trưng gì?

- Trung tâm Nghiên cứu toàn cầu hóa của chúng tôi đã hỗ trợ tổ chức cuộc thi ảnh "Hà Nội - một không gian sống" vào năm ngoái. Đề tài của cuộc thi là người Hà Nội chụp ảnh thành phố của mình, chỉ có một quy định thôi: Không phải là ảnh cho khách du lịch, mà bức ảnh phải thật sự có ý nghĩa với người chụp.
Chúng tôi đã nhận được 1800 bức ảnh, và những bức đẹp nhất được tập hợp để xuất bản một cuốn sách. Khi tôi hỏi người bạn Hà Nội đã cùng chúng tôi tổ chức cuộc thi và làm cuốn sách này, rằng "ấn tượng sâu sắc nhất của cô với những bức ảnh là gì", cô ấy đã trả lời "trong 20 năm nữa, những thứ này sẽ biến mất". Bởi tất cả đều là những hình ảnh về đời sống văn hóa, đời sống xã hội rất đặc trưng của người Hà Nội, nhưng nếu không gian để diễn ra các hoạt động đó không còn thì chính các hoạt động cũng không thể còn.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Hanoi10001.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Hanoi10001.jpg)
Một trong những bức ảnh chụp Hà Nội của nhiếp ảnh gia người Canada Greg Girard trong cuốn sách ảnh "Tiếng gọi Hà Nội 1000 năm" mới phát hành. Ảnh: VnExpress


Như câu chuyện phố cổ chẳng hạn. Cái hồn của phố cổ không phải chỉ là những cửa hàng nhỏ, mà là bản thân những con phố công cộng và cuộc sống trên những con phố đó. Nhưng dường như bây giờ người ta lại muốn biến những con phố đó thành vô hồn khi không cho mọi người dừng chân, không ăn uống, không cả trò chuyện bằng việc không cho buôn bán trên hè phố. Nếu thế chỉ còn dừng xe, mua đồ và đi, còn gì là phố cổ nữa?

- Nghĩa là không nên có những siêu thị hiện đại?

- Tất nhiên sẽ có những không gian được tổ chức theo kiểu siêu thị hiện đại, nhưng không thể đánh mất nét văn hóa rất riêng kia. Nét hấp dẫn của Hà Nội chính là đời sống xã hội, là sự sinh động của những con phố.
Tôi muốn bạn chú ý đến một điểm rất đặc biệt nữa của Hà Nội. Trong những công viên công cộng ở đây, có rất nhiều sinh hoạt cộng đồng hoàn toàn mang tính tự phát, tại những không gian hoàn toàn mở, bất kỳ ai cũng có thể tham gia, không có chuyện phải đóng phí, hay chuyện "chúng tôi đã kín chỗ". Nếu bạn muốn, bạn có thể tham gia một vài ngày, rồi lại đi khỏi Hà Nội, và khi quay lại thì những hoạt động vẫn còn ở đó. Mỗi hôm lại có những người đến và đi như thế. Bạn có thể đóng chút tiền nhỏ, vì có người mang âm nhạc đến cho mọi người cùng tập thể dục chẳng hạn.
Tôi đã làm một cuốn phim về những hoạt động xã hội hoàn toàn tự phát này. Và ở cuối cuốn phim là hình ảnh một cụ bà trên 80 tuổi với nụ cười thật tươi với lời chào "xin mời bạn". Đó là công viên của chung, của tất cả mọi người. Ở nước chúng tôi cũng có công viên dành cho các hoạt động ngoài trời, nhưng mỗi nhóm sẽ chơi riêng, nhóm của tôi đã đăng ký chỗ này, còn mời bạn ra chỗ khác.
Các bạn hãy quý những điều các bạn đang có.

Đừng để chỉ "thắng" trong một vài trường hợp

- Nhưng dường như những điều chúng ta đang nói ở đây thì chỉ người dân hay các chuyên gia biết với nhau. Làm sao để tiếng nói của cộng đồng đến được với chính quyền, với những người sẽ ra quyết định lớn, ảnh hưởng đến "vận mệnh" của thành phố?

- Bạn quan tâm đến vấn đề ở quy mô nào. Nếu bạn muốn tạo dựng một cuộc sống tốt ở quy mô nhỏ, một cộng đồng nhỏ, một ngõ nhỏ thì chắc chắn không ai phản đối, thậm chí chính quyền còn ủng hộ. Nhưng bạn càng muốn thay đổi ở quy mô càng lớn thì càng khó. Luôn có ba lực lượng là: Chính quyền - khu vực tư nhân - và cộng đồng. Như trường hợp dừng dự án khách sạn trong công viên Thống Nhất, cộng đồng đã lên tiếng về điều mà họ muốn, rằng họ muốn công viên là của họ, và chính quyền đã lắng nghe.
Tôi nghĩ, điều Hà Nội đang cần là những tổ chức xã hội xuất hiện để xây dựng một tầm nhìn thật sự đại diện cho cộng đồng của Hà Nội. Bởi vấn đề hiện này là tầm nhìn về thành phố không phải do cộng đồng quyết định, mà do ai đó đó ép bạn, hoặc là chính quyền, nhiều khi chính là khu vực tư nhân. Sẽ rất tốt nếu mỗi 6 tháng chúng ta có những diễn đàn mở, nơi tất cả cùng trao đổi để tạo ra một tầm nhìn chung.
Trung tâm của chúng tôi trong vài năm vừa qua đã cố gắng để thay đổi sự quan tâm, từ việc quá chú trọng về kinh tế thành mục tiêu xây dựng "thành phố sống tốt". Trong đó, đời sống xã hội cũng quan trọng như vấn đề môi trường hay vấn đề giáo dục... vậy.

- Với trường hợp của công viên Thống Nhất, GS có thể thấy đã có rất nhiều nỗ lực từ nhiều giới, với sự tham gia mạnh mẽ của truyền thông, để có một kết thúc đẹp. Nhưng hiện nay vẫn có rất nhiều dự án lấn chiếm không gian công cộng, có thể ở quy mô nhỏ hơn...

- Các bạn có 3 lựa chọn: Có thể đồng ý, có thể không đồng ý, hoặc các bạn phải trình bày những điều các bạn muốn. Nếu bản thân cộng đồng chỉ giữ vai trò thụ động thì sẽ luôn là người phản đối, và các bạn sẽ cảm thấy kiệt sức. Bạn thắng trong một vài trường hợp, nhưng sẽ thua trong phần lớn trường hợp khác.
Nếu người Hà Nội không có cách để nói rõ các bạn muốn gì, mà chỉ phản đối cái người khác đưa ra, thì chắc chắn sẽ đến lúc mệt mỏi, và các bạn sẽ bỏ cuộc. Điều các bạn cần là phải có một thông điệp, một tầm nhìn thay thế. Sẽ phải có nhiều hơn những tổ chức xã hội quan tâm đến vấn đề này, để trình bày vấn đề mang tính xây dựng hơn với những người có trách nhiệm xây dựng chính sách.

- Xin cảm ơn GS.

Nguồn: VienNanNET

hotgirlcodon
05/11/10, 03:28 PM
(TNO) Một thợ lặn vừa tử nạn tại công trình cầu mới Nguyễn Văn Trỗi - Trần Thị Lý trong cọc nhồi ở độ sâu 32m dưới sông Hàn, TP Đà Nẵng.

Công an P.Mỹ An, Q.Ngũ Hành Sơn cho biết, lúc 11 giờ ngày 4.11, ông N.V.Đ (33 tuổi, quê quán Thọ Lộc, Thọ Xuân, Thanh Hóa; trú tại tổ 7, P.Hòa Khánh Nam, Q.Liên Chiểu, TP Đà Nẵng) nhận hợp đồng llặn trục vớt mũi khoan cọc nhồi của công trình cầu mới bắc qua sông Hàn, do mũi khoan cọc nhồi gặp đá cứng nên bị mắc kẹt dưới lòng sông, chi phí 2 lần lặn là 10 triệu đồng.

Khoảng 15 phút sau lần lặn đầu tiên, ông Đ. đã mang lên được một phần của mũi khoan, sau đó ông Đ. tiếp tục ngậm ống thở và lặn xuống.

Người cầm ống thở cho ông Đ. ở trên bờ là công nhân Lý Hào Tâm (37 tuổi, trú tổ 41 P.An Khê, Q.Thanh Khê, TP Đà Nẵng).

Theo Công an P.Mỹ An, ông Đ. lặn ở độ sâu 32m, khi không thấy tín hiệu của ông Đ, anh Lý Hào Tâm lặn xuống cứu thì ông Đ. đã chết.

Hiện vụ việc đang được cơ quan công an điều tra làm rõ.

http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201045/20101104165351.aspx

Dân trí) - Trưa ngày 4-11, tại công trình cầu Trần Thị Lý (TP Đà Nẵng) đã xảy ra vụ tại nạn lao động khiến công nhân Nguyễn Văn Đấu (sinh năm 1977) chết ngạt dưới sông Hàn.
Đến chiều tối ngày 4/11, lực lượng cứu hộ vẫn chưa đưa được thi thể nạn nhân lên bờ

Theo những người cùng làm việc với anh Đấu cho biết, vào thời điểm trên, anh Đấu lặn xuống sông Hàn vào trong ống vách công trình để móc cẩu gầu khoan ở độ sâu 32 mét và phải thực hiện hai lần móc. Lần đầu công việc suôn sẻ nhưng đến lần thứ hai, những công nhân đứng cầm dây hơi chờ mãi vẫn không thấy anh Đấu bơi lên. Một thợ lặn khác lặn xuống kiểm tra và phát hiện anh Đấu bị mắc kẹt trong ống vách dẫn đến chết ngạt. Đến chiều tối cùng ngày, lực lượng cứu hộ vẫn chưa đưa được thi thể nạn nhân lên bờ.

Lúc xảy ra tai nạn, mực nước ở sông Hàn đang dâng lên cao, thời tiết trở lạnh đột ngột.

Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ.

http://dantri.com.vn/c20/s20-434633/da-nang-tho-lan-chet-ngat-duoi-song-han.htm


Đây là vấn đề đặt ra trong an toàn lao động cũng như trong thi công các công trình cầu. Có cách xử lý nào hay hơn việc con người phải lặn xuống trực tiếp xử lý không nhỉ?

Hanoigio
08/11/10, 12:30 PM
Tại sao phải nhấn nút thank?

Sau khi đọc bài viết của mình thì hi vọng mọi người sẽ hiểu được ý nghĩa và lợi ích của động tác nhỏ này.
Thứ nhất: thể hiện tính lịch sự, lời cám ơn chân thành cho một bài viết hay, cũng là sự tôn trọng của người đọc đối với tác giả bài viết.
Thứ hai: Sau khi đọc xong bài viết hay, dù chỉ là một lời cảm ơn nhỏ thôi nhưng chính tác giả rất cảm động! Bởi đó là nguồn động viên cho họ cống hiến thêm nhiều hơn nữa cho diễn đàn những bài viết có giá trị. Đem đến cho hầu hết các độc giả những thông tin bổ ích mà họ chưa có được khi ngồi trên ghế nhà trường hay thực tế họ chưa "va vấp"
Vậy một lần nữa, tôi xin cám ơn diễn đàn, cám ơn các thầy cô, các đồng nghiệp và các bạn sinh viên đã có trang diễn đàn rất bổ ích!
(Xin cảm ơn quý vị và các bạn đã đọc bài viết của tôi!)

nbc
13/11/10, 09:41 AM
Người Việt: Thông minh thì không nói lời sáo rỗng


Tác giả: Nguyễn Điệp Hoa

Người giỏi không phải là người tích đầy kiến thức, họ là người tạo ra phương pháp, chỉ ra con đường, đi trước thời đại...

Chưa thật thông minh, lại thiếu kỹ năng

Nếu hiểu "thông minh" theo cách hiểu của một số tác giả đã viết trên diễn đàn Tuần Việt Nam, tôi cho rằng, người Việt không thông minh, hoặc ít thông minh. Đơn giản là nếu người Việt thông minh thì sao đất nước giờ vẫn vào loại chậm phát triển, vẫn còn nhiều người khổ thế này? Nếu người Việt thông minh sao mấy chục năm sau mới thừa nhận trường hợp ông Kim Ngọc?

Nếu người Việt thông minh sao không biết giữ gìn di sản văn hóa, mà lại giữ theo kiểu "xây lò gạch" như câu chuyện thành Tuyên? Nếu thông minh sao lại không công nhận công nghệ giáo dục của GS. TSKH Hồ Ngọc Đại? Nếu thông minh sao đến thế kỷ 21 vẫn "con trâu đi trước cái cày đi sau?...Còn biết bao câu "nếu" nữa, tôi xin để dành bạn đọc khác viết ra...

Nhưng thôi, bàn về trí thông minh thì cũng phải định nghĩa, trí thông mình là gì? Trong cuốn sách "7 loại hình trí thông minh", trên cơ sở phân tích những bằng chứng liên quan tới não và học thuyết về phân loại trí thông minh của TS. Howard Gardner, TS.Thomas Armstrong, tác giả cuốn sách, đã mô tả 7 loại hình trí thông minh của con người như sau:

1-Trí thông minh logic toán: Đây là loại trí thông minh liên quan tới con số (toán học) và mối quan hệ logic giữa các sự vật. Những người có trí thông minh này thường làm việc trong lĩnh vực liên quan tới con số (toán, vật lý, hóa học, ngân hàng, tài chính...)

2-Trí thông minh ngôn ngữ: Đây là loại trí thông minh liên quan tới năng lực sử dụng ngôn ngữ. Những người có trí thông minh này thường là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội...

3-Trí thông minh không gian: Những người có trí thông minh này thường làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, điêu khắc, địa chất, vật lý thiên văn...

4-Trí thông minh cơ thể: Đây là loại trí thông minh liên quan tới vận động của thân thể thường có ở những vận động viên thể thao, nghệ sĩ múa...
5-Trí thông minh âm nhạc: Loại trí thông minh này thể hiện ở khả năng nghe nhạc, ghi nhớ nhanh giai điệu, sáng tạo ra các bản nhạc...

6-Trí thông minh về nội tâm: Thể hiện ở khả năng khám phá chiều sâu của bản thân...

7-Trí thông minh trong tương tác cá nhân: Những người có năng lực quan hệ với mọi người, nắm bắt được suy nghĩ của người khác, giỏi hợp tác, tập hợp mọi người, lãnh đạo...

Mặc dù phân chia như vậy, TS Thomas Amstrong cũng khẳng định một người có thể sở hữu nhiều loại trí thông minh, điều này lý giải tại sao có những người xuất sắc trong nhiều lĩnh vực.

Quay trở lại câu hỏi "Người Việt có thông minh không", tôi nhận thấy có lẽ chúng ta đang bàn người Việt có giỏi không, nghĩa là nhìn nhận một cách tổng hợp hơn, chứ xé lẻ ra như TS Amstrong thì chắc người Việt có thể không sở hữu nhiều lắm một số loại trí thông minh.

Những người giỏi nhìn chung là những nguời có cái nhìn hơn người, vượt ra khỏi khuôn khổ chuẩn mực thông thường (nên người "kém cỏi" thường không hiểu và không ủng hộ họ). Họ như cây cao vươn lên khỏi ngọn cỏ. Một mình họ một tư tưởng và kiên trì tư tưởng đó, họ có khả năng dẫn dắt...
Người giỏi không phải là người tích đầy kiến thức, họ là người tạo ra phương pháp, chỉ ra con đường, đi trước thời đại...

Nói về những người giỏi thời đại ngày nay, cần nói thêm cả về kỹ năng, một vấn đề khác với thông minh. Thông minh là tố chất, nhưng kỹ năng có thể học. Một người có tố chất thông minh, nhưng thiếu kỹ năng thì hiệu quả làm việc vẫn không cao.
Người Việt có thể có tố chất này (nên ra nước ngoài học tập thường bật lên được), nhưng đa số người Việt thiếu kỹ năng. Tôi tạm nghĩ người giỏi có lẽ là người sở hữu trí nhiều loại trí thông minh và có kỹ năng nữa.

Kỹ năng, hiểu đơn giản là cách làm việc, cách tổ chức công việc, cách điều hành, cách quản lý, cách đàm phán, cách lãnh đạo... để đạt hiệu quả cao nhất. Cuộc sống cũng đòi hỏi kỹ năng như kỹ năng ứng xử với bạn đồng lứa, kỹ năng làm cha mẹ, kỹ năng phòng lây nhiễm HIV, kỹ năng từ chối khi bị sức ép, kỹ năng quản lý gia đình...


[/URL]http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage446262-13443-khong-sao-rong-3.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/_resampled/ResizedImage446262-13443-khong-sao-rong-3.jpg)
Thành Tuyên sau khi tu bổ


Các kỹ năng là điều phải học. Một người kiến thức đầy mình, mấy chục năm thâm niên làm việc có khi hiệu quả không bằng một người mới ra trường vài năm mà có kỹ năng tốt. Một học giả uyên bác vẫn có thể là một người cha tồi đơn giản vì thiếu kỹ năng. Tôi đã có dịp làm việc với một số giáo sư, nhà khoa học VN, có lẽ cũng khá kỳ cựu trong một ngành nọ. Họ tin họ nhiều kiến thức thì có thể hướng dẫn nông dân phòng bệnh cho gia cầm. Nhưng khi tôi mời họ đi giảng cho một số lớp học của nông dân, học viên không hiểu họ nói gì, đơn giản vì các vị này không có kỹ năng giảng dạy.

Trí thông minh đóng vai trò gì ở đây? Có, vai trò của nó đơn giản chỉ là biết học cách làm hiệu quả của những người khác, học rất nhanh. Không biết thì phải học. Đừng sĩ diện. Những người như các vị giáo sư, tiến sĩ kia rất nhiều.

Thông minh thì không "huênh hoang"

Người Việt thông minh thì đã không nói nhiều những lời rỗng tuếch như thế! Chỉ có kẻ "ngu dốt, kém cỏi" mới không tự nhận thấy mình đang nói những lời rỗng tuếch, vô nghĩa. Nếu thông minh đã tự biết mình và luôn luôn học hỏi, tìm tòi, sáng tạo.

Tôi biết có một dự án rất lớn của nước ngoài cho VN để đào tạo hàng nghìn cán bộ trong một lĩnh vực mà tôi xin miễn nói tên. Dự án tiến hành được 10 năm, bao nhiêu cán bộ được đào tạo đi đào tạo lại do chính chuyên gia quốc tế thực hiện. Tuy nhiên, khi quay trở lại đánh giá, chuyên gia phát hiện đại đa số những người này lại làm việc theo tư duy và phương pháp cũ.

Họ không thể từ bỏ được thói quen tư duy, và khi không làm được, họ quay sang đổ lỗi cho chuyên gia, cho lãnh đạo, cơ chế...miễn là không phải là tại họ.

Nếu người Việt thông minh, được đào tạo như thế, chất lượng sản phẩm của ngành đó phải được cải thiện rất nhiều mới phải.

Nên nói về trí thông minh thì cũng phải nói đến cái "hiếu học thật" (vâng, tôi cũng không tin người Việt hiếu học thật). Nếu hiếu học mà hiểu là dùi mài kinh sử thì theo tôi là hiểu rất hẹp. Lịch sử VN cũng chỉ mới đưa ra mẫu người dùi mài kinh sử mà ngày nay khó làm mẫu hình cho cách học tập của thời hiện đại.

Nền giáo dục thuộc địa của Pháp đã cho Việt Nam một số trí thức có nền tảng học vấn đáng kính phục, nhưng vấn đề kỹ năng vẫn chưa được giải quyết. Đến nền giáo dục của ta thì tôi thấy không những không được nền tảng kiến thức vững chắc mà cũng không cả kỹ năng.


[URL="http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/khong-sao-rong-1.jpg"]http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/khong-sao-rong-1.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/khong-sao-rong-1.jpg)
Người Việt thông minh thì không nói những lời sáo rỗng


Nền giáo dục của các nước XHCN cũ cũng chỉ cho những người có học vấn mà thiếu kỹ năng. Những người là sản phẩm của nền giáo dục Xô Viết hay của các nước XHCN cũ để bước sang thời đại mở cửa, để làm việc với quốc tế, điều họ phải học nhiều, nhất là kỹ năng làm việc. Thế hệ trẻ hơn may mắn được tiếp thu một nền giáo dục tiên tiến, đều đang làm việc với một phong cách khác. Họ rất giỏi vì nhận được kiến thức và kỹ năng. Hi vọng lớp người này sẽ đưa đất nước tiến nhanh hơn.
Hãy hỏi người trẻ hôm nay, câu hỏi người Việt có thông minh không, có thể chúng ta sẽ nhận được một cách nhìn nhận rất khác.

Dù không thông minh lắm, nhưng sự thật là rất nhiều người Việt đủ thông minh để hiểu rằng không nên lấy quá khứ ra để chứng minh người Việt thông minh nữa.

Dân tộc nào cũng có lịch sử bảo vệ và xây dựng đất nước đáng tự hào. Chiến tranh đã lùi vào quá khứ mấy chục năm rồi. Hãy nghĩ xem phẩm chất nào, trí tuệ nào của người Việt trong chiến tranh có ích cho hòa bình và phát triển thì hãy giữ và phát huy cái đó, còn lại người Việt phải học làm ở những nước đã làm rất giỏi chứ đừng "huênh hoang".

Làm cho tốt và đạt hiệu quả cao, chất lượng cuộc sống của người nghèo được nâng lên nhanh chóng, xã hội có kỷ cương, văn minh, diệt được tham nhũng, nói thật và làm thật... thì lúc ấy mới có thể nói người Việt rất thông minh.

Nguồn: VietNamNET

Hanoigio
13/11/10, 09:57 AM
**Fourty is the old age of youth; fifty the youth of old age.

Victor Hugo (1802-1885)

40 la` tuổi già của tuổi trẻ. 50 la` tuổi trẻ của tuổi già.

** War is only a cowardly escape from the problems of peace.

Thomas Mann

Chiến tranh là sự trốn chạy hèn khát khỏi những khó khắn của hòa bình.

** I hear and I forget. I see and I remember. I do and I understand.

Chinese proverb

Tôi nghe rồi tôi quên. Tôi nhìn rồi tôi nhớ. Tôi làm rồi tôi hiểu.

** Capital punishment: The income tax.

Jeff Hayes

Sự trừng phạt của tư bản là: thuế lợi tức []

Theo: Đ.V. Mã phỏng dịch - http://tapchicadao.com

nbc
14/11/10, 01:51 PM
Chuyện già Jớp (*)


Người dân xã Biển Hồ (TP Pleiku, Gia Lai) ai cũng biết bà cụ Jớp, không chỉ vì già đã ở cái tuổi xưa nay hiếm mà còn bởi mấy chục năm nay, già dù lưng còng tóc bạc vẫn ngày ngày cuốc đất, san đường, nhổ cỏ… để đường làng dễ đi hơn.


[/URL][URL="http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/11/14/gia-100t.jpg"]http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/11/14/gia-100t.jpg (http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/11/14/gia-100t.jpg)

Già Jớp và chồng năm nay đã già yếu hơn nên không còn thường xuyên san đường, nhổ cỏ được nữa.


Già Jớp là người dân tộc J’rai, ở làng Nhin. Già không biết chữ, cũng như người chồng của mình già cũng không biết tính năm, già cũng chẳng hiểu tí gì về những nét văn hóa của người Kinh. Ngay đến cái tuổi của mình chính xác là bao nhiêu già cũng chẳng biết, dù già vẫn còn rất minh mẫn. Cái mốc để người ta đoán tuổi của già đó là khi giặc Pháp đặt chân đến làng, già đã “bắt” chồng và có con rồi. Năm nay, hai đứa chắt của già cũng đã trưởng thành.

Mà với già Jớp, biết cái chữ cũng chẳng để làm gì, biết tính cái năm cũng không làm cái bụng già no bằng đi lên rẫy. Bởi từ xa xưa, cuộc sống của gia đình già đã rất khổ cực, hàng ngày già và chồng phải vất vả gắn mình trên cái rẫy, vào rừng sâu để kiếm cái ăn cho cả gia đình. Với họ, khái niệm về thời gian là điều quá xa xỉ…

Chính vì những điều này, mà công việc của già càng đáng để cả xã hội học tập và tôn kính. Không nhớ được năm, già chỉ biết con đường nhựa chạy từ TP Pleiku đến nông trường chè, gần làng già, đi không trơn, mưa không bị lầy lội, cỏ không mọc được. Già cũng nhận thấy con đường đất đỏ từ nhà già ra đến rẫy lúa nhà mình dài hơn 2km, mỗi khi trời mưa lầy lội, trơn trượt, cỏ mọc ngày càng nhiều. Già muốn con đường đi ra rẫy, đi từ xóm này qua xóm nọ đẹp hơn, tốt hơn.

Từ đó, trời nắng thì già vác cuốc đi dọc các con đường trong xã, san những ụ đất gồ ghề, đắp vào chỗ trũng cho bằng phẳng hơn. Vào mùa thu hoạch lúa, mỗi buổi chiều người ta không thấy già đi về nhà luôn mà vẫn cứ loay hoay nhổ cỏ hai bên đường. Người dân trong làng xì xào: “Ơ làng ơi, già Jớp biến thành con ma lai rồi”, “già Jớp bị Yàng phạt rồi”,...

Bỏ qua mọi lời bàn tán, ngày này qua tháng khác, vào mùa vụ, già Jớp vẫn lên rẫy làm lúa, tối về nhổ cỏ dọc con đường. Hết mùa, cụ lại cầm cuốc san đường, đắp đất…

Mấy chục năm nay, con đường từ làng Nhin đi qua xã Biển Hồ để ra đến rẫy nhà già đã bằng phẳng, cỏ không còn mọc rậm rịt hai bên đường nữa. Có nhiều đêm trăng sáng, người ta vẫn thấy một mình già Jớp không cuốc rẫy thì san đường. “Đường đi của những người hái chè đẹp, nên mình cũng muốn đường đi ra rẫy của người đồng bào mình không còn bẩn nữa, gùi cái lúa không còn bị trượt bổ nữa. Mình học nhà nước mình làm đường đẹp thôi”, già Jớp lý giải.

Bây giờ mỗi mùa mưa đi xe trên con đường đất đỏ mà mấy chục năm nay già Jớp bỏ công ra làm không còn trơn trượt, không còn cỏ mọc chen chân, cái bụng của người dân trong làng thấy mừng, thấy biết ơn già Jớp lắm.

Nhưng gần một năm nay, người khắp xã ít thấy bóng già ở ngoài đường hơn. Già và người chồng của mình đã yếu rồi, hai người con của già đã mất từ lâu. Bây giờ già sống chung với những người cháu, người chắt. Cuộc sống khổ cực nhưng tâm hồn cao đẹp nên già vẫn còn minh mẫn lắm. Già nói: “Mình không còn đi lên rẫy nữa, cháu cho mình ăn gì mình ăn đó. Cháu nấu lá mì mình ăn lá mì, cháu giã muối ớt mình ăn muối ớt”.

Ông Luit, thôn trưởng làng Nhin, cho chúng tôi biết: “Già Jớp tuổi cao lắm rồi, ai cũng nói bà hơn 100 tuổi rồi. Bà siêng lắm, lưng cũng còng rồi nhưng ngày nào bà cũng đi làm. Bà làm từ ruộng cho đến nhà, tất cả đường bà đều làm sạch sẽ hết, bà làm mấy chục năm rồi. Năm ngoái bà già rồi, nhưng bà vẫn mò mò đi từ nhà ra đến ruộng mất hơn nửa ngày để làm”.



Thiên Thư


(*) Nguyên văn tựa đề trên Dân Trí Online "Cụ bà hơn 100 tuổi còng lưng san đường, nhổ cỏ không công"

Nguồn: Dân Trí

Hanoigio
17/11/10, 10:07 AM
Câu chuyện về một người thầy

Khi He chuẩn bị tiến đến một tương lai tươi sáng hơn, hàng chục dân làng kéo đến nhà anh. Họ van xin trong nước mắt rằng anh hãy ở lại dạy dỗ con cái họ tại ngôi trường cấp I ở địa phương, nếu không con cái họ sẽ không có thầy dạy.
http://image.tin247.com/dantri/080906020103-305-211.jpg

Năm 1978, He Meiji là người duy nhất có học trong làng khi anh trở về nhà trên miền núi Kuzhu phân ranh hai tỉnh Hồ Nam và Tứ Xuyên (Trung Quốc) sau khi tốt nghiệp trung học. Anh quyết định thoát ra khỏi vùng núi hẻo lánh và cái nghèo.
He nhận được giấy mời vào làm tại phòng tài chính huyện. Nhưng khi anh chuẩn bị tiến đến một tương lai tươi sáng hơn, hàng chục dân làng kéo đến nhà anh. Họ van xin trong nước mắt rằng anh hãy ở lại dạy dỗ con cái họ tại ngôi trường cấp I ở địa phương, nếu không con cái họ sẽ không có thầy dạy.
Cuối cùng anh xé tờ giấy báo nhận việc và bắt đầu dạy học tại Trường tiểu học Hữu Nghị bị bỏ không bốn năm qua. Trong những năm đầu tiên, He tự làm phấn, thước kẻ, xà ngang tập thể dục và các dụng cụ giảng dạy cần thiết khác, đốn củi để thắp sáng phòng lớp không cửa sổ...
Để tạo môi trường học tập tốt hơn cho học sinh, He xin phòng giáo dục địa phương xây dựng một ngôi trường mới. He nhận được 200 nhân dân tệ (khoảng 400.000 đồng VN) cho dự án này năm 1983. Số tiền ít ỏi chỉ đủ cho anh mua gạch và ngói, cho nên anh và một số dân làng phải tự mình đốn cây, cưa gỗ làm ván và tìm kiếm những vật liệu khác.
Ngày 16/8/1983, trong khi dùng búa chặt cây, He sơ ý chém vào cánh tay phải của mình. Khi dân làng đưa He đến bệnh viện ở thành phố gần nhất và gom góp đủ tiền để chữa trị cho anh thì vết thương đã bị hoại tử đến độ các bác sĩ phải cắt cụt cánh tay của anh.
Mất cánh tay, He tập viết và dạy học bằng tay trái. Vào mùa đông, He cõng các học sinh nhỏ đi qua những lối đi cheo leo trên núi, và vào mùa hè, He vào rừng bắt rắn bán lấy tiền giúp các học sinh nghèo. Mặc dù lương của anh không hơn 100 nhân dân tệ/tháng, nhưng anh vẫn ki cóp giúp đỡ hơn 200 học sinh với số tiền lên đến 8.400 nhân dân tệ.
Hiện nhiều học trò của He đã xa rời vùng núi, và người giáo viên 54 tuổi này rất hãnh diện vì một trong số các học sinh của anh đã trở thành giáo sư đại học.
Theo Quang Hương
Tuổi Trẻ/ Tân Hoa Xã

hotboy23
29/11/10, 10:26 PM
"Có ai xin con nuôi không?"


Thứ Hai, ngày 29/11/2010, 13:58
(Tin tuc 24h) - Có bao giờ bạn cho rằng mình bất hạnh? Tôi tin rằng, nhiều người trong chúng ta đã từng nghĩ thế, nhất là gặp lúc éo le, vận hạn cuộc đời. Nhưng nếu chỉ như vậy, thì nhân vật trong câu chuyện chúng tôi kể sau đây, có lẽ cần đến một tính từ bi thảm hơn gấp trăm nghìn lần “bất hạnh” để mà diễn đạt.

Ngọn nến tàn trước gió

Chị có cái tên thật an lành: Nguyễn Thị An. Chị sống ở một nơi nghe thật đầm ấm: đường Phúc Hậu (KDC số 1, P. Nại Hiên, Q. Sơn Trà, Đà Nẵng). Và, con gái chị có cái tên thật đẹp: Nguyễn Thị Thu Giang. Nhưng tất cả những mỹ từ tốt lành đẹp đẽ ấy chỉ càng làm nổi bật thêm cuộc sống cùng cực, nỗi đau xé lòng của một người cùng quẫn, một bệnh nhân hiểm nghèo và một người mẹ hoàn toàn bất lực.

Chị An là con của một gia đình ngư dân nghèo ở xóm nhà chồ dọc sông Hàn. Ngày nay, nói đến nhà chồ chắc rằng có đôi người không mường tượng ra, nhưng thuở trước, nó nhan nhản, kéo dài một vệt phía bờ Đông từ cửa sông Hàn lên tận sông Cổ Cò. Người ta cắm mấy cái cọc xuống nước, chằng thêm mấy thanh ngang, lát vài miếng ván, lợp một mái dừa, vậy là thành nhà chồ. Dân nhà chồ “mặc định” với cái nghèo. Chị An thì không những nghèo mà còn rơi vào cảnh éo le. 23 tuổi, mẹ mất, cha đi bước nữa, anh chị em gây dựng gia đình riêng, chị tự tìm đường sống. Cũng chẳng có gì to tát, chị cắm 4 cái cọc xuống sông làm một cái nhà chồ là xong. Ngặt nỗi, người sống trên căn nhà chồ ấy - chị An - vốn mang sẵn chẳng biết bao nhiêu căn bệnh ở trong người. 23 tuổi, đáng lẽ phải bươn chải vươn lên với đời, chị lại quằn quại với những cơn đau của bệnh tim bẩm sinh, hen suyễn, viêm gan... đến tối sầm, thốc tháo, quặn thắt.


http://24hcm02.24hstatic.com:8008/upload/4-2010/images/2010-11-29/1291013386-chi-An1.jpg

Suốt 20 năm qua, những căn bệnh quái ác hành hạ chị ngày lẫn đêm, lúc thức lẫn lúc ngủ, lúc quờ quạng kiếm ăn lẫn khi ngửa mặt than trời. Nay, 43 tuổi, trông chị chẳng còn chút thần sắc nào nữa. Mái tóc lưa thưa bạc trụi. Tay chân rụng rời mệt mỏi. Chị chẳng khá hơn ngọn nến tàn trước gió.

Tưởng chừng cứ lay lắt thế cho xong một phận con người thì một biến cố đến với chị An, mà sau này chẳng biết nên gọi đó là ân huệ hay nỗi đau nữa. Chị An kể: “Đêm đó, tui đang ở trong chòi. Vật vã đau. Bỗng thấy một thằng choai choai loạng quạng mò tới. Nó say rượu. Người hôi nồng nặc...”. Cái thằng say rượu ấy nó chặn cổ chị An xuống sàn rồi giở trò đồi bại. Một mình, yếu ớt, uất nghẹn, tiếng kêu cứu của chị lẫn trong tiếng khóc khản đặc giữa đêm trường.

Con ơi, đừng trách mẹ...

Kết cục của đêm đớn đau ấy là một bé gái ra đời. Chị đặt tên cháu là Nguyễn Thị Thu Giang. Cũng may, vừa lúc ấy, TP Đà Nẵng có chủ trương xóa nhà chồ. Chị An được “lên bờ”, bố trí vào căn hộ liền kề. Rồi thành phố còn hỗ trợ thêm cho chị mỗi tháng 450 nghìn đồng. Vậy là, dù thế nào đi nữa, mẹ con chị cũng có chỗ ở.

Niềm vui cuộc sống mới chưa tròn thì bệnh phát nặng hơn. Cơ thể chị suy sụp hoàn toàn và cái ngày kết thúc kiếp người chẳng rõ sẽ ập đến lúc nào. Đêm đêm, chị không muốn ngủ, sợ rằng giấc ngủ ấy trở nên vĩnh viễn. Nào phải chị tiếc nuối chi cuộc sống tàn tạ của riêng mình. Nhưng còn Thu Giang, đứa con vô tội mà chị thương yêu nhất trên đời sẽ ra sao?

Hơn 4 tuổi, cháu Thu Giang gầy guộc, xác xơ nhưng khuôn mặt và nhất là đôi mắt vẫn trong veo ngơ ngác. Cháu nép mình vào mẹ trong suốt câu chuyện giữa chúng tôi. Lâu lâu, cháu bá cổ chị: “Mẹ ơi! Đừng khóc. Đừng khóc mà...”. Hình như cháu đã quen an ủi chị như vậy rồi.

Có điều gì trên đời thiêng liêng hơn tình mẫu tử? Và, có nỗi đau nào của đời người lớn hơn, khi người mẹ thốt lên lời này: “Em xem, có ai xin con nuôi, chị cho họ cháu Thu Giang đấy”. Chị cố không khóc khi thốt ra lời ấy nhưng nước mắt cứ lăn dài trên má. Chị cố gượng cười với tôi nhưng càng gượng thì khuôn mặt héo úa càng trở nên méo xệch. Chị lúng búng biện hộ: “Em à, chị không biết còn ở trên đời được bao lâu nữa... Em biết đấy... Cháu nó còn nhỏ quá... Họ hàng thì lâu nay chẳng ai ngó ngàng tới nữa... Chị dạm hỏi mấy người rồi nhưng không ai nhận... Họ cũng nghèo khó quá...”. Mỗi lời chị thốt ra mới khó khăn làm sao.

Chị An có một ước mơ trong niềm đau xé ruột. Ấy là cháu Thu Giang sẽ được ai đó nhận nuôi. Lúc ấy, chị sẽ không còn ai bá cổ động viên mỗi khi khóc, không còn lẫm chẫm bước chân và tiếng nói cười trẻ con trong căn nhà hiu quạnh, sẽ chẳng còn dịp ngắm nhìn giấc ngủ non tơ vô tội mỗi đêm trằn trọc... nhưng chị vẫn mãn nguyện, bởi cháu Thu Giang sẽ được ăn no, được đi học, được lớn lên như bao đứa trẻ bình thường. Và, điều cầu khẩn cuối cùng, chị mong cháu sẽ quên chị đi, hay ít ra, không hờn trách người mẹ nghèo cùng quẫn.

Lời kết

Chị Loan, một người hàng xóm của mẹ con chị An nói với chúng tôi: “Hoàn cảnh họ vậy đấy, nhưng tôi cũng chẳng biết làm sao. Tôi cũng nghèo, cùng lắm là cho cháu Thu Giang cái gì ăn khi đói thôi, chứ không có sức lo cho mẹ con chị ấy”. Hàng xóm láng giềng với nhau, một miếng ăn lúc đói, một lời chào hỏi lúc bi thương, cũng đáng quý biết ngần nào. Nhưng phải chăng một tấm lòng xóm giềng thì dù đáng quý đến đâu vẫn bé nhỏ, còn nhiều tấm lòng của cộng đồng thì sẽ lớn lao hơn, biết đâu làm nên điều kỳ diệu. Và, liệu cuộc đời chị An, cháu Thu Giang có thể có được điều kỳ diệu ấy không? Câu trả lời, có lẽ chính là từ mỗi chúng ta, ngay giây phút này, trước khi quá muộn.

nbc
19/12/10, 12:50 PM
Số phận bi đát của nhà nghiên cứu khoán hộ


Cập nhật lúc :4:19 PM, 17/12/2010

Bí thư Kim Ngọc được cả nước biết đến là cha đẻ của khoán hộ. Thế nhưng có một người từng sát cánh cùng Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc, ủng hộ chủ trương khoán hộ của ông bằng một luận án dày 72 trang, lại ít ai biết đến.

Luận án khoán hộ đầu tiên

Đến chợ Thông (phường Hương Long, TP. Huế), hỏi ông Lê Xuân Thiết, các tiểu thương sốt sắng chỉ tay về phía quầy vé số khiêm tốn nằm bên con đường dẫn vào chợ, nơi có một ông già nhỏ thó đang bán vé số cho khách. “Chỉ cần hỏi “ông Thiết vé số” là người dân cả phường ni ai cũng biết”- ông cười vui vẻ khi gặp chúng tôi.



http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thachanh/20101217/khoan%20ho1.jpg (http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thachanh/20101217/khoan%20ho1.jpg)

Với chiếc xe đạp cà tàng, hàng ngày ông Thiết bán vé số dạo khắp phường Hương Long.


Ông Thiết sinh năm 1937, ở làng An Ninh Hạ, xã Hương Long, huyện Hương Trà, nay là phường Hương Long, TP. Huế. Từ nhỏ ông làm du kích, thường xuyên đột nhập các đồn giặc để vẽ bản đồ giúp bộ đội đánh đồn.
Năm 1953, ông là một trong số ít người trong tỉnh được phong tặng danh hiệu Chiến sĩ du kích thi đua. Sau đó ông cùng Tiểu đoàn du kích Bình Trị Thiên tập kết ra Bắc và được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho tiểu đoàn. Khi tiểu đoàn du kích này giải tán, ông được cử đi học ở Hà Nội và đến năm 1960 thì học ở Trường Đại học Ki- ép (Liên Xô).
3 năm sau, ông về nước học tiếp Đại học Kinh tế kế hoạch Hà Nội cho đến năm 1967. Sau khi tốt nghiệp đại học loại giỏi, ông được phân về công tác ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phú.
Là người được đào tạo bài bản, ông sớm nhìn ra nhiều hạn chế của phong trào hợp tác hóa đang phát triển rầm rộ nhiều nơi. Từ đó, ông bắt tay vào thực hiện luận án về chính sách giao ruộng đất lâu dài cho nông dân, nhà nước chỉ thu thuế.
Đúng vào thời điểm này, ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú bắt đầu rộ lên phong trào nông dân tự chia nhau ruộng đất để sản xuất. Phong trào này đưa năng suất lên cao, đời sống người dân đổi thay nhanh chóng. Hay tin, ông tức tốc về Lập Thạch nắm thêm tình hình, tìm hiểu nguyện vọng người dân để có đủ cứ liệu xây dựng luận án của mình.
Từ hiệu quả của phong trào chia nhau ruộng đất của nông dân huyện Lập Thạch, ông Kim Ngọc - Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú thời bấy giờ đã quyết định nhân rộng mô hình này ra nhiều huyện khác trên địa bàn. Chủ trương đúng đắn của người đứng đầu tỉnh khiến ông Thiết hết sức phấn khởi, càng tích cực hơn trong vai trò thúc đẩy phong trào khoán hộ phát triển.
Tuy nhiên, khi thông tin về phong trào khoán hộ ở Vĩnh Phú lan tới Trung ương, ông Kim Ngọc đã bị kiểm điểm với lý do “quay lại con đường tư bản chủ nghĩa” và “đi ngược đường lối của Đảng”. “Điều đó càng thôi thúc tôi hoàn thành luận án của mình để ủng hộ chủ trương của ông Kim Ngọc”- ông Thiết kể.
Rồi một luận án dày 72 trang có tên “Khoán hộ” của ông Thiết ra đời. Tại đây, ông Thiết cho rằng, người nông dân của một nước nông nghiệp lạc hậu chưa thể làm ăn tập thể do trình độ thấp nên phải kích thích họ làm việc bằng hình thức giao khoán.
Nếu để tập thể làm, một sào ruộng chỉ thu được 1,5 tạ lúa, nhưng nếu khoán cho hộ nông dân thì mỗi sào sẽ thu được ít nhất 3 tạ. Theo ông Thiết, luận án đã góp phần làm thay đổi nhận thức của không ít trí thức ở Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phú cũng như nhiều cơ quan khác trong tỉnh thời bấy giờ. Tuy nhiên, không nhiều người dám công khai ủng hộ bởi sợ bị quy kết là “lệch lạc tư tưởng”.
Một đời chìm nổi
Công trình của ông Thiết không được chấp nhận và cá nhân ông bị quy cho “tội” xét lại, chống chủ trương của Đảng và Nhà nước lúc bấy giờ. Ông đứng ra bảo vệ luận án của mình bằng những luận cứ khoa học nhưng cuối cùng cơ quan vẫn quyết định khai trừ ông ra khỏi Đảng và chuyển ông xuống làm tạp vụ.



http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thachanh/20101217/khoan%20ho%202.jpg (http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thachanh/20101217/khoan%20ho%202.jpg)
Ông Thiết ghi số trúng thưởng thông báo cho khách mua vé số


Năm 1975, nhiều cơ quan trung ương mời ông làm việc nhưng không được Ủy ban Kế hoạch tỉnh Vĩnh Phú đồng ý. Một thời gian sau, khi Ủy ban Kế hoạch tỉnh Thừa Thiên- Huế có chủ trương xin trí thức tập kết ra Bắc về xây dựng quê hương, ông xin về tỉnh. Tuy nhiên, khi thấy lý lịch của ông “có vấn đề”, ông Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch tỉnh Thừa Thiên - Huế lập tức chuyển ông xuống làm nhân viên của Phòng kế hoạch huyện Hương Trà.
Tại Phòng kế hoạch huyện Hương Trà, khi ông về công tác là thời điểm rộ lên chương trình cải tạo công thương nghiệp. Từ thực tế sai lầm khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Bắc, ông viết một bản thuyết trình gần 20 trang gửi lên tỉnh Thừa Thiên- Huế nói rõ không nên tiến hành cải tạo công thương nghiệp vì sẽ gây ra nhiều hậu quả nặng nề. Tuy nhiên, ý kiến của ông không được lãnh đạo tỉnh đồng ý.
Không làm ngơ trước những chủ trương sai lầm của lãnh đạo, ông phản đối kịch liệt nên năm 1977 ông bị điều chuyển đến Nhà máy vôi Long Thọ. Tại nơi làm việc mới, vì tiếp tục có ý kiến trước những chủ trương sai lầm của lãnh đạo nên ông bị đưa vào “danh sách đen”, bị coi là “người thiếu thiện chí”. Năm 1980, quá chán nản, ông xin nghỉ mất sức.

Nước mắt tuổi già

Trở về quê ở tuổi 44, ông lập gia đình trong cảnh hoàn toàn trắng tay. Không ruộng vườn, nghề nghiệp để mưu sinh, cuộc sống của gia đình ông ngày càng bi đát. Đã vậy, năm 1989, tiền lương hưu mất sức ít ỏi của ông cũng bị cắt. Để tồn tại, ông phải đi nhặt ve chai đem bán lấy tiền nuôi gia đình.
Tuổi tác ngày càng lớn, sức khỏe suy yếu, ông phải chuyển sang nghề bán vé số. Ngày nắng, với chiếc xe đạp cà tàng, ông đạp xe đi khắp phường Hương Long bán vé số, ngày mưa sức khỏe không cho phép, ông phải ngồi lại chợ Thông để bán.
“Thu nhập từ bán vé số mỗi ngày chỉ được vài chục nghìn, không đủ để lo cho vợ con. Nhưng hoàn cảnh thế này thì biết làm gì khác hơn”- ông buồn nói. Hiện vợ chồng ông có một người con trai đang học đại học nên cuộc sống gia đình ông càng ngày càng túng quẫn.

Khi nhắc đến bộ phim “Bí thư Tỉnh ủy” đang được chiếu trên VTV1, giọng ông buồn buồn: “Xem phim tui bắt gặp hình ảnh của mình trong đó. Số phận của ông Kim Ngọc thật gian truân nhưng cuối cùng người ta cũng minh oan và vinh danh cho ông ấy. Tui thì chẳng muốn ai vinh danh mình, mà chỉ cần có sức khỏe để kiếm đủ tiền lo cho con ăn học”.

Nguồn: Báo Đất Việt (http://www.baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/So-phan-bi-dat-cua-nha-nghien-cuu-khoan-ho/201012/122835.datviet)

nbc
09/02/11, 03:28 PM
Hiệu trưởng Drew Gilpin Faust của Đại học Havardtrong Lễ trao bằng tốt nghiệp năm 2009, cũng phát biểu:

“Các trường đại học phục vụ như những nhà phê bình và là lương tâm của xã hội. Chúng ta tạo ra không chỉ tri thức mà còn tạo ra những câu hỏi, tạo ra những hiểu biết bắt nguồn từ chủ nghĩa hoài nghi, từ sự không ngừng đặt câu hỏi chứ không phải từ sự thống trị của những tri thức thông thái được chấp nhận không cần thử thách. Hơn bất cứ một tổ chức nào khác trong xã hội, cốt lõi của các trường đại học là tầm nhìn dài hạn và những quan điểm phản biện, và những điều này có được chính là vì đại học không phải là sở hữu của riêng hiện tại”.

nbc
14/03/11, 11:31 PM
Bài văn tả giáo sư của bé lớp 3


[/URL]http://img.vietnamnet.vn/logo.gif (http://img.vietnamnet.vn/logo.gif) - Ông nội em là giáo sư tiến sĩ, giảng dạy trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Dáng người ông nhỏ nhắn nhưng lúc nào cũng thể hiện sự nhanh nhẹn.


[URL="http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/03/14/14/20110314145528_giaosu1.jpg"]http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/03/14/14/20110314145528_giaosu1.jpg (http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2011/03/14/14/20110314145528_giaosu1.jpg)
Bài văn của em Đỗ Anh Minh



Đề bài: Viết đoạn văn nói về một người lao động trí óc mà em biết.

Bài làm:

Ông nội em là giáo sư tiến sĩ, giảng dạy trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Dáng người ông nhỏ nhắn nhưng lúc nào cũng thể hiện sự nhanh nhẹn.

Hằng ngày ông đến trường, lên giảng đường để dạy bộ môn Tự động hóa cho các anh chị sinh viên.

Bao nhiêu năm cùng dạy một bộ môn nhưng ông vẫn thường xuyên đọc sách, đến thư viện tra cứu tài liệu hay đi nghiên cứu ở các nhà máy để bổ sung kiến thức cho bài giảng.

Ông rất yêu nghề, tuy đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng ông vẫn tham gia dạy thực hành cho các anh chị sinh viên.

Những lúc rảnh rỗi, ông kể cho em nghe nhiều điều mới lạ và còn dặn em: Tuổi cháu cần phải học, tuổi ông vẫn phải học. Có học suốt đời mới là con người thật sự có ích cho xã hội.

Đỗ Anh Minh (Lớp 3E – Trường tiểu học Hoàng Hoa Thám, Hà Nội)

Mỗi bài tập làm văn của học sinh chứa đựng mỗi góc nhìn, suy nghĩ, tình cảm của các em mà người lớn không phải lúc nào cũng thấu hiểu hết.

Nguồn: VietNamNET

nbc
14/03/11, 11:53 PM
Bằng cấp và thu nhập


Tác giả: Paul Krugman

Trên một phương diện lớn hơn, quan niệm cho rằng công nghệ hiện đại chỉ xóa bỏ lao động giản đơn, và rằng những người lao động được đào tạo tốt sẽ là những kẻ thắng cuộc vinh quang nhất, trên thực tế đã trở nên lỗi thời hàng mấy thập niên trở lại đây.

LTS: Ngày 6-3-2011, trên tờ New York Times có đăng bài viết "Degrees and Dollars" của Paul Krugman, GS Kinh tế và Quan hệ Quốc tế Đại học Princeton (Mỹ). Bài viết đi vào phân tích lý do vì sao bằng cấp cao không đồng nghĩa với việc dễ kiếm một công việc ổn định với mức lương cao, lý giải lý do giáo dục không hẳn là cứu cánh duy nhất cho thịnh vượng và công bằng xã hội.
Mặc dù có sự khác biệt lớn ở góc độ xã hội giữa xã hội Việt Nam và xã hội Mỹ, nhưng thiết nghĩ đây cũng là vấn đề thú vị. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam xin đăng lại bài viết này, với mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi, xem xét và bàn luận của quý bạn đọc gần xa.

Một niềm tin sai lầm?

Có một triết lí mà nhiều người công nhận: Giáo dục- chìa khóa cho thành công về kinh tế. Ai cũng biết rằng trong tương lai, với sự phát triển của khoa học, kinh tế- xã hội, công việc sẽ đòi hỏi người lao động có trình độ và kĩ năng cao hơn. Đó cũng chính là lí do vì sao mà trong lần xuất hiện thứ sáu vừa qua cùng với cựu Thống đốc bang Florida Jeb Bush, Tổng thống Obama đã đưa ra tuyên bố rằng: "Nếu chúng ta muốn lạc quan về thị trường lao động và việc làm thì chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa vào giáo dục".

Nhưng trên thực tế, điều mà ai cũng biết ấy lại là một niềm tin sai lầm.

Một ngày sau tuyên bố của Tổng thống Obama, Tạp chí Thời đại (Times) cho đăng một bài viết nói về xu hướng sử dụng các phần mềm chuyên dụng để tiến hành nghiên cứu các văn bản pháp luật. Cũng theo bài báo trên, máy tính có khả năng phân tích nhanh hàng triệu văn bản, và thực hiện công việc đó với chi phí thấp vốn đòi hỏi hàng tá luật sư và nhân viên hỗ trợ pháp luật. Trong trường hợp này, trên thực tế, tiến bộ về kĩ thuật lại làm giảm nhu cầu đối với người lao động trình độ cao.

Nghiên cứu pháp luật không phải là một ví dụ đơn lẻ. Theo bài báo này thì máy tính cũng đang dần thay thế kỹ sư trong những công việc như thiết kế chip điện tử. Trên một phương diện lớn hơn, quan niệm cho rằng công nghệ hiện đại chỉ xóa bỏ lao động giản đơn, và rằng những người lao động được đào tạo tốt sẽ là những kẻ thắng cuộc vinh quang nhất, trên thực tế đã trở nên lỗi thời hàng mấy thập niên trở lại đây.

Kể từ năm 1990, đặc thù của thị trường lao động Mỹ không phải là xu hướng nâng cao yêu cầu về kỹ năng mà là "sự mở rộng của lỗ hổng trong thị trường việc làm". Nghĩa là công việc thu nhập cao và thu nhập thấp đều gia tăng nhanh chóng, trong khi những công việc thu nhập trung bình, loại công việc nuôi sống tầng lớp trung lưu đông đảo trong xã hội, thì đang suy giảm. Và lỗ hổng ở giữa ấy đang ngày một lớn hơn. Nhiều công việc thu nhập cao gia tăng nhanh chóng trong thập niên 1990 gần đây cũng đã tăng chậm lại, ngay cả khi các công việc thu nhập thấp vẫn tăng nhanh.

Vậy vì sao lại xảy ra thực trạng này? Niềm tin rằng giáo dục ngày càng trở nên quan trọng dựa trên một ý tưởng có vẻ hợp lí rằng: Công nghệ giúp mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho những người làm việc liên quan đến thông tin. Nói một cách đơn giản, điều đó có nghĩa là máy tính giúp những người làm việc đầu óc, trong khi ảnh hưởng xấu đến những người làm việc chân tay.

Tuy nhiên, một vài năm trước đây, các nhà kinh tế như David Autor, Frank Levy, và Richard Murnane đã cho rằng quan niệm này là sai lầm. Họ chỉ ra rằng máy tính chỉ thực sự thể hiện ưu thế trong những công việc lặp đi lặp lại (những công việc chân tay và đầu óc được thực hiện theo những quy tắc nghiêm ngặt). Do đó, bất cứ công việc lặp đi lặp lại nào, bao gồm cả những công việc bàn giấy, đang gặp phải nguy cơ lớn. Trái lại, những công việc không thể thực hiện một cách máy móc, ví dụ như lái xe tải hay bảo vệ, lại có xu hướng gia tăng ngay cả khi phải đối mặt với tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Và vấn đề là ở đây: Hầu hết những công việc chân tay trong nền kinh tế của chúng ta lại là những việc khó tự động hóa. Đặc biệt là số lao động trong lĩnh vực sản xuất giảm xuống chỉ còn chiếm 6% lực lượng lao động Mỹ, và sẽ khó có thể giảm hơn được nữa. Trong khi đó, rất nhiều công việc bàn giấy đang được thực hiện bởi những người được đào tạo cẩn thận và trả lương cao sẽ được tự động hóa trong tương lai gần. Máy hút bụi rất tuyệt vời, nhưng còn lâu mới có rô-bốt bảo vệ, còn nghiên cứu tài liệu luật và chẩn đoán bệnh bằng máy tính thì đã xuất hiện rồi.


[/URL][URL="http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Bang-cap-thu-nhap.jpg"]http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Bang-cap-thu-nhap.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/Bang-cap-thu-nhap.jpg)

Bằng cấp liệu có đi đôi với thu nhập? Ảnh minh họa

Giáo dục không hẳn là câu trả lời

Bây giờ xét đến toàn cầu hóa. Trước kia, chỉ có công nhân sản xuất mới cần lo lắng đến áp lực cạnh tranh từ bên ngoài lãnh thổ quốc gia. Nhưng ngày nay, sự kết hợp giữa máy tính và viễn thông đã tạo điều kiện cho việc cung cấp nhiều dịch vụ từ xa. Một nghiên cứu do những đồng nghiệp của tôi tại Trường ĐH Princeton đã chỉ ra rằng những công việc thu nhập cao do những người lao động trình độ cao thực hiện dễ "đi xa" hơn những công việc tay chân thu nhập thấp. Nếu như lập luận của họ đúng, thì điều đó có nghĩa là giao dịch quốc tế ngày càng phát triển trong lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng khoét rộng hơn "lỗ hổng" trong thị trường lao động Mỹ.

Vậy điều này có liên quan thế nào đến chính sách?

Câu trả lời là: Chúng ta cần cải cách giáo dục Mỹ. Những đứa trẻ thông minh xuất thân trong những gia đình nghèo ít có khả năng hoàn thành các chương trình ĐH hơn những đứa trẻ kém thông minh hơn nhưng được sinh ra trong các gia đình giàu có. Đấy mới chỉ là khởi đầu cho những bất công xã hội mà người Mỹ hiện nay đang phải đối mặt. Và đó còn là sự lãng phí tiềm năng con người của quốc gia.

Và có những điều ngay cả giáo dục cũng không thể giải quyết được. Quan niệm của chúng ta trong một thời gian dài cho rằng đưa càng nhiều con trẻ của chúng ta vào các trường ĐH có thể giúp khôi phục lại xã hội trung lưu, xét cho cùng, chỉ là một mong ước tốt đẹp mà thôi. Niềm tin có một tấm bằng ĐH sẽ đảm bảo cho bạn một công việc tốt giờ không còn đúng nữa.

Vậy nếu chúng ta muốn xây dựng một xã hội thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, thì giáo dục hẳn không phải là câu trả lời. Chúng ta cần khôi phục lại quyền thương lượng mà người lao động đã mất hơn 30 năm trở lại đây. Theo đó những người công nhân bình thường hay các siêu sao màn bạc đều có quyền thương lượng để có được mức lương tốt. Chúng ta cũng cần đảm bảo những nhu cầu thiết yếu nhất (trước hết là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe) cho mọi công dân.

Chúng ta không thể đạt được điều chúng ta muốn bằng cách chỉ đơn giản vứt cho người lao động tấm bằng ĐH, thứ có lẽ không hơn gì tấm vé cho họ 1 công việc không hề tồn tại hoặc 1 công việc không mang lại cho họ mức thu nhập trung bình.

Nguyễn Quang Khải (dịch)

Nguồn: VietNamNET

nbc
17/03/11, 05:51 PM
Bài học từ một cậu bé 9 tuổi ở Nhật



http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2011/03/16/tn_b19.JPG (http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2011/03/16/tn_b19.JPG)

Một bé trai tại thành phố Sendai, tỉnh Miyagy, chờ lấy nước sôi để ăn mỳ.



Dưới đây là bài viết cảm động của một độc giả gửi báo Dân trí về cách ứng xử tuyệt vời trong cơn hoạn nạn ở Nhật của một cậu bé mới 9 tuổi.

Tối hôm qua tôi được phái tới một trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó phân phát thực phẩm cho những người bị nạn. Trong cái hàng rồng rắn những người xếp hàng tôi chú ý đến một em nhỏ chừng 9 tuổi, trên người chỉ có chiếc áo thun và quần đùi. Trời rất lạnh mà em lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến lượt của em thì chắc chẳng còn thức ăn nên mới lại hỏi thăm.

Em kể khi đang học ở trường trong giờ thể dục thì động đất và sóng thần đến, cha của em làm việc gần đó đã chạy đến trường, từ ban công lầu 3 của trường em nhìn thấy chiếc xe và cha bị nước cuốn trôi, nhiều khả năng đã chết.

Hỏi mẹ đâu, em nói nhà em nằm ngay bờ biển, mẹ và em em chắc cũng không chạy kịp. Thằng nhỏ quay người lau vội dòng nước mắt khi nghe hỏi đến thân nhân.

Nhìn thấy em nhỏ lạnh, tôi mới cởi cái áo khoác cảnh sát trùm lên người em nhỏ. Vô tình bao lương khô khẩu phần ăn tối của tôi bị rơi ra ngoài, tôi nhặt lên đưa cho em và nói: "Đợi tới phiên của con chắc hết thức ăn, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, con ăn đi cho đỡ đói". Cậu bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn. Tôi tưởng em sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó nhưng không phải, cậu bé ôm bao lương khô đi thẳng lên chỗ những người đang phát thực phẩm và để bao lương khô vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi lại quay lại xếp hàng.

Ngạc nhiên vô cùng, tôi hỏi tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Cậu bé trả lời: "Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ".

Tôi nghe xong vội quay mặt đi chỗ khác khóc, để mọi người không nhìn thấy. Thật cảm động. Không ngờ một đứa nhỏ 9 tuổi mới học lớp 3 đã có thể dạy tôi một bài học làm người trong lúc khốn khó nhất. Một bài học vô cùng cảm động về sự hy sinh. Một dân tộc với những đứa trẻ 9 tuổi đã biết nhẫn nại, chịu gian khổ và chấp nhận hy sinh cho người khác chắc chắn là một dân tộc vĩ đại.

Đất nước này đang đứng ở trong những giờ phút nguy cấp nhất của sự điêu tàn, nhưng chắc chắn nó sẽ hồi sinh mạnh hơn nhờ những công dân biết hy sinh bản thân ngay từ tuổi niên thiếu.


lemac@yahoo.com


Nguồn: Dân Trí

Vu Trong Nghia
17/03/11, 06:09 PM
Người Nhật Bản trước giờ họ sống với nhau như những cô hồn,đi làm cả tuần,được ngày nghỉ chỉ nghỉ ngơi,đầu tuần đi làm tiếp,có tụ tập như VN đâu, vậy mà khi khó khăn tới cả dân tộc đồng lòng khiến thế giới phải ngưỡng mộ

namqng
17/03/11, 07:57 PM
V-League: Chuyện người Nhật
Thứ tư, ngày 16 tháng 03 năm 2011 cập nhật lúc 20:43

Sau thảm họa chẳng khác thời Thế chiến II, thế giới càng sửng sốt trước cách tiếp nhận, ứng xử và đứng lên của người dân xứ hoa Anh Đào.

Bạn hẳn ấm lòng khi gặp những hình ảnh trên TV chiếu cảnh tại những nơi hàng hóa do các tổ chức cứu trợ được đưa tới, mọi người xếp hàng đúng trật tự, lịch sự, bình tĩnh và không cuộc ẩu đả, xô đẩy hay tranh giành. Các siêu thị Nhật đã giảm giá mạnh và các chủ sở hữu máy bán hàng tự động đã mở các máy bán hàng, phân phát nước uống miễn phí cho các nhân viên cứu trợ, nhân viên khẩn cấp và những người tình nguyện tham gia trợ giúp trong thảm họa.

Và đặc biệt nhất là bất chấp sự tàn phá và sự khan hiếm hàng hóa, không xảy ra cảnh cướp bóc. Đối lập với các thảm họa thiên nhiên gần đây trên khắp thế giới, người Nhật đoàn kết và cư xử có trật tự, thay vì tận dụng cuộc khủng hoảng để tư lợi cá nhân.

May mà chuyện đó xảy ra ở Nhật, liệu có ai trong số chúng ta thốt lên như thế, khi những cảnh đau lòng như cướp bóc, đầu cơ trên bị kịch của người dân sau thảm họa ở nhiều quốc gia, chẳng còn xa lạ, gây phẫn nộ và đắng cay?




HLV Phạm Công Lộc của TĐCS.ĐT đang vô cùng lo lắng vì tiền đạo chủ lực Samson lại bị chèo kéo trái phép



Con người ta, chỉ những lúc lâm vào bi đát nhất, thì văn hóa, bản lĩnh cùng khí chất mới thể hiện một cách đầy đủ và toàn diện.

Cách đây 3 năm (2007), trong vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ liên quan đến người Nhật, nỗi đau của chúng ta nguôi ngoai rất nhiều trước thiện chí của Chính phủ Nhật Bản. Hình ảnh đại diện của họ cúi gập người xin lỗi Việt Nam và gia đình các nạn nhân thực sự nói lên nhiều điều. Đấy là văn hóa xin lỗi.

Trong 2 thập kỷ qua, người Nhật cũng đã giúp VN không ít, nhất là khoản viện trợ ODA. Thật ra, khoản tiền ODA được trích từ ngân sách quốc gia Nhật Bản, tức tiền do dân chúng đóng góp qua thuế má. Dân chúng, Quốc hội và Chính phủ Nhật dành một khoản ngoài việc lo cho đời sống dân Nhật, để giúp dân chúng các nước khác phát triển, cải thiện đời sống.

Với bóng đá, có câu chuyện đáng suy ngẫm, cũng liên quan đến người Nhật. Trận giao hữu năm 1959 với ĐTVN, lúc đó, Nhật Bản vẫn phải năn nỉ ĐTVN thi đấu giao hữu để học hỏi. Tan trận, người Nhật tặng cho những nhà làm bóng đá Việt Nam một đôi giày với lời nhận xét chân tình: “Bóng đá Nhật chỉ là chiếc giày nhỏ so với bóng đá VN”.

Vậy mà giờ đây, bóng đá Nhật Bản đã phát triển kỳ diệu ở đấu trường châu lục và quốc tế. Ngày càng có nhiều cầu thủ xứ Phù Tang thành danh ở trời Âu.

Còn chúng ta đến nay vẫn loay hoay trong việc xác định đẳng cấp, đi tìm bản ngã. Đã 20 năm hội nhập vẫn chưa lần tìm được hương vị đoạt HCV ở đấu trường SEA Games. Đã nhiều lần thảm họa mang tên bóng đá xảy ra, đằng sau đó là sự mất phương hướng, luẩn quẩn.

Ở sân cỏ nội, nếu sự hỗn loạn không có chế tài kiểm soát và bạo lực vẫn tung hoành, CLB này nhăm nhăm cướp quân của đội kia, thì khán giả sẽ chỉ được xem thứ bóng đá tàn nhẫn!

Samson, chân sút ngoại của TĐCS.ĐT, đang “ngã bệnh” vì bị chèo kéo, thông tin đó chẳng có gì lạ khi tình trạng cướp quân của nhau ngày càng trắng trợn, do không ai có thể kiểm soát đầy đủ. Sự hỗn loạn của thị trường chuyển nhượng đang khiến cho một bộ phận có cơ hội tận dụng tối đa để làm việc mờ ám, tiền chảy về túi họ nhưng bóng đá chuyên nghiệp thì bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Trong những ngày này, nghĩ từ chuyện người Nhật sau thảm họa, chuyện họ ví von nền bóng đá Nhật so với bóng đá VN chỉ nhỏ xíu như đôi giày cách đây 52 năm, mới thấy bóng đá VN đang có quá nhiều vấn đề cần phải cách mạng triệt để. Đấy không còn là chuyện riêng của bóng đá.

(Theo Thể Thao Văn Hoá)

namqng
19/03/11, 10:57 AM
Bài học từ nước Nhật
19/03/2011 1:00


Hình ảnh em bé 9 tuổi người Nhật từ chối khẩu phần ăn do một cảnh sát người Nhật gốc Việt cho riêng mình để bỏ vào thùng cứu trợ chung hay cảnh từng đoàn người nhẫn nại xếp từng hàng, lặng lẽ cúi gập đầu nói cảm ơn, xin lỗi khi nhận lương thực cứu trợ đã làm lay động trái tim hàng triệu người VN.
Tôi rớt nước mắt với niềm khâm phục tột cùng khi đọc những bài viết như thế. Tôi bèn in ra để đọc cho con trai nghe. Con tôi 4 tuổi, dù không biết người Nhật là ai, động đất là gì, nhưng tôi muốn khi nghe những câu chuyện như thế, cháu biết được rằng con người sống phải biết yêu thương, chia sẻ nhau.

Nước Nhật qua trận động đất, sóng thần, khủng hoảng hạt nhân trong gần tuần qua đã khiến thế giới cảm mến hơn, ngưỡng mộ hơn trước tình người, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết vượt qua khó khăn của một dân tộc.

Điều này không thể có được ngày một ngày hai mà phải là một quá trình giáo dục dài lâu để trở thành văn hóa ứng xử với cộng đồng.

Học đường ở VN hình như ít quan tâm đến việc dạy dỗ ứng xử mà chỉ chú tâm vào chuyện thi cử, điểm số dẫn đến một thực trạng đáng lo là nhiều người trẻ biết đến mình nhiều hơn những người xung quanh, dửng dưng trước cộng đồng, không quan tâm đến người khác.

Tôi vừa nhận một bức thư được gửi từ các học sinh lớp 12 của một trường THPT công lập ở Q.4, TP.HCM. Bức thư viết: “Bắt đầu từ 6 giờ 30 phút sáng là màn truy bài đầu giờ và trở về nhà lúc 10 giờ đêm. Sau đó, tụi em lại phải thức khuya học bài để sáng hôm sau hoàn thành màn khảo bài buổi sáng. Khi chúng em phản đối với lịch học kín mít như thế này, giáo viên chủ nhiệm chỉ đáp gọn lỏn: “Không chịu được thì xin chuyển trường!”.

Thi cử đã là nỗi ám ảnh đối với học sinh ngay từ khi các em mới bước vào lớp 1. Học để thi, đó cũng là mục tiêu chính không chỉ riêng học sinh, phụ huynh mà các trường đã, đang và tiếp tục hướng đến trong bối cảnh ngành giáo dục đang chịu áp lực về chỉ tiêu, tỷ lệ đậu tốt nghiệp. Thường phụ huynh chỉ quan tâm đến việc con mình được bao nhiêu điểm, học được kiến thức gì chứ ít ai lưu tâm đến việc học sinh có được dạy dỗ về cách hành xử, ứng xử với mọi người. Chỉ số hài lòng hay không hài lòng giữa nhà trường và phụ huynh hầu như đều dựa vào điểm số.

Một giáo viên dạy văn có thâm niên 24 năm buồn bã nói với tôi rằng, nếu trước kia, môn Văn được xem là môn dạy làm người thì bây giờ trong tiết Văn học sinh lấy bài tập Toán ra giải là chuyện bình thường. Dù không muốn bị cuốn theo cách thức dạy để thi, học để thi nhưng do áp lực của nhà trường, do chương trình học đã phân bố sẵn, các giáo viên không thể dành thời gian dạy cho các em những điều cần thiết trong việc đối nhân xử thế để cuộc sống tốt đẹp hơn.

Trong cơn hoạn nạn, xã hội Nhật đã thể hiện rõ nét những thành công của họ khi thực hiện dạy và học theo tinh thần mà Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đề ra từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Đó là: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người.

Phi Loan

Theo Thanh nien online

namqng
31/03/11, 07:27 PM
Mở hộp đen đầu tàu đâm xe khách làm 9 người chết

Cơ quan chức năng đã mở hộp đen ghi lại hành trình đoàn tàu SE8, kết quả cho thấy trước khi gây tai nạn thảm khốc tại Thường Tín (Hà Nội) chiều 30/3, lái tàu đã chạy với tốc độ dưới mức cho phép.
>'Tôi đã hãm phanh khẩn cấp khi xe khách cố vượt'/ Tàu hỏa húc xe khách, 9 người đi ăn cưới tử nạn

Trao đổi với VnExpress, ông Phạm Văn Bình, Trưởng ban An toàn giao thông, Tổng công ty Đường sắt cho biết, với sự chứng kiến của nhà tàu và công an, hộp đen đầu máy tàu SE8 đã được mở sáng 31/3.

Kết quả cho thấy, tai nạn xảy ra lúc 14h57 ngày 30/3, tại km18+800 khu gian Thường Tín - chợ Tía. Trước thời điểm này tàu chạy 76 km/h, trong khi tốc độ cho phép 80 km/h.

"Tôi khẳng định rằng đường sắt Việt Nam không hề vi phạm quy định về an toàn giao thông", ông Bình nói và cho hay đã xuống hỗ trợ trực tiếp 2 triệu đồng cho thân nhân có người chết và một triệu đồng cho mỗi người bị thương.


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/82/6c/xe-khach.jpg
Kết quả điều tra ban đầu cho thấy xe khách vừa xuất phát được 5 phút thì xảy ra tai nạn thảm khốc. Ảnh: Hoàng Hà.
Theo Công an huyện Thường Tín, tài xế xe khách gây tai nạn là Nguyễn Thế Hùng (sinh năm 1981, quê ở Phổ Yên, Thái Nguyên) đã bị tạm giữ.

Bước đầu, tài xế khai nhận sáng 30/3 anh ta được thuê chở đoàn khách từ phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên đến xã Lê Lợi (Thường Tín, Hà Nội) ăn cưới. Đến 14h cùng ngày xe rời khỏi đám cưới đến một nhà người quen ở xã Nguyễn Trãi (Thường Tín) chơi. Và chỉ 5 phút sau khi rời khỏi xã Nguyễn Trãi, xe khách đã va chạm với tàu hỏa.

Trao đổi với VnExpress chiều 31/3, bác sĩ Nguyễn Thanh Tùng, người trực tiếp chăm sóc cho các bệnh nhân ở Bệnh viện Nông Nghiệp cho hay, sau một ngày điều trị, các nạn nhân đã tiến triển tốt. Bị thương nặng và nhiều tuổi nhất là bà Vương Thị Hay (97 tuổi) đã dần hồi phục.

"Tuy nhiên, tỉnh lại thấy được mất mát to lớn của gia đình, cộng thêm nhiều người nhà xuống thăm nom khóc lóc đã làm tâm trạng bệnh nhân không ổn định", bác sĩ Tùng nói.

2 nạn nhân khác được đưa đến Bệnh viện Việt Đức đã được phẫu thuật, hiện qua cơn nguy kịch.

Chiều 30/3, đoàn tàu SE8 từ TP HCM ra Hà Nội đã húc vào xe chở khách ở huyện Thường Tín (Hà Nội). 7 người tử nạn tại chỗ, 2 người khác chết trên đường tới bệnh viện. Nhiều người khác bị thương, riêng tài xế không bị làm sao.

Theo
Hoàng Thùy
Vnexpress.net

phgpc
02/04/11, 03:13 PM
Chiều 30/3, đoàn tàu SE8 từ TP HCM ra Hà Nội đã húc vào xe chở khách ở huyện Thường Tín (Hà Nội). 7 người tử nạn tại chỗ, 2 người khác chết trên đường tới bệnh viện. Nhiều người khác bị thương, riêng tài xế không bị làm sao......



Không bị làm sao mới lạ, chờ thử vài tháng nữa xem!

Vu Trong Nghia
26/04/11, 11:15 PM
(Tamnhin.net) - Hàng năm ngân sách dành cho ngành giao thông là rất lớn. Ngay cả khi nó được sử dụng đúng mục đích cũng còn khó cập nhật được với nhu cầu cải thiện về đường xá và hệ điều hành. Nhưng trên thực tế, có quá nhiều điều lố bịch và ít tác dụng...


Làm đường để… bỏ

Năm 2008, ngành giao thông tỉnh Thú Thọ chi một khoản tiền không nhỏ để nâng cấp, trải nhựa con đường quốc lộ 32 trong đó có đoạn từ cầu Gành (sang huyện Phong Châu) lên đến huyện Hạ Hòa, vùng thượng tỉnh. Nguồn kinh phí đợt này là hàng trăm tỷ đồng, nếu dùng cho mục đích xóa đói, giảm nghèo phải giải quyết đứt điểm được diện khó khăn cho vài huyện.

Ngay tại thời điểm này, từ người nông dân đến cán bộ cấp xã cũng đã biết rất tường tận chủ trương nhà nước sắp làm lại con đường này. Quy mô của con đường mới ở cung đường này là cao hơn đường cũ, chỗ thấp nhất là nửa mét, cao nhất thì mét rưỡi, chiều rộng hơn con đường cũ bình quân khoảng năm mét.



Đến nay, 80% tiến độ làm đường mới đã hoàn thành.

Như vậy, toàn bộ số công sá, nhựa đường, thiết kế, thi công con đường cũ lập tức trở thành vô dụng. Hiện nay nó không còn một chút dấu tích gì trên đoạn đường 50km này nữa. Một vị cán bộ hưu trí ở Sai Nga lắc đầu cám cảnh: nếu kinh phí này không đổ xuống đây mà đem tu bổ cho khoảng 100km đường đất trong huyện thuộc những xã Tam Sơn, Cấp Dẫn, Hương Lung, Đồng Cam… thì hay biết mấy.

Ở những nơi này, chỉ cần có con đường không lầy thụt, ổ gà cho bà con đi đã sướng lắm rồi, mà mong ước bao nhiêu năm nay chưa được. Có nơi, nắng ráo thì có đường, mưa là hết đi nổi!

Bàn về cái “mốt” giống "Tây"

Hiện nay, ở cửa ngõ một số thành phố lớn có xây dựng những bảng hiệu điện tử khổng lồ, đen sì. Những bảng này, thực chất là một thang bậc của thứ văn hóa giao thông cao cấp. Nếu dùng đúng, nếu “hợp cảnh hợp thời” thì cũng có chút xíu tác dụng. Ấy là khi nó được nối mạng với một hệ điều hành tích cực, sống động và khoa học để phản ảnh đúng những thứ người đi đường cần.

Nhưng, nói vậy chứ nó cũng chỉ cần, chỉ hợp với những hoàn cảnh đường xá cũng “giống tây”, cũng thông thoáng và người cầm lái còn có chút thời gian để ngắm nghía.

Còn ở Việt Nam, từ khi tiếp thu đến lúc đại tu hoặc sắp nghỉ hưu, phần lớn nó chỉ dùng để “Kính chào quý khách” và vài khẩu hiệu kiểu người tốt việc tốt, trong khi đường xá ở ta, hoàn cảnh giao thông xứ ta thì người đi đường phải dán mắt vào đường, tập trung hết tinh lực vào tay lái mà còn gay go huống gì vừa đi vừa ngắm “đáp lễ” cái bảng đen kia.

Chính vì thế mà có những cái như cái chăng ngang cửa ngõ ở ngã tư cầu vượt Bình Phước thường xuyên “nghỉ giải lao”, cứ tại vị đó với màn hình đen ngòm hàng tháng cũng chả ai thắc mắc gì.

Ấy thế nhưng được biết, để có vài chục “chú” như vậy, kinh phí mua sắm, lắp đặt và vận hành cái món “giống tây” này cũng toàn tỷ là tỷ cả. Công nghệ cao không đùa với tiền bạc.

Sơn đường, giá bao nhiêu?

Có thể nói, ngành kiều lộ nước ta là ngành cực kỳ… vui tính. Phạm vi áp dụng, kiểu cách trình bày, cung cách sáng tạo ra môi trường… tiêu thụ sơn phải nói là cực kỳ phong phú, không ai giống ai. Không chỗ nào giống chỗ nào.

Có chỗ, như ở địa phận Quảng Ngãi, Quảng Nam việc sơn đường đạt đến hiệu ứng gần như… nghệ thuật. Nó lượn lờ, trắng xóa cả vài trăm mét đường.



Có chỗ, nó tạo ra hình ảnh một sân đậu cho đĩa bay ngoài hành tinh hay cái gì đại loại như vậy.



Trên đầu bài là những mũi tên chỉ về cái hướng mà nếu xe không đi theo hướng đó thì cũng không biết đi về đâu, chẳng lẽ rẽ xuống… nhà dân hai bên đường. Nhưng sơn được, cứ sơn. Còn tiền, còn sơn!

Vì nằm ở chỗ có mật độ xe cộ qua lại rất dày nên chỉ vài tháng, lớp sơn rất dày, rất tốn kém này bong tróc hết, lại sơn.

Ở đại lộ Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh, TP.HCM đoạn từ khu vực vòng xoay gần Bộ Nông nghiệp vào Hai Bà Trưng, mỗi đầu điểm giao cắt lại “chơi” một ô vuông có kẻ chéo trong ruột như một loại cờ quạt gì đó. Vài tháng mòn hết, lại sơn lại.

Ở miền Tây Nam bộ, ngay giữa đường thỉnh thoảng làm một ô vuông lối một mét vuông hình thoi, hỏi cảnh sát giao thông cũng chịu, chẳng biết nó là cái giống gì.

Cần chỉ rõ rằng, tất cả các kiểu “trang trí” hay kích cầu cho ngành sản xuất, kinh doanh sơn trong những dẫn chứng trên không có trong quy định của pháp luật, trừ vạch sơn phân ranh giới giữa hai làn đường.

Tóm lại, đã đến lúc các cơ quan quản lý, phân bổ ngân sách nhà nước phải lưu tâm đến những kiểu cách tiêu tiền của ngành giao thông trong những động thái như nêu trong bài này.

Bài và ảnh: Nguyễn Huy Cườnghttp://http://tamnhin.net/tieu-diem/10494/Son-duong-gia-bao-nhieu.html

Ruyubang_do
26/04/11, 11:21 PM
Sơn đường, giá bao nhiêu?
Tay nhà báo viết bừa chứ có biết VN có tiêu chuẩn sơn vạch đường bộ hay ko, kích thước, màu, định mức sơn. Mấy ông kia làm bậy, đừng quy kết ngành giao thông VN ko có quy trình

Ruyubang_do
27/04/11, 06:30 AM
Bức tranh gốm sứ khổng lồ phô bày cả “dặm dài văn hóa Việt” Kỷ lục Guinness thế giới hiếm hoi về văn hóa của Việt Nam đang phải chịu những ứng xử thiếu văn hóa của người dân thủ đô…

[/URL]http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-con_duong_gom_su_ha_noi.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-con_duong_gom_su_ha_noi.jpg)

Con đường gốm sứ Hà Nội được ghi danh vào sách kỷ lục Guinness ngày 5/10/2010.

Với chiều dài 3.850m, bắt đầu từ cửa khẩu An Dương và kết thúc tại cửa khẩu Tân Ấp trên đường Yên Phụ, đạt tổng diện tích 6.950m2 bao gồm 21 trường đoạn, con đường gốm sứ Hà Nội đã chính thức được sách kỷ lục thế giới Guinness ghi nhận là “Bức tranh ghép gốm sứ lớn nhất thế giới” vào ngày 05/10/2010, phá vỡ kỷ lục trước đó của một tác phẩm gốm sứ Trung Quốc ở thành phố Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang.
Chỉ sau ngày được ghi nhận vào sách kỷ lục Guinness thế giới hơn nửa năm, “bức tranh gốm sứ lớn nhất thế giới” đã bị xuống cấp, xuất hiện nhiều vết nứt ngang dọc, bị biển quảng cáo xâm lấn, gây hư hại. Tại nhiều đoạn đường, các quán nước vỉa hè điềm nhiên mọc lên, tập kết hàng hóa thùng sọt, dán tờ rơi quảng cáo che khuất tranh, rất mất mỹ quan. Có đoạn người dân hóa vàng mã, đốt rác làm cháy nham nhở tranh gốm, thậm chí có kẻ còn vô tâm, vô văn hóa đến mức “tè bậy” lên cả… “dặm dài văn hóa”.

http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-bien_quang_cao_chem_che_ngu_tren_ky_luc_guinness.j pg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-bien_quang_cao_chem_che_ngu_tren_ky_luc_guinness.j pg)
Biển quảng cáo chễm trệ ngự trên Kỷ lục Guinness. http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-bien_quang_cao_xam_lan.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-bien_quang_cao_xam_lan.jpg)
Và kết quả là...
http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-day_la_hanh_dong_gi_-_anh_tien_phong.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-day_la_hanh_dong_gi_-_anh_tien_phong.jpg)
Hành động "khó hiểu" (Ảnh: Tiền phong). http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-va_day_nua_-_anh_tuoi_tre-20110422153539-cwdvce2ffe.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-va_day_nua_-_anh_tuoi_tre-20110422153539-cwdvce2ffe.jpg)
Và đây nữa (Ảnh: Tuổi trẻ).

Dường như ở Việt Nam, sau mỗi dịp đại lễ, các cơ quan chức năng thường có thói quen thờ ơ với di tích, công trình văn hóa. Hoặc có làm thì cũng không triệt để. Thiết nghĩ, một kỷ lục Guiness thế giới quan trọng của quốc gia mà bị “hắt hủi” như vậy thật khiến nhiều người đắng lòng. Ngay bây giờ, các cơ quan chức năng cần kịp thời tu bổ những đoạn tranh gốm bị nứt, thi hành chính sách quản lý chặt chẽ đối với các hành vi xâm lấn, vi phạm, phá hoại công trình này trên tất cả các đoạn đường. Thậm chí cũng nên lập ra một ban quản lý riêng cho cung đường để mỗi ngày có nhân viên tuần tra, bảo vệ nhằm hạn chế những hành vi gây mất mỹ quan đô thị, làm hoen ố công trình văn hóa tầm vóc này.

http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-tap_ket_hang_hoa_xam_lan_con_duong_gom_su.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-tap_ket_hang_hoa_xam_lan_con_duong_gom_su.jpg)
Tập kết hàng hóa...
http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-dot_rac_thai_lam_chay_den_chan_hac.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-dot_rac_thai_lam_chay_den_chan_hac.jpg)
Đốt rác thải tới nỗi chân hạc cũng bị... cháy đen thui! http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-via_he_day_rac.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-via_he_day_rac.jpg)
Vỉa hè đầy rác
[URL="http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_dan_to_roi.jpg"]http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_dan_to_roi.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_dan_to_roi.jpg)
Một tờ rơi vừa được bóc đi vẫn còn để lại vết lem nhem.

Xuất phát từ ý tưởng độc đáo của nhà báo, họa sĩ Nguyễn Thu Thủy và phải mất gần 4 năm để hoàn thành (3/2007 – 10/2010). Công trình có sự tham gia của 20 họa sĩ Việt Nam, 15 họa sĩ quốc tế, 500 em thiếu nhi Việt Nam và quốc tế, 50 sinh viên mỹ thuật, hơn 100 nghệ nhân từ nhiều làng nghề gốm nổi tiếng khắp cả nước.
Bức tranh gốm sứ khổng lồ sau đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, phác họa lịch sử văn hóa Việt Nam, các danh lam thắng cảnh cùng những tinh hoa của các làng nghề gốm truyền thống như Bát Tràng, Phù Lãng, Chu Đậu, Bình Dương, Vĩnh Long, Bàu Trúc… Công trình này là một sự kiện lớn nhằm kỷ niệm thủ đô Hà Nội tròn 1000 năm tuổi.
Vẻ đẹp mê hồn và sự lắng sâu các giá trị văn hóa, nhân văn, lịch sử, mỹ thuật… của con đường gốm sứ độc đáo này đã trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của bạn bè quốc tế và nhận được rất nhiều khen ngợi.
Tại buổi lễ khánh thành công trình kỷ lục này, bà Beatriz Garcia Fernandez, đại diện Tổ chức Guinness Kỷ lục Thế giới ghi nhận: “Đây là một công trình nghệ thuật cộng đồng rất ấn tượng, bởi từ khi được khởi động vào đầu năm 2007 nó đã tập hợp được mọi người ở các hoàn cảnh khác nhau, không chỉ từ Việt Nam mà còn từ khắp nơi trên thế giới…”.
Giáo sư sử học Lê Văn Lan hết lời ca ngợi: “Tôi cho đây là một ý tưởng hay, là một sáng kiến. Có thể nói cao hơn nữa thậm chí là một phát kiến. Chúng ta hàng ngày đi qua con đường đê xám xịt, bị thu hẹp không gian lại của xi măng vững chãi. Chỉ có chị Thu Thủy trên cái sự cứng hóa đã nảy ra ý tưởng tạo cho nó vẻ đẹp, màu sắc, hình ảnh mà lâu nay ta chẳng nhìn ra…”.
Những lời khen ngợi chưa dứt thì những tiếng chuông cảnh báo về một vấn nạn ứng xử với công trình văn hóa của người Việt lại được gióng lên giục giã!

Sau đây là những hình ảnh nứt vỡ, bong tróc trên Con đường gốm sứ:


http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-doan_noi_cac_buc_tuong_gom_bi_nut.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-doan_noi_cac_buc_tuong_gom_bi_nut.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-dut_gay.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-dut_gay.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-mot_khuc_lo_duoi_chan_buc_tuong.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-mot_khuc_lo_duoi_chan_buc_tuong.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-mot_vet_nut_kha_lon.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-mot_vet_nut_kha_lon.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-troc_lo_tung_mang.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-troc_lo_tung_mang.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_gay_cua_manh_gom.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_gay_cua_manh_gom.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_nut_doc_kha_dai.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_nut_doc_kha_dai.jpg) http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_troc_lo_vua_tu_bo_nhung_khap_khieng_so_voi_ban _dau.jpg (http://www.www.info.vn/images/plg_imagesized/66283-vet_troc_lo_vua_tu_bo_nhung_khap_khieng_so_voi_ban _dau.jpg)
Một mảng bị bong tróc mới được tu sửa nhưng có vẻ thiếu ăn nhập với nền tranh cũ.


http://www.www.info.vn/xa-hoi/loi-song/66283-Con-duong-gom-su-Ha-Noi-dang-bi-ung-xu-thieu-van-hoa.html

Ruyubang_do
27/04/11, 01:50 PM
'Bệnh' thích mua hàng niêm yết bằng đôla

Tâm lý sính ngoại, thích thú khi được xài đôla của một bộ phận người tiêu dùng được cho là một những nguyên nhân khiến cho nhiều dịch vụ, hàng hóa dành cho người Việt Nam vẫn được niêm yết bằng ngoại tệ.

Gọi điện đặt vé tại một sân golf ở xã Kim Nỗ (Đông Anh, Hà Nội), anh Quân nhà ở Cầu Giấy (Hà Nội) được nhân viên ở đây báo giá bằng USD. Giá ngày thường cho khách lẻ đi cùng hội viên là 131,1 USD một người, cuối tuần 159,5 USD. Phí mua thẻ hội viên chơi golf tại đây là hơn 2.000 USD một năm.
Tuy nhiên, theo tiết lộ của chị nhân viên, song song với niêm yết bằng USD, công ty cũng tạo điều kiện để khách trả tiền VND theo tỷ giá của ngân hàng, khoảng 20.800 đồng một USD.


[/URL]http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/91/64/anh-san-golf.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/91/64/anh-san-golf.jpg)



Giá niêm yết tại một số sân golf vẫn bằng đồng đôla được lý giải là do người đến chơi phần lớn thuộc tầng lớp thượng lưu, hoặc người nước ngoài

Thắc mắc việc báo giá bằng đôla dù khách là người Việt, anh Quân được giải thích, đây là quy định và chẳng mấy người phàn nàn. Người tìm đến bộ môn thể thao quý tộc này phần lớn thuộc giới thượng lưu.
"Họ có tiền và chẳng quan tâm đến giá tính bằng đôla hay tiền Việt. Thậm chí, có những người còn sẵn sàng 'bo' cho caddie (phục vụ người chơi golf) vượt mức quy định tới cả chục USD một lần", chị nhân viên nói.
Tại một nhà hàng hạng sang trên phố Quán Sứ (Hà Nội), thực đơn ghi rõ giá các món ăn bằng tiền đô, 5 USD một cốc chè trân châu xoài bưởi, 10 USD một đĩa thịt thăn lợn nướng mật ong, 36 USD một con vịt quay thượng hạng, hơn 200 USD một nồi súp vây cá…. Nếu quy ra tiền Việt, mức giá này lần lượt dao động từ khoảng hơn 100.000 đồng đến hơn 4 triệu đồng một món.
Theo giải thích của nhân viên nhà hàng, việc niêm yết giá bằng USD là để đảm bảo tính sang trọng của các món ăn và là một cách để chiều lòng khách. "Khách thuộc giới thượng lưu thường có tâm lý sính đồ ngoại, nên việc báo giá bằng tiền Việt sẽ vô tình hạ thấp giá trị các món ăn, mà chuỗi số tiền Việt dài lê thê có khi khiến thực khách bực mình", nhân viên này nói. Mốt niêm yết giá bằng ngoại tệ còn được áp dụng với một số dịch vụ gắn đuôi "quốc tế". Một trong số đó là bán, cho thuê tên miền hay học phí học ngoại ngữ và kỹ năng dành cho trẻ em.
Nhân viên một trung tâm tiếng Anh dành cho trẻ em niêm yết học phí khóa hịc kỹ năng 299 USD nói phần mềm được mua bản quyền từ nước ngoài, nên học sinh dù là người Việt Nam vẫn phải thanh toán bằng đôla. Ngoài ra theo chị này, việc niêm yết bằng USD còn khiến nhiều phụ huynh hứng thú hơn. "Phần vì nó mang tầm quốc tế, phần vì người mẹ nào chẳng thích hơn khi khoe con học bằng đôla, trong khi nói giá đó tiền Việt lại không sang bằng", chị nói.
Anh Dậu, chủ sở hữu một website bán và cho thuê tên miền cũng nói, những tên có đuôi .com, .net… là tên quốc tế nên giá cũng phải "quốc tế" theo. Chẳng hạn giá tên miền shoptui.com được anh Dậu báo là 300 USD, không bớt, tỷ giá tròn 21.000 đồng một USD. "Khi mua tên miền, chúng tôi cũng phải trả bằng đôla, nên cũng khó có thể bán được cho khách theo giá khác, chỉ có thể ưu đãi một chút", anh Dậu nói. Anh cũng thừa nhận, các tên miền có kiểu đuôi .com hay .net vẫn là tên miền "hot" hơn cả và được nhiều người quan tâm.

http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/91/64/dla-1.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/91/64/dla-1.jpg)
Bán và cho thuê tên miền cũng là một trong những dịch vụ được niêm yết bằng đôla.


Chị Thịnh bán hàng hiệu xách tay kể, có khách đến mua kính mắt được báo giá 4 triệu đồng õng ẹo mãi không mua vì nghi ngờ không phải hàng hiệu xách tay. Tuy nhiên, lần nhập hàng sau, vẫn sản phẩm này, chị phát giá 2.000 USD thì không cần mặc cả, người khách này lại mua ngay lập tức. Chuyện này xảy ra thường xuyên đến mức, giờ cứ nhìn thấy khách ăn mặc sang trọng, đi xe sang, xài đồ xịn đến mua hàng, thì không cần biết khách Tây hay khách ta, chị đều báo giá bằng USD.
Dù vậy, không phải ai thuộc giới thượng lưu cũng chấp nhận giá dịch vụ được niêm yết bằng đôla. Anh Hồng, nhà ở Lý Thường Kiệt (Hà Nội), một đại gia bất động sản nói, những người được gọi là có tiền cũng phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm được đồng tiền. Do đó, nếu như gặp phải dịch vụ dành cho người Việt mà lại bán giá đôla, họ vẫn phải tính toán.
"Những trường hợp sẵn sàng chấp nhận người bán áp dụng giá đôla tự do, thậm chí cho những mặt hàng chẳng liên quan gì đến 'quốc tế', thì cần phải xem lại cách tiêu tiều", anh Hồng nói thẳng. Theo anh, đây rõ ràng là hành động đi trái với chủ trương chống đôla hóa của Nhà nước.
Trao đổi với VnExpress.net, ông Nguyễn Văn Hưng- Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hà Nội khẳng định các quy định hiện hành nghiêm cấm dùng ngoại tệ để niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ một số đối tượng hạn hẹp có liên quan tới khách quốc tế.
Theo ông, những lời giải thích của người kinh doanh rằng sản phẩm nhập nguyên liệu từ nước ngoài nên phải tính giá bằng đôla là không thỏa đáng. Người làm kinh doanh phải biết tự quản trị chi phí đầu vào cũng như giá bán để làm sao không vi phạm quy định của Nhà nước mà vẫn có lãi. Chuyện dùng đồng tiền nước khác để tính giá cho sản phẩm bán tại lãnh thổ Việt Nam là điều không thể chấp nhận dù vì bất cứ lý do gì, ông nói.
Theo Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hà Nội, chế tài phạt chưa đủ nặng là một trong những nguyên nhân chính khiến cho tình trạng vi phạm về niêm yết giá, báo giá bằng ngoại tệ, điển hình là đồng đôla Mỹ vẫn tồn tại.
Ông thông tin, Ngân hàng Nhà nước đang có dự thảo trình Chính phủ xem xét tăng nặng mức phạt đối với các hành vi quảng cáo, niêm yết giá bằng ngoại tệ. Theo đó, số tiền phạt cho mỗi lần vi phạm có thể lên đến hàng trăm triệu đồng thay vì chỉ 30 triệu đồng như trước và được áp dụng trong một vài tháng tới.
[U](Link bài viết gốc) (http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/04/benh-thich-mua-hang-niem-yet-bang-dola/)

Việc "sính ngoại" này khiến cho tình hình tài khóa ngoại hối của nước ta đã gặp khó khăn lại càng trở ngại thêm về cung-cầu tiền. ODA của Nhật hứa thì có đó, nhưng bao giờ có, ai biết??? Nhập siêu nên cần nhiều ngoại tệ, chi tiêu bằng đô (ngoại tệ) chỉ khiến đô trên thị trường càng khan hiếm hơn. Đô khan hiếm khiên nhà nước thắt chặt tài khóa, lãi suất vay tăng vọt --> nhà đầu tư vừa và nhỏ không đủ sức vay để sản xuất kinh doanh, mà loại hình này chiếm tới gần 80% tỷ trọng nền kinh tế --> cung hàng hóa giảm. Khốn nạn cái là cung hàng hóa giảm kéo theo giá cả tăng, mà giá cả tăng thì chỉ có mà chết người dân. Cái vòng luẩn quẩn này cứ thế mà xoay quanh. Bớt tiêu ngoại tệ đi 1 chút cũng là đóng góp cho đất nước rồi.

limfx
27/04/11, 03:18 PM
"Sự im lặng của bầy cừu" và chuyện giao thông đô thị
Không biết tôi nên bắt đầu từ đâu nữa trong một mớ hỗn độn của các vấn đề mà ngày ngày, nó khiến biết bao người trong chúng ta sống từ bực bội này sang bực bội khác. Mỗi một vấn đề đều có những con người có trách nhiệm và... vô trách nhiệm đứng ra để tìm cách: 1 là giải quyết nó, 2 là bao biện nó.

Không "ông" nào nói chuyện với "ông" nào?

Trong bạt ngàn các chủ để được đưa ra bàn cãi thì vấn nạn giao thông dường như là 1 trong những chủ thể nặng ký nhất mà nó khiến cho cả xã hội phải đau đầu. Bởi đơn giản là từ khi người ta bước chân ra đường cho đến khi người ta về đến nhà mình, biết bao nhiêu nỗi thống khổ đã đeo bám theo bước chân nặng nề ấy của từng con người và không chừa ai cả.

Kẹt xe ở miền Nam, tắc đường ở miền Bắc trở thành chuyện thường ngày hơn cả cơm bữa. 2 thành phố lớn như TP HCM và Hà nội đang phải oằn mình gánh chịu sức nặng dân số gấp đền vài lần khả năng chống đỡ của nó. Ở đây, mỗi người dân không có cách nào khác là phải tự lo cho mình thôi.

Hậu quả là mạnh ai nấy lo, cần xe cứ mua, đường đông cứ đi. Và như thường lệ, nguyên nhân của vấn đề được nhanh chóng kết luận: Lỗi do người dân với quá nhiều phương tiện cá nhân. Và do vậy, để giải quyết nhanh chóng 1 vấn đề phức tạp trong khi tránh không phải suy nghĩ nhiều, giải pháp xưa như trái đất được đưa ra: Cấm!

Còn lần này, người ta không phải cấm mà là chỉ "cho phép" xe cá nhân đi theo các ngày chẵn lẻ tùy theo biển số của xe mình.

Hình như "ông" giao thông và "ông" quy hoạch không bao giờ nói chuyện với nhau thì phải. Từ bao năm nay, ông quy hoạch khi cấp phép cho hàng chục, hàng trăm dự án cao tầng trong trung tâm thành phố đã đều đưa ra các chỉ tiêu về mật độ, tầng cao, chức năng công trình, quy mô dân số...dường như rất khắt khe (với số lượng văn bản, quy định đồ sộ và thời gian chạy dự án đến cả vài năm).

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/Su-im-lang-cua-bay-cuu-2_1303813490.jpg
Chủ trương xe chẵn lẻ biến thành hiện thực, rất có thể xảy ra nhiều tình huống. Ảnh minh họa

Chắc chắn ông này phải dựa vào các điều kiện cụ thể để đưa ra các tiêu chí này. Không thể nào tự nhiên mà ông ấy đưa thêm mấy trăm ngàn, thậm chí cả triệu người vào trung tâm thành phố khi mà các con đường vẫn y nguyên chiều rộng xưa nay. Ông môi trường thì đánh giá chi tiết tác động thuộc mảng của mình. Ông xây dựng cũng soi thật kỹ trước khi cấp giấy phép khi mà 1 ông quan trọng nữa là ông phòng cháy đã duyệt phương án hành động trong trường hợp khẩn cấp (chữa cháy và cấp cứu giữa lúc kẹt xe chắc cũng được tính tới rồi).

Sơ sơ đã có 4, 5 ông biết câu chuyện này để tính toán cho ra trò. Vậy mà... chỉ tại người dân không có ý thức cứ dồn dập đi vào mấy quận trung tâm để làm việc gây bao nhiêu khó khăn cho thành phố.

Giải pháp hay sự đối phó?

Trở lại với quy định mới 1 khi nó được đưa vào thực tế: Trong trường hợp chủ trương xe chẵn lẻ biến thành hiện thực, rất có thể xảy ra nhiều tình huống. Những người giàu sẽ mua thêm xe, họ có thừa khả năng làm việc này. Thêm nữa, cả cái xe còn lo được nữa là lo 1 biển số chắn hay lẻ.

Thay vì cấm chẵn lẻ, tại sao ta không làm một việc mà khắp thế giới người ta đang làm: Tăng phí đậu xe, bến bãi. Thu phí giao thông cho xe lưu hành trong khu trung tâm. Bảo vệ, khuyến khích người đi bộ, xe đạp bằng cách giải phóng vỉa hè, làm thêm làn xe đạp, thậm chí hỗ trợ về mặt kinh tế cho đối tượng này. Tăng phát triển giao thông công cộng, thêm bến, tuyến, thêm làn xe buýt, thêm xe sạch đẹp. Giáo dục hành vi giao thông, ý thức môi trường cho mọi người dân, đặc biệt là trẻ em, học sinh phổ thông...

Và quan trọng hơn cả là mấy ông quy hoạch, giao thông, môi trường, xây dựng... họ ngồi lại "nói chuyện" với nhau trước khi làm, thì biết đâu dân chúng sẽ bớt khổ biết bao nhiêu.

Ta không thấy một sự ngẫu nhiên đáng kinh ngạc kia sao: Biết bao nhiêu người mua siêu xe thì cũng đa phần trong số đó "ngẫu nhiên" có được biển số đẹp. Vậy là chắc chắn sự ngẫu nhiên được biển chẵn, biển lẻ sẽ tạo điều kiện cải thiện kinh tế cho biết bao người có chức năng và thẩm quyền vấn đề này.

Và các công ty nữa, giờ cũng dành thêm ngân sách kiếm thêm xe để đi giao dịch nhé. Vì xe đều là biển trắng tư nhân mà. Rồi thêm chút chi phí kia để "sinh con" chẵn lẻ theo ý muốn chứ. Còn nữa, mấy xe ngoại tỉnh lên thành phố liên hệ công tác.

Thôi thì chọn ngày mà hẹn, chọn ngày mà đi. Hy vọng các cơ quan công quyền cũng sắp lịch làm việc dựa theo biển số lẻ chẵn của người dân nhé. Ui, thế mấy người sống trong khu vực phong tỏa theo lệnh lẻ chẵn mà muốn lấy xe của mình để đi ra khỏi trung tâm thành phố thì sao đây? Rồi giới hạn của khu vực đặc biệt (những con phố làm thí điểm) thế nào nhỉ, nếu bất ngờ một chiếc xe có biển số lẻ lại đi vào con đường mà ngày hôm đó là ngày chẵn?

Ở 1 đất nước mà thu nhập bình quân đầu người chỉ nhỉnh hơn 2 triệu đồng một tháng mà người ta mua được ô tô đã được cho là giàu rồi. Những người này chắc chắn sẽ khó mua thêm 1 xe nữa nhưng họ sẽ tự cứu lấy mình thôi. Qua tham khảo một số ý kiến của bạn bè thuộc tần lớp này, họ có mấy giải pháp sau:

- Lắp biển số giả thay vào xe tùy theo chẵn lẻ (!)

- Đi xe đến "giáp ranh vùng cấm, gửi xe ô tô, đi nhờ xe máy đồng nghiệp, đi xe buýt, đi xe ôm và cả đi bộ nếu có thể.

- Mua thêm xe máy để đi ngày lệch.

- Dùng phương tiện công cộng.

Và đến nhóm đang sử dụng xe máy: Nhóm sẽ thêm đông đúc do lượng người chuyển từ đi ô tô sang. Vậy là việc sử dụng xe máy lại được cổ súy. Bởi xe máy vốn dễ lái, giá hợp lý, đậu đâu cũng được, không nhất thiết phải biết luật, chạy trên đường, chạy ngược chiều, trên vỉa hè, quay đầu bất cứ đâu... Ông Bộ trưởng Giao thông có lý khi nói phải sống chung với xe máy đến năm 2030.

Đã thế, xe máy lại không bao giờ phải qua kiểm định cả. Nghĩa là xe sẽ cũ đi, gây ô nhiễm hơn, ồn ào hơn, tốn nhiên liệu hơn. Và một thực tế nữa là do công nghệ, máy móc cũ kỹ, 1 xe máy còn gây ô nhiễm hơn cả 1 xe hơi nữa.

Và cuối cùng, không biết mấy nước áp dụng chẵn lẻ người ta áp dụng quy định tương tự trong hoàn cảnh thế nào? Cách thức làm sao? Tình hình giao thông ra sao?

Thay vì cấm chẵn lẻ, tại sao ta không làm một việc mà khắp thế giới người ta đang làm: Tăng phí đậu xe, bến bãi. Thu phí giao thông cho xe lưu hành trong khu trung tâm. Bảo vệ, khuyến khích người đi bộ, xe đạp bằng cách giải phóng vỉa hè, làm thêm làn xe đạp, thậm chí hỗ trợ về mặt kinh tế cho đối tượng này. Tăng phát triển giao thông công cộng, thêm bến, tuyến, thêm làn xe buýt, thêm xe sạch đẹp. Giáo dục hành vi giao thông, ý thức môi trường cho mọi người dân, đặc biệt là trẻ em, học sinh phổ thông...

Và quan trọng hơn cả là mấy ông quy hoạch, giao thông, môi trường, xây dựng... họ ngồi lại "nói chuyện" với nhau trước khi làm, thì biết đâu dân chúng sẽ bớt khổ biết bao nhiêu.

Nguồn: Tuanvietnamnet

Bạn nhớ ghi nguồn bài viết!

tuanchau
09/05/11, 10:27 PM
Trích: báo dantri.com.vn
“Tôi làm tiến sĩ tốn 17.000 USD!”
"Tôi có học tại trường đại học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University) tại Hoa Kỳ. Trường này tọa lạc tại thành phố New York!".
>> Làm tiến sĩ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh
Ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc sở Văn hóa - thông tin và du lịch tỉnh Phú Thọ (nhân vật được đề cập trong bài “Làm tiến sĩ tại Mỹ nhưng không biết tiếng Anh”) khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị online chiều 17/6.

Tuy nhiên, khi PV đề nghị muốn xem tấm bằng tiến sĩ của ông thì ông Ân nói “để dịp khác”.


Ông Nguyễn Ngọc Ân: "Tôi học trường này là theo kiểu đào tạo từ xa, nên tôi học qua mạng, nộp trả bài cũng qua mạng".
Theo thông tin của một đồng nghiệp được đăng tải trên một tờ báo mạng, chúng tôi dễ dàng tìm được trường đại học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University) mà ông Ân “tu nghiệp”. Theo đó, Trường đại học Southern Pacific University nằm trong danh sách 50 trường đại học bị chính quyền bang Hawaii khởi tố, thua kiện và bị đóng cửa. Trường Southern Pacific University đã bị giải thể từ ngày 28/10/2003 theo phán quyết của tòa án Hawaii. Bằng cấp của trường Southern Pacific University không được Mỹ công nhận.

Còn trường đại học Nam Thái Bình Dương với tên chính thức là “The University of South Pacific” của Fiji, một quốc đảo gần Úc, mới là trường thật. Chúng tôi trao đổi với ông Ân về điều này và hỏi ông học ở Fiji hay Mỹ, ông Ân nói: “Có thể chỗ tôi học ở New York chỉ là phân viện của trường Southern Pacific University!”.

Thưa ông, ông có thể cho biết chi phí học để lấy bằng tiến sĩ của trường Southern Pacific University hết bao nhiêu?

Chắc cũng tốn hơn chục ngàn USD gì đấy!

Ông có thể nói rõ hơn?

17.000 USD!

Thưa ông, đó là kinh phí của tỉnh Phú Thọ hỗ trợ ông đi đào tạo tiến sĩ?

Không, đó là tiền cá nhân, còn tiền kinh phí hỗ trợ của tỉnh thì tôi chưa lấy, mặc dù tỉnh đã có quyết định rồi!

Khóa học cùng ông có bao nhiêu người Việt Nam học cùng ông, ở Phú Thọ có ai học cùng ông không?

Khoảng chín, mười người gì đó, họ đều ở Hà Nội, Thái Nguyên; còn ở Phú Thọ không có ai.

Ông có thể cho chúng tôi xem giáo trình, đĩa CD của trường phát cho ông để ông tự học?

Như tôi đã nói, tôi học trường này là theo kiểu đào tạo từ xa, nên tôi học qua mạng, nộp trả bài cũng qua mạng.

Vậy ông có thể cung cấp cho chúng tôi trang web của trường đại học của ông không?

Không, tôi không nhớ.

Cảm ơn ông!

Theo Hữu Lực- Hà Tuấn
Sài Gòn Tiếp Thị

p/s : Tin ni đã "cũ" ,nhưng mình mới đọc ,lại là tin "mới"

tuanchau
09/05/11, 10:34 PM
Trích: báo dantri.com.vn

Làm tiến sĩ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh
Hơn một tuần nay, dư luận tỉnh Phú Thọ xôn xao khi được biết ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và du lịch tỉnh Phú Thọ đã có học vị tiến sĩ với đề tài “Vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ”.
Sự việc bắt đầu từ khi ban tổ chức hát Xoan tỉnh Phú Thọ giới thiệu ông Ân là “tiến sĩ” làm nhiều người ngỡ ngàng, vì trước đó ông Ân chỉ là cử nhân tại chức kinh tế - quốc dân khóa 24 (lớp học được tổ chức tại thành phố Việt Trì).

Ông Nguyễn Ngọc Ân cho biết, ông có ý định làm tiến sĩ về đề tài này đã lâu. Tháng 6/2008, ông được bổ nhiệm làm giám đốc sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thì mọi việc mới bắt đầu với sự giúp sức của các cán bộ chuyên môn trong sở. Ông cũng cho biết học vị của mình là tiến sĩ kinh tế quản trị kinh doanh chứ không phải là tiến sĩ khoa học. Viện kinh tế (Bộ Tài chính) là nơi giới thiệu ông đi làm tiến sĩ tại trường đại học Nam Thái Bình Dương của Mỹ.
Ông Nguyễn Ngọc Ân khẳng định trong thời gian làm tiến sĩ có sang trường đại học Nam Thái Bình Dương để học hai đợt, mỗi đợt một tuần, được nghe giảng tiếng Anh qua phiên dịch sang tiếng Việt và ngay cả khi ông bảo vệ luận án cũng có người dịch cho ông từ đầu đến cuối.
Ông Ân khẳng định trong thời gian làm tiến sĩ từ tháng 2/2007 đến 9/2009, ông có sang trường đại học này để học hai đợt, mỗi đợt một tuần, được nghe giảng tiếng Anh qua phiên dịch sang tiếng Việt và ngay cả khi ông bảo vệ luận án cũng có người dịch cho ông từ đầu đến cuối.

Và ông cũng khẳng định ông tự học là chính thông qua tài liệu của trường đại học Nam Thái Bình Dương soạn bằng tiếng Việt và đĩa CD. Trường đại học Nam Thái Bình Dương cũng không yêu cầu những nghiên cứu sinh như ông Ân phải biết tiếng Anh, không phải thi đầu vào mà chỉ cần gửi đề cương sang cho họ… chỉnh sửa là được.

Ông Ân cũng cho hay, luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh của ông không có người hướng dẫn nhưng lại có tới ba người phản biện!

Trao đổi với chúng tôi, một lãnh đạo tỉnh Phú Thọ (xin được giấu tên) cho biết, khi ông Ân đi đào tạo tiến sĩ, tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí. Sau khi hết thời gian “tu nghiệp” ở Nam Thái Bình Dương (thực chất là ông vẫn làm việc tại tỉnh nhà), ông Ân cũng trình văn bằng tiến sĩ với Ban tổ chức tỉnh ủy và bằng đó là bằng thật.

Tuy nhiên, vị lãnh đạo tỉnh này cũng cho biết, quy trình đào tạo tiến sĩ của ông Ân “có vấn đề” vì Bộ Giáo dục - đào tạo đã có quy chế đào tạo tiến sĩ. Theo đó, nghiên cứu sinh phải có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học hệ chính quy loại khá trở lên, có thư giới thiệu của hai giáo sư hoặc phó giáo sư có uy tín giới thiệu. Và một điều kiện bắt buộc là phải có đủ trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế về chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án.

Theo Hữu Lực - Hà Tuấn
Sài Gòn tiếp thị

Hanoigio
24/05/11, 09:35 PM
Câu chuyện Cây táo

Có một cây táo rất to. Cậu bé con thường xuyên đến chơi quanh cây táo. Cậu trèo lên cây, ăn những quả táo chín đỏ và ngủ dưới tán cây. Cậu rất yêu cây táo và cây táo cũng vậy, rất thích chơi cùng cậu. Nhưng thời gian trôi qua...


Cậu bé đã lớn, và không đến chơi quanh cây táo hàng ngày nữa. Một ngày, cậu lại đến với vẻ mặt đượm buồn. Cây táo cất tiếng: “Hãy lại đây chơi với ta”.

“Tôi không còn là đứa bé nữa, tôi không muốn chơi ở quanh cây táo đâu. Tôi muốn có đồ chơi. Tôi cần tiền để mua đồ chơi” - Cậu bé nói.

- “Xin lỗi, ta không có tiền. Nhưng cậu có thể hái táo đem bán. Sau đó cậu sẽ có tiền nhé!”

Cậu bé quá đỗi vui mừng, hái hết số táo trên cây rồi quay bước đi. Từ đợt đó cậu không quay trở lại với cây táo nữa. Cây táo rất buồn.

Rồi một ngày khác, cậu bé năm nào lại quay trở lại, cây táo vô cùng phấn khởi: “Hãy đến đây chơi với ta nào ”. “Tôi không có thời gian đâu, tôi phải làm việc cho gia đình. Chúng tôi muốn có cái nhà để ở. Liệu cây có giúp tôi được không?”.

- “Xin lỗi, ta không có nhà. Nhưng cậu có thể chặt các nhánh cây của ta để làm nhà ở”.

Thế là cậu bé, giờ đã thành chàng trai trẻ, chặt hết các nhánh cây táo và vui vẻ bước đi. Cây táo thấy vui khi nhìn cậu hạnh phúc. Nhưng từ đó chàng trai không quay lại nữa.

Cây táo cảm thấy cô đơn và buồn tủi. Một ngày hè nóng nực, cậu bé năm nào, giờ đã già, quay trở lại. Cây táo phấn khởi lắm: “Hãy đến đây chơi với ta”.

Cậu bé ngày nào trả lời: “Tôi buồn lắm, và tôi cũng già rồi. Tôi muốn đi du thuyền để thư giãn”.

Cây táo đáp lại: “Hãy dùng thân cây của ta mà làm thuyền. Cậu có thể đi khắp nơi”.

Cậu bé năm nào chặt thân cây để làm thuyền rồi đi chu du, không quay lại thăm cây táo trong một thời gian dài.

Nhiều năm sau, cậu bé quay lại, giờ cậu đã thành ông lão.

- “Xin lỗi cậu bé của ta, nhưng ta không còn gì để cho cậu nữa rồi. Không còn táo cho cậu…”, cây táo nói.

- “Tôi không còn răng để ăn”.

- “... không còn thân cây cho cậu trèo…”

- “Tôi quá lớn tuổi để làm điều đó”.

- “Ta thực sự không thể cho cậu gì nữa, chỉ còn duy nhất phần gốc đang chết dần…” - Cây táo nghẹn ngào.

- “Bây giờ tôi không cần gì hết, tôi chỉ cần một chỗ để nghỉ ngơi. Tôi thấy mệt mỏi sau bao năm tháng”.

- “Ồ, hay quá! Gốc cây già nua này sẽ là nơi tốt nhất cho cậu nghỉ. Nào, hãy đến đây, hãy đến đây với ta và nằm nghỉ bên ta”.

Cậu bé năm nào ngồi xuống, cây táo vui mừng trào nước mắt.

Đây là câu chuyện dành cho tất cả mọi người. Cây táo chính là cha mẹ của chúng ta. Khi trẻ, chúng ta yêu quý và thích chơi cùng cha mẹ. Nhưng khi đã lớn, chúng ta lại rời họ đi, chỉ tìm đến họ khi ta cần gì đó hay gặp khó khăn, rắc rối.

Cho dù thế nào chăng nữa, cha mẹ vẫn sẽ luôn ở bên cạnh và cho chúng ta mọi thứ, luôn mong chúng ta được hạnh phúc. Có thể bạn nghĩ cậu bé cư xử tàn nhẫn với cây táo, nhưng sự thực, chúng ta cũng cư xử với cha mẹ mình như thế đấy.

Hãy yêu quý cha mẹ dù ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào.
Theo Inspirationallane

GHOST_GHOST
27/05/11, 09:51 PM
Nợ dân, sự tham và trách nhiệm... "quá đát"?

Tác giả: Kỳ Duyên


Nợ dân, sự tham lam và trách nhiệm..."quá đát" là chủ đề nổi bật của tuần này. Nó cũng là những lát cắt của cuộc sống không ít nỗi buồn mà Phát ngôn và hành động xin được gửi tới bạn đọc.
Nợ dân
Một sự kiện nổi bật trong xã hội và trên trang nhất các báo trong tuần này là bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, bầu cử đại biểu HĐND các cấp vừa diễn ra trong ngày chủ nhật 22-5. Với hơn 62 triệu cử tri đi bầu để chọn ra 500 đại biểu QH, hơn 300.000 đại biểu HĐND các cấp, đây là cuộc bầu cử "kép" có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Và số tiền đầu tư cho cuộc bầu cử lớn không kém: 700 tỷ đồng.
Chợt nhớ đến bầu cử thời bao cấp. Bà ngoại tôi họp tổ dân phố về cứ thì thào to nhỏ: "Các ông trên nhắc, nhớ bầu cho số 1,2... gạch số 3,4 nhá". Khi nói cụm từ "các ông trên", nét mặt bà tôi trông thành kính, sợ hãi lắm. Và bà bắt tất cả con cháu phải đi bầu thật sớm, vì còn thi đua giữa các tổ.
Thành thử chưa đi bầu nhưng ai cũng biết phải gạch số 3,4, bầu số 1,2... Cái quyền bầu cử của mỗi người lại biến thành định hướng chung cho mọi người. Vậy mà chả biết nghe bà tôi "quán triệt" ra sao, tai ngược tai xuôi thế nào, mẹ tôi đãng trí gạch béng số 1, 2... , bầu cho số 3,4. Khi biết là gạch nhầm, mẹ tôi kêu giời kêu đất, nét mặt ân hận, rầu rĩ suốt cả ngày. Không hiểu sao, những ngày này, tôi lại nhớ đến vẻ mặt rất tội tội của mẹ. Nhớ đến cái thời, đời sống xã hội thì cực lắm, dân trí lại thấp, mà mọi niềm tin nơi dân đặt ở Chính phủ là vô giá, nhất cử nhất động. Thiệt tài!
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/baucuLAD.JPG.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/baucuLAD.JPG.jpg)Nghiên cứu thông tin ứng viên trước khi bỏ phiếu. Ảnh Lê Anh Dũng.Mà thời đó, họp QH thì chỉ có đại biểu QH họp "kín" với nhau, theo cách nói dân dã của GS Hồ Ngọc Đại. Dân chỉ biết có Nghị quyết khi đã ban hành và công bố trên báo đài. Có biết ông X, bà Y nói ra sao, mần ra sao để mà giám sát?
Nhưng ngọn gió Đổi mới đã nổi, cuốn đi rất nhiều những cái cũ kỹ, xơ cứng, lỗi thời, buộc người ta phải thay đổi rất nhiều, phải tự lớn lên để thích ứng. Từ cá nhân nhỏ bé, đến tổ chức lập pháp to như QH.
Có một đặc điểm riêng biệt, mà cố GS- sử gia kinh tế Đặng Phong từng lưu ý. Đổi mới ở xã hội VN không bắt đầu từ một cá nhân nào khởi xướng, mà nó như một xu thế tâm lý mong mỏi, mỗi lãnh đạo góp chút ít, và được nhân dân đồng thuận hướng theo. Đổi mới là ngọn gió nồm nam sau những năm tháng dài oi bức, nghiễm nhiên cuốn tất cả xã hội vào luồng. Ngọn gió đổi mới ấy cũng đã dần lan đến sinh hoạt nghị trường, đem đến những điều mới mẻ.
Từ lúc, báo chí chỉ được phát lại bản tin khai mạc, bế mạc kỳ họp QH của TTXVN, đến lúc các báo bắt đầu được tường thuật tranh luận, được phỏng vấn tại nghị trường
Từ lúc, các đại biểu QH muốn phát biểu phải viết bản thảo gửi lên để Đoàn Chủ tịch duyệt, đến lúc họ được tự do phát biểu, tự do tranh luận.
Từ lúc, nhân dân chỉ biết đọc Nghị quyết ban hành của QH đến lúc được xem truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn, trả lời chất vấn giữa nghị trường. Đến nỗi, luật sư Nguyễn Đăng Trừng có một phát ngôn ấn tượng: "Nhiều cử tri nói với tôi là họ thích theo dõi các phiên họp này của QH như thích xem phim, kịch, tuồng, cải lương hay". (Báo Tuổi Trẻ, ngày 20-5).
Từ lúc, các thành viên Chính phủ giải trình (giảng giải cho rõ một vấn đề, có dẫn chứng tường minh), đến lúc họ bắt đầu làm quen với việc "điều trần" (trả lời chất vấn, phân tích, cung cấp thông tin, đánh giá thông tin trước khi trình QH về các vấn đề thuộc lĩnh vực họ quản lý) mà cử tri quan tâm
Từ "họp kín" đến công khai, từ duyệt phát biểu đến tự do phát biểu, từ giải trình đến điều trần... không chỉ là một thước đo khoảng cách thời gian, hay khái niệm chữ nghĩa. Mà đó là một thước đo mang tầm lịch sử- giữa cái cũ và cái mới, giữa cái xơ cứng và cái mềm dẻo, giữa cái lạc hậu với cái văn minh!
Và cho đến kỳ họp QH Khóa XII mới đây, có thể coi là kỳ họp sôi động nhất, thành công nhất từ trước đến nay. Ở đó, những thành bại, những được mất của cơ chế quản lý, của mô hình kinh tế Nhà nước, tư nhân ... bắt đầu được đặt lên bàn cân của thực tiễn đời sống đang không ít bất an.
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/anhphatngon275_1306465199.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/anhphatngon275_1306465199.jpg)Những chất vấn và trả lời chất vấn của các đại biểu vì thế không thể né tránh. Họ phải vừa thẳng thắn, vừa có cả sự khôn ngoan dày dạn giữa nghị trường. Nhưng nhân dân, cuối cùng vẫn là người thầy nghìn mắt nghìn tay chấm điểm đức tài của họ.
Dù vậy, nhân dân đã có thể tin vào trí tuệ của các đại biểu vừa được bầu? Nếu biết rằng, số đại biểu chuyên trách ở khóa trước mới chiếm khoảng 25%. Nếu biết rằng, vẫn còn nhiều đại biểu kiêm nhiệm quản lý chính quyền cơ sở, nên có vị cùng một vấn đề hôm trước nói xuôi, hôm sau nói ngược, khiến nhân dân không biết lời nào đúng, lời nào sai?
Nếu biết rằng còn nhiều đại biểu vắng mặt ở các kỳ họp. Và nếu biết rằng có không ít đại biểu suốt cả kỳ họp đều ngồi "thiền"? Nhân dân và những cử tri đã bỏ phiếu bầu cho họ sẽ nghĩ gì về lời hứa hẹn của các vị khi ứng cử?
Thế nên, dù cuộc bầu cử thành công về phương diện tổ chức, với hơn 97% cử tri đi bầu, nhân dân vẫn đang chờ đợi ở tài năng và trách nhiệm của các đại biểu trúng cử. Bởi khi mà tham nhũng quốc nạn nhức nhối được các cử tri đề cập ở tất cả các cuộc chất vẫn chưa có giải pháp đẩy lùi. Đến nỗi, một cán bộ lãnh đạo cao cấp phải kêu lên là xấu hổ vì "nhiều sâu" quá. Ông xấu hổ, còn nhân dân thì đau đớn và quá bất bình.
Vì thế, 500 đại biểu QH trúng cử nhiệm kỳ mới khi bước vào nghị trường xin đừng quên còn nợ dân- một lá phiếu bầu- cũng là một món nợ lớn về trách nhiệm xã hội của đại biểu QH trước thách thức của sự phát triển quốc gia, với vị thế là đại biểu của dân, do dân và vì dân.
Sự tham lam
Mới đây, báo SGGP, báo Pháp Luật, Tiền Phong... đưa tiếp tin "Giữ 2 tỉ đồng tiền ủng hộ đồng bào miền Trung". Đây là số tiền nằm trong số 2,5 tỷ đồng MTTQ tỉnh Kiên Giang vận động, quyên góp được từ dân để hỗ trợ cho đồng bào miền Trung bị lũ lụt. Thế nhưng thay cho việc phải nộp lên trên, đoàn thể này chỉ nộp 500 triệu đồng.
Số tiền giữ lại được một số cán bộ lãnh đạo của UBMTTQ tỉnh ngang nhiên chi sai mục đích, dẫn đến việc như bà Nguyễn Hồng Tươi, Chánh Văn phòng UB thực chất là chiếm dụng gần 200 triệu đồng, Còn lại 800 triệu đồng chi cho các khoản thăm đối tác, mua quà tặng...
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/lutmientrung_1306401584.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/lutmientrung_1306401584.jpg)Nếu không bị phát hiện, không hiểu cái sự tham lam "của người phúc ta" kiểu này đi đến đâu?
Sau cái sự kiện tham gia và đấu giá từ thiện ảo của một vài kẻ lừa đảo nhân danh đại gia cách đây chưa lâu, nay lại đến việc một đoàn thể lợi dụng danh nghĩa quyên góp để chiếm dụng tiền của người nghèo trong cơn hoạn nạn. Nghe sao nó bất nhẫn quá!
Đất nước lại luôn phải chung sống với bão lụt, nhất là miền Trung. Với cách ém tiền từ thiện kiểu này, liệu người dân có còn sẵn lòng lá lành đùm lá rách nữa không? Hay khi các quan chức bớt xén tiền hỗ trợ của những người nghèo không tấm áo che thân, cũng chính là khi phẩm cách cán bộ của họ bị "te tua" tồi tệ?
Tiếc thay, cái sự te tua về phẩm cách cán bộ, giờ hơi bị nhiều.
Sau bài viết Cấp gạo cứu đói, cán bộ xã "ký thay" dân đăng trên báo Dân Việt ngày 5-5- 2011, mới đây, Tamnhin.net lại có bài viết cùng chủ đề- chữ ký: "Chuyện quan xã giả chữ ký của dân".
Cũng chỉ vì cái chữ ký của các quan chức xã Diễn Lợi (Diễn Châu- Nghệ An) mà đang bầu cử, 50 hộ dân của xã bức xúc đến độ viết đơn tố cáo các quan xã lập kế dấu lâm bạ, giả chữ ký của họ, những người dân trồng rừng thông.
Rừng thông này họ trồng đã được 10 năm. Khi thông đã có thể cho nhựa, họ lên xã hỏi lâm bạ để đến ngân hàng vay tiền khai thác. Đến lúc ấy người dân mới ngã ngửa, lâm bạ của họ bị xã giấu biệt, và điều đáng nói là xã lại còn "ký hộ" họ cái hợp đồng khai thác nhựa thông với một đối tác khác, từ 1998-2013.
Rõ khéo, lúc làm rừng thì quan xã chẳng làm hộ, lúc ký cọt thì lại ký hộ, mà chả chịu cho dân biết???.
Nói thẳng ra là ký trộm
Chưa hiểu câu chuyện này sẽ ngã ngũ ra sao, chỉ biết, khi bị hỏi vặn, ông Chủ tịch xã Diễn Lợi, người mới về làm chủ tịch 2 năm nay im lặng hồi lâu rồi mới nói: Chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại!. Ông im lặng do không rõ những ai đó ký trộm hay là một kiểu lùi khéo để thoái thác trách nhiệm?
Còn người viết bài trộm nghĩ (chứ không phải trộm ký nhé), sao các cán bộ xã cứ mê mẩn cái chữ ký của dân thế. Nếu mê đến thế, sao không tự giác từ quan, về làm dân cho rồi, khỏi mang tiếng ...tham?
Nhưng nói thật, đọc những thông tin về cái sự tham của cán bộ, chỉ thấy một vị đắng chát. Cán bộ quản lý các cấp là cánh tay nối dài giữa Nhà nước với dân, nhất là cán bộ cơ sở lại là cán bộ gần dân nhất. Nhưng những việc làm khuất tất, không đàng hoàng của các bác khiến các bác dễ trở thành xa dân nhất. Mà họa của một đất nước có khi lại bắt đầu từ sự rạn nứt giữa dân và cán bộ, rạn nứt vì cái sự tham lam, từ bé xíu như cái hạt gạo đến to tướng như cái tiền ...tỷ
Sự tham lam, trong thời buổi kim tiền này cũng lạ lắm.
Lạ như tấm bia tự phong của VietinBank - Ngân hàng Thương mại cổ phần công thương Việt Nam và UBI - Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng kinh doanh đô thị. Đây là 2 doanh nghiệp lớn đã góp phần đầu tư trong số hơn 20 tỷ đồng được huy động từ tất cả các nguồn cho việc xây dựng quần thể Cột cờ Lũng Cú (Hà Giang) được Tamnhin.net đề cập đến trong bài viết: "Nơi thiêng liêng sao lại để thế này?".
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/_resampled/ResizedImage390600-14672-n5_1306465075.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/_resampled/ResizedImage390600-14672-n5_1306465075.jpg)

Cái tít bài, giống như một câu hỏi thảng thốt của bất cứ ai có dịp đến chiêm ngưỡng tấm bia đá khẳng định chủ quyền đất nước ở mảnh đất địa đầu Tổ quốc.
Thảng thốt, vì trên tấm bia thiêng liêng, không biết vì sao, lại hồn nhiên một cụm từ tiếng Anh sai chính tả được khắc rất trịnh trọng, khiến những người biết tiếng Anh bỗng xấu hổ. Đó là cụm từ tỉnh Hà Giang được ghi thành Ha Giang Provine, trong khi lẽ ra phải là Province. Với lỗi chính tả này, người nước ngoài sẽ không thể hiểu bởi đó là từ mà ở tiếng Anh (Pháp) đều không có nghĩa.
Nhưng khách thăm sẽ còn thảng thốt hơn nữa, ngỡ ngàng hơn nữa khi thấy, song song với tấm bia chủ quyền Tổ quốc là một tấm bia khác khắc tên "chủ quyền" đóng góp của 2 doanh nghiệp nói trên- VietinBank và UBI. Hẳn là 2 doanh nghiệp có máu mặt nhất, đóng góp nhiều nhất cho việc xây dựng quần thể này.
Sau phút ngỡ ngàng, người ta bỗng thấy sượng sùng vì cái sự tự vinh danh nó khiến các doanh nghiệp vô tình thành lố bịch. Có thể những doanh nghiệp ấy rất giầu tiền, nhưng lại hơi nghèo trí, và nghèo cả tâm!
Nói thật nhé, để Cột Cờ Lũng Cú đứng hiên ngang, vững chãi trên địa đầu Tổ quốc; để đất nước luôn nhiều sóng gió mãi trường tồn với nền độc lập và tự do, đã có hàng triệu chiến sĩ, những con dân anh hùng, có danh và vô danh nằm xuống. Có người còn nằm ở đâu đó, trong cánh rừng hay ven suối, trên đồi cao hay thung sâu...Máu xương những người con đã ngã xuống không thể đo đếm được. Không hiểu số tiền 2 doanh nghiệp đóng góp "vô giá" đến thế nào, để họ dựng bia vinh danh? Hay rút cục, chỉ để mua bia miệng người đời, và chôn luôn cái văn hóa của họ?
Và trách nhiệm ...quá đát?
Mới đây, cả xã hội lại kinh hoàng trước một tai nạn đường sông khủng khiếp: Con tàu BD-0394 (Công ty du lịch xanh Dìn Ký) đã bị chìm khi đưa khách dạo chơi trên sông Sài Gòn (đoạn xã Bình Nhâm, thị xã Thuận An- Bình Dương). Trên tàu khi đó đang có cuộc vui sinh nhật bé Quách Hồng Đạt, 3 tuổi. Tai nạn bất ngờ, phút chốc đã biến ngày sinh của 1 em bé, thành ngày mất của 16 con người, trong đó có cả bé Đạt. Cha bé Đạt đã không còn cả nước mắt để khóc cho nỗi bất hạnh gia đình mình- 9 cái tang cùng lúc.
Sau phút giây bàng hoàng, người ta đau xót nhận ra, chưa bao giờ, tai nạn giao thông nước ta lại nhiều và dễ dàng đến thế, ở bất cứ đâu, đường bộ, đường sắt, đường thủy... cho dù nó không miễn dịch với bất cứ quốc gia nào. Nhưng nó sẽ thành thảm họa, thành chuyện thường ngày với quốc gia nếu trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền trở nên 'quá đát"?
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/chimtaudulich.JPG3.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/chimtaudulich.JPG3.jpg)Mới không lâu, xã hội bàng hoàng trước vụ chìm tàu du lịch Trường Hải 06 trên vịnh Hạ Long, làm 12 người chết... Và nay- tàu Dìn Ký. Những cái chết đều được báo trước, chỉ những khách du lịch vô tội, không biết mà thôi.
Vì sao? Vì khi tàu Dìn Ký chìm xuống, cũng là lúc sự thật chết người của nó phơi bầy, thông qua câu trả lời- cũng là thú tội của ông Châu Hoàn Tâm, Giám đốc công ty. Một loạt bài điều tra của các báo cho thấy từ giám đốc, lái tàu, đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền đều "nói không" với trách nhiệm của mình. Đó là:
- Tàu đã quá hạn kiểm định nhưng không được đưa đi đăng kiểm, vẫn sử dụng chuyên chở khách.
- Tài công không đủ điều kiện (không có bằng lái) nhưng vẫn lái tàu.
- Cảng du lịch không được phép mở, nhưng tàu Dìn Ký vẫn ngang nhiên hoạt động chui (?)
Đáng ngạc nhiên nhất là cái sự ngang nhiên của tàu Dìn Ký. Một đống gạch đất trong tít ngõ sâu nhà dân, mà cơ quan chức năng cũng biết, lập tức có mặt để phạt nữa là con tàu lừng lững không phép, không đăng kiểm cứ lượn lờ trên sông thì quả khó hiểu? Con tàu khó hiểu hay chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng khó hiểu?
Chưa kể, bắt đầu có sự đá bóng trách nhiệm. Khi ông đường thủy nội địa kể tội ông quản lý du lịch vẫn cấp phép cho doanh nghiệp kinh doanh, ngay cả khi ông nội địa không cấp phép bến và đã xử phạt tàu. Dư luận xã hội đang chờ ông quản lý du lịch "đón bóng" ra sao!
Còn Bộ GTVT cũng lập tức có văn bản gửi các tỉnh yêu cầu gấp rút "tăng cường công tác kiểm tra hoạt động chở khách du lịch của phương tiện thủy tại các địa phương", theo môtip "mất bò mới lo làm chuồng"
Sự sống vốn thiêng liêng và đáng trân quý. Và 16 cái chết oan, vô lý trong chớp mắt ấy, rất có thể sẽ không thể xảy ra, nếu như trách nhiệm của con người, của các cơ quan quản lý không... quá đát?

phgpc
30/05/11, 04:17 PM
“Kính thưa các vị đại biểu!
Kính thưa các thầy cô giáo!


Hôm nay, trong không khí tưng bừng của ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6 và ngày lễ ra trường của các bạn học sinh lớp mẫu giáo 5 tuổi. Con rất vinh dự được thay mặt cho các bạn cho các bạn lớp 5 tuổi nói lên những cảm xúc của mình!


Kính thưa các thầy cô!
Chúng con là những mầm non của gia đình, là tương lai của xã hội được bàn tay đầm ấm của các thầy cô nâng niu chăm sóc, chăm lo cho chúng con từng bữa ăn, giấc ngủ, dạy cho chúng con những nét chữ đầu tiên........."


Trích "Diễn văn tốt nghiệp trường mầm non". Nguồn: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2011/05/bai-dien-van-be-mac-mau-giao-cua-be-5-tuoi/


Người lớn đang bận... làm những việc khác mất rồi!

Ruyubang_do
30/05/11, 10:57 PM
Trích "Diễn văn tốt nghiệp trường mầm non". Nguồn: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2011/05/bai-dien-van-be-mac-mau-giao-cua-be-5-tuoi/
Chả biết bao nhiêu % là "chất xám" của bé nhỉ?
Diễn văn
Căn bệnh diễn văn này ăn sâu vào máu người Việt Nam rồi, nhồi sọ từ lúc mẫu giáo lận, bótay.com luôn. Chúc mừng bạn nhé ,con bạn có tương lai làm cán bộ rồi đó

À quên, 5 tuổi sau vào lớp 1, bạn có quên tuổi con không đấy ????
(Mục: Ý kiến bạn đọc) (http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2011/05/bai-dien-van-be-mac-mau-giao-cua-be-5-tuoi/)
Xin đừng nói giáo dục nhiễm bệnh thành tích, mà hãy nói người Việt Nam có thói diễn văn: khai mạc bóng đá - diễn văn, trận chung kết - diễn văn, bế mạc - diễn văn... đễn nỗi người dân đi bỏ phiếu - cũng diễn văn cái đã. Khoan nói cái chất trong bài diễn văn của bé là do ai viết, nhưng việc gì phải cầu kỳ thế nhỉ?

Bạn có biết? Khai mạc Olympic 2000 tại Sydney hay Olympic 1996 tại Atlanta, bài diễn văn dài bao lâu không? "Tôi-tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ-tuyên bố khai mạc Olympic lần thứ..." chưa đầy 12s cho 2 bài khai mạc nói trên.

Ruyubang_do
04/06/11, 09:43 AM
Học yêu Nước... kiểu Đức


Nước Đức, một chiều hè rực rỡ ở Blankenese (Hamburg), nữ nhà báo Friederike ngồi một góc yên ắng trong tòa nhà cổ có tên Elsa Brandstrom. Cô thu mình lại, tránh những tiếng nhạc náo nhiệt của nhóm phóng viên trẻ tới từ nhiều quốc gia khác nhau. Đối với Friederike, gặp các phóng viên trẻ từ nhiều quốc gia khác nhau là một điều rất thú vị, để có thể tìm hiểu, và trả lời những suy nghĩ của cô về đất nước đó.



"Theo một cách nào đó, chúng ta vẫn thuộc về quá khứ"



http://images.tccl.info/2011/04/27/10/20110427092250_to_quoc_viet_nam.jpg (http://images.tccl.info/2011/04/27/10/20110427092250_to_quoc_viet_nam.jpg)



Friederike thắc mắc về Việt Nam. Cô không hiểu tại sao sau bao nhiêu máu đã đổ, bom đã rơi, người Việt Nam vẫn có thể bắt tay với người Mỹ chỉ vài thập kỷ sau khi chiến tranh kết thúc. Cô không biết lớp trẻ sinh ra sau chiến tranh của một đất nước từng phải hít thở bằng mùi khói súng hàng chục năm ròng đang và sẽ nghĩ gì về sự hy sinh của lớp người đi trước.


Friederike cho rằng, những người người trẻ đó hẳn là sẽ vô cùng trân trọng quá khứ của dân tộc họ. Bởi theo cô, lịch sử nhuốm đầy máu và nước mắt lên chính mảnh đất Việt Nam - mà nhờ vậy, cuộc sống của một dân tộc mới, và hàng triệu con người mới đang nở hoa.


Friederike cho biết, cảm giác đó chắc chắn hoàn toàn khác so với những người trẻ của nước Đức sinh ra sau chiến tranh như cô.
Không chỉ thế hệ của Friederike (thuộc nhóm 7X) sinh ra trong tủi hổ, đau khổ vì lịch sử dân tộc mình.


Cô nói: "Chúng tôi hầu như không bao giờ muốn trưng quốc kỳ của mình. Nó chỉ khiến chúng tôi xấu hổ. Cách đây 10 năm, khi lần đầu tiên ra nước ngoài, tôi còn cảm thấy sợ khi phải chìa ra hộ chiếu của mình. Không chỉ có tôi, mà những người bạn đều có cảm giác đó".

Khu vực tưởng niệm những người Do Thái đã mất trong thế chiến 2, tại thủ đô Berlin. Giới truyền thông Đức đã có lúc nín lặng khi loạt phim Holocaust phát sóng. Rất nhiều người không trách họ vì sự không-cất-lên-lời này. Quá khứ của đất nước này chất chứa nhiều niềm đau. Đây không chỉ là nỗi đau khổ, mà xét về khía cạnh nào đó, chính là số phận của (hơn) một thế hệ hậu chiến của Đức. Rất nhiều người trong số lớp trẻ hiện của Đức đã chọn cách dũng cảm đối mặt, thay vì chối bỏ lịch sử hoặc vờ như để nó ngủ yên.


Một nhà báo khác của Đức phản ứng dữ dội khi một sinh viên Pakistan nói rằng, anh ta ngưỡng mộ cách người Đức ứng xử với quá khứ.


Nhà báo này đã thẳng thắn rằng: "Tôi chẳng có gì tự hào về nó cả. Tôi xấu hổ. Và chúng tôi buộc phải chấp nhận nó. Bạn có thể thấy ,giờ đây, chúng tôi khoác quốc kỳ trên người, đó chỉ vì quá khứ cũng đã lùi ra một quãng khá xa, và cũng chỉ trong các trận bóng đá quốc tế mà thôi".


Khi nhìn vào cách ứng xử đó của thế hệ hậu chiến, trực tiếp hay gián tiếp - người ta có thể sẽ tự rút ra hai bài học lớn: Thứ nhất, đó là tôn trọng sự thật - dù cho nó tàn nhẫn và đau đớn tới mức nào; Thứ hai: đó là một lòng yêu nước -đầy-trách-nhiệm- với lịch sử.


Nhưng trên thực tế, những gì người Đức đối xử với quá khứ của mình, thực sự khiến cho nhiều người phải hổ thẹn cho tới đau lòng khi nghĩ đến chính dân tộc mình.


Tất cả thông tin về nạn nhân Do Thái xấu số đều được lưu trữ cẩn thận, từng ngôi nhà có người bị thiệt mạng, bị hại trong chiến tranh đều được đánh dấu bằng một viên gạch đồng - ghi đầy đủ tên tuổi, ngày mất.


Tại Berlin có một không gian đặc biệt, gồm các cột đá màu ghi sẫm cao, thấp khác nhau, xếp trên mặt bằng lồi lõm.
Bất kỳ ai bước vào không gian này sẽ cảm nhận được nỗi tuyệt vọng mà những người Do Thái từng phải trải qua trong cái trại tập trung của Đức Quốc xã.


Bất kỳ ai ngồi, đứng, nô đùa trên những khối đá thấp đều bị coi là phỉ báng vào quá khứ...


Khắp nước Đức, luôn có những dấu tích nhắc nhở người dân nước này không bao giờ quên lịch sử đã diễn ra như thế nào.


Trên hết, khi nhìn vào cách ứng xử đó của thế hệ hậu chiến, trực tiếp hay gián tiếp - người ta có thể sẽ tự rút ra hai bài học lớn: Thứ nhất, đó là tôn trọng sự thật - dù cho nó tàn nhẫn và đau đớn tới mức nào; Thứ hai: đó là một lòng yêu nước -đầy-trách-nhiệm- với lịch sử.


Còn thế hệ trẻ của Việt Nam thì sao?


Friederike giải thích về thái độ của người Đức đối với quá khứ, đó là bởi họ có một bề dày lịch sử rất lâu dài. Và ai trong số họ cũng có "thói quen" soi lại mình trong dòng lịch sử của đất nước.


Lối tư duy này không giống như người Mỹ - cuộc sống hướng tới tương lai nhiều hơn.


Friederike đặt lại câu hỏi với Việt Nam - vậy người Việt Nam hướng tới tương lai nhiều hơn hay ngẫm nghĩ về quá khứ của họ nhiều hơn?


"Người Việt Nam hiểu rõ đau thương trong lịch sử của mình, hơn ai hết họ hiểu rõ giá trị của hòa bình trong hiện tại, và nỗ lực hướng tới một tương lai mới" - một học viên đến từ Việt Nam đã trả lời câu hỏi của Friederike. Một câu trả lời "tròn trịa" và chỉ sau đó một tích tắc, anh đã hồ nghi chính câu trả lời của mình. Câu nói đó, đúng hơn, là mong muốn của riêng cá nhân anh.


Những bài học vỡ lòng tiếng Việt của anh bắt đầu bằng câu "đất nước ta rừng vàng, biển bạc".


Nhưng khi 20 tuổi, anh hiểu rằng đất nước của mình nằm trong nhóm các quốc gia nghèo gần nhất thế giới.


Suốt 12 năm phổ thông, anh được dạy từ những trang sách về những cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, những trang sử hào hùng bao đời cha ông gây dựng.



Nhưng khi 20 tuổi, anh bắt đầu (muộn màng) nhận ra những "khoảng tối" của lịch sử, ngửi thấy mùi máu, nước mắt và sự thảm khốc của chiến tranh trong những trang sách ít ỏi...



Quá khứ đau thương, quá khứ hào hùng đều đã khép lại. Thế hệ mới sinh ra, cần phải sống tiếp, và bắt đầu trang mới.


Anh cũng phải hối hả lo học hành, để tìm một công việc tốt, một chỗ đứng tốt trong xã hội như bao người khác. Nhưng ,anh không bao giờ quên nỗi ám ảnh của chiến tranh, bởi ông nội và bao người khác đã hy sinh ở chiến trường.


Anh từng ôm lý tưởng cao đẹp của thế hệ trước với những quyển sách gối đầu giường một thời như "Ruồi trâu", "Thép đã tôi thế đấy". Đến năm 21 tuổi, mọi lý tưởng đó của anh vỡ vụn khi nhận ra rằng đó chỉ là một sự duy ý chí.


Thực tế xã hội đang sống có thể đã đi quá xa so với nhận thức của anh.


Anh chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: trung thực chấp nhận thực tế như nó vốn có. Và điều duy nhất mà giờ đây anh có thể làm, đó là sống có ích và trách nhiệm với bản thân mình trước tiên.


Lý tưởng cuồng nhiệt trước kia của anh, giờ có lẽ đã không còn "hợp thời".


Những cú "sốc" đầu đời trở thành bài học quý giá, bởi chẳng ai trưởng thành mà không đau đớn.


Sợ người khác bảo là "hâm", anh thủ thỉ với một người bạn thân rằng: "Đến bây giờ, tớ có thể nói rằng - tớ vẫn rất yêu nước!".



(Nguồn: VNN) (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/18372/hoc-yeu-nuoc----kieu-duc.html)

nbc
08/06/11, 07:31 AM
Doanh nhân Trung Quốc tìm đường di cư ra nước ngoài

Mong muốn có môi trường sống tốt hơn, cơ hội kinh doanh nhiều hơn, được hưởng các dịch vụ và phúc lợi công cộng hoàn hảo… giới doanh nhân Trung Quốc đang chuyển hướng nhập cư theo diện đầu tư ra nước ngoài.

Báo cáo mới đây của Công ty tư vấn Bain cho thấy, 60% các đại gia sở hữu khối tài sản trên 10 triệu Nhân dân tệ tại Trung Quốc đang tính đến chuyện sẽ định cư ở nước ngoài. Khảo sát trên cũng cho biết 27% doanh nhân Trung Quốc có tài sản trên 100 triệu Nhân dân tệ đã di cư và 47% đang có ý định rời bỏ quê hương. Bến đỗ mới của những người này tập trung vào các quốc gia phương Tây như: Mỹ, Canada, Australia hoặc một số nước châu Âu.

Kết quả trên hoàn toàn tương thích với một số báo cáo cho biết Ngân khố Mỹ ghi nhận sự tăng đột biến trong lưu chuyển tiền mặt từ Trung Quốc kể từ đầu mùa hè năm ngoái.

Theo Global Financial Integrity, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về các giao dịch ngoại hối ra nước ngoài. Theo ước tính, dòng ngoại hối ra nước ngoài của Trung Quốc lên tới 2.180 tỷ USD từ năm 2000 đến năm 2008.

Dòng tiền này cũng tăng đáng kể trong quý 4 năm 2008 khi chính phủ Trung Quốc triển khai gói kích thích kinh tế, mở đầu cho giai đoạn mới của kế hoạch tái quốc hữu hóa một phần nền kinh tế. Khi đó, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã rót ngân sách vào khu vực quốc doanh và các tổ chức tín dụng nhà nước cũng đầu tư tiền vào các công trình do Chính phủ tài trợ.

Kết quả là trong năm 2009, 95% tăng trưởng Trung Quốc là từ đầu tư, và phần lớn là từ Chính phủ. Mặc dù ưu tiên các doanh nghiệp quốc doanh trong một số ngành kinh tế, các nhà đầu tư tư nhân cũng được không ít lợi ích từ gói kích thích kinh tế. Họ "ăn theo" bong bóng tài sản và trở nên ngày càng giàu hơn. Theo nghiên cứu của China Merchants-Bain, trong năm 2011, số người giàu của Trung Quốc sẽ lên tới 585.000 người, gần gấp đôi so với năm 2008.

Việc giới thượng lưu Trung Quốc di cư ngày càng nhiều đã gây tranh cãi mạnh mẽ trong dư luận. “Chúng ta đã làm việc vất vả trong suốt 30 năm qua để phát triển nền kinh tế, nhưng giờ thì những người giàu đang đem của cải rời bỏ đất nước,” nhà phân tích kinh tế Zhong Dajun trả lời phóng vấn của Global Times, tờ báo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

“Sự mất mát này thậm chí còn lớn hơn tất cả các khoản đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. Nó cũng giống như đến mùa thu hoạch, tất cả nông sản của chúng ta đều đã rơi vào giỏ của người khác”, ông này nói.

Tuy nhiên, mọi thứ đều có nguyên do của nó. Từ năm 2008, Trung Quốc đã đối xử không công bằng và lợi dụng các nhà đầu tư tư nhân. Do đó, theo lẽ tự nhiên giờ đây họ phải tự bảo vệ bản thân.

Giới thượng lưu Trung Quốc vẫn tiếp tục mua bất động sản của Mỹ, và tiến tới đưa cả gia đình ra nước ngoài. Trong vòng năm năm qua, tỷ lệ giới đầu tư nước này nhập cư vào Mỹ đã tăng 73%. Trung Quốc đóng góp phần lớn trong làn sóng đầu tư từ Châu Á sang Vancouver (Canada). Tại Vancouver, trong tháng 2, dân môi giới đã làm không hết việc khi người Trung Quốc mua nhà ngày càng đông, khiến doanh số bán bất động sản tăng 70% so với tháng trước.

Có một nghịch lý là trong khi người nước ngoài đang rót tiền đầu tư vào Trung Quốc thì những doanh nhân nước này lại đem tiền của mình đầu tư ra nước ngoài.

Trên thực tế, làn sóng di cư của người giàu Trung Quốc không chỉ đơn thuần xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan mà còn do những yếu tố khách quan nảy sinh từ điều kiện kinh tế, xã hội hiện tại của nước này.

“Cơn sốt” đất, nhà ở trên thị trường bất động sản tại các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh thời gian gần đây luôn khiến người dân Trung Quốc trở nên "ngộp thở”. Vì vậy, những bất cập trong đời sống thường nhật thôi thúc tầng lớp giàu có tìm kiếm cơ hội kinh doanh, sinh sống tại một môi trường thông thoáng hơn, bớt ngột ngạt hơn so với đại lục.

Ngoài ra, giới đại gia Trung Quốc cũng luôn cảnh giác với sự an toàn của số tài sản kếch xù của mình. Chính phủ đại lục từ lâu ban hành điều luật bảo đảm tài sản cá nhân nhưng trên thực tế, giới siêu giàu vẫn chưa thực sự yên tâm.

Ngô Giai Xuyên, 42 tuổi, một thương gia có tiếng trong giới bất động sản thổ lộ: “Tôi không có cảm giác an toàn khi kinh doanh ở Trung Quốc. Mỗi phi vụ làm ăn, tôi thường đau đầu giải quyết những thủ tục hành chính rườm rà. Chỉ cần một chút sơ sẩy, cả cơ nghiệp mấy chục năm gây dựng sẽ tan thành mây khói”.

Không ít người trong cuộc điều tra mới đây tỏ rõ thái độ bức xúc trước tác phong quản lý, làm việc của một số cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp. Ông Xuyên lý giải: “Nghe nói, ở nước ngoài môi trường kinh doanh rất thông thoáng, không bị ràng buộc bởi những thủ tục hành chính rườm rà. Môi trường như vậy mới thực sự thu hút tôi”.

Ngoài những nguyên nhân trên, nguy cơ an toàn vệ sinh thực phẩm cũng đang trở thành nỗi khiếp sợ của toàn bộ người dân nói chung và các đại gia Trung Quốc nói riêng. Hàng loạt những vụ việc bê bối: sữa chứa melamine, dầu bẩn, thịt siêu nạc, bánh bao nhiễm độc, hóa thịt lợn thành thịt bò, giá đỗ bẩn, miến giả… thời gian qua đã làm chao đảo thị trường tiêu dùng Trung Quốc. Do vậy, người giàu Trung Quốc cho rằng họ có quyền lựa chọn một môi trường sống an toàn hơn, nhằm đảm bảo tương lai của chính họ và con cái.

Tuyến Nguyễn (theo Forbes)

Nguồn: http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/quoc-te/2011/06/doanh-nhan-trung-quoc-tim-duong-di-cu-ra-nuoc-ngoai/

Ruyubang_do
08/06/11, 06:01 PM
Siêu xe Lamborghini LP640 mui trần
về Hà Nội


LP640 Roadster phát triển từ loại Murcielago Roadster tiêu chuẩn nhưng trang bị động cơ 6,5 lít V12, công suất 640 mã lực. Giá xe đời 2010 vào khoảng 380.000 USD tại Mỹ.

Chiếc LP640 mui trần xuất hiện trên phố Hà Nội sáng 8/4, sơn vàng. Xe chắc chắn là đời cũ do Lamborghini đã ngừng sản xuất Murcielago để thay thế bằng chiếc Aventador.
Đây là chiếc LP640 mui trần đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Trước đó có hai chiếc LP640 coupe, gồm một đen và một xanh nõn chuối.

Trái tim LP640 Roadster là động cơ V12, 48 van lấy từ Murcielago nhưng dung tích ở mức 6,5 lít, tăng thêm 0,3 lít. Với 6,5 lít, LP640 có động cơ lớn nhất mà các nhà sản xuất xe hơi Italy sử dụng trên xe dân dụng, ở thời điểm nó ra mắt năm 2006. Đến tháng 3/2009, Lamborghini trình làng LP670-4 SV (công suất 670 mã lực) để thay thế vị trí của LP640.


[/URL]http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/ac/fe/LP640-1.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/ac/fe/LP640-1.jpg)
LP640 Roadster đầu tiên tại Việt Nam.


Lamborghini ứng dụng hệ thống thời gian nạp biến thiên và hệ thống điều chỉnh bướm ga bằng điện nhằm cải thiện tính năng lái ở vận tốc thấp. LP640 có công suất cao hơn 60 mã lực so với 580 mã lực của bản Murcielago gốc, mô-men xoắn 660 Nm.

LP640 sử dụng hệ truyền động 2 cầu, phân bổ lực theo tỷ lệ 70% bánh sau, 30% bánh trước. Tùy thuộc và điều kiện địa hình, máy tính trung tâm có thể phân bổ 100% mô-men xoắn xuống cầu sau. Hộp số tự động 6 cấp E-Gear.

Không nhiều mẫu mui trần có thời gian tăng tốc lên 100 km/h chỉ trong 3,4 giây. Nhưng Lamborghini đã làm điều đó với LP640 Roadster. Mức tiêu thụ nhiên liệu là 29 lít cho 100 km trên phố và 18 lít trên đường trường.

Giá xe mới vào năm 2010 là 380.000 USD.


CLIP XE (http://vnexpress.net/gl/oto-xe-may/2011/06/sieu-xe-lamborghini-lp640-mui-tran-ve-ha-noi/page_2.asp)


[U](Theo Vnexpress) (http://vnexpress.net/gl/oto-xe-may/2011/06/sieu-xe-lamborghini-lp640-mui-tran-ve-ha-noi/)

Vu Trong Nghia
10/06/11, 08:44 PM
Trung Quốc đe dọa các nhà đầu tư vào Việt Nam

Giới chức ngành dầu khí cho biết, Trung Quốc đã liên tiếp đe dọa Idemitsu, BP và ExxonMobil nếu các Tập đoàn này không rút các dự án khỏi Việt Nam.

Thông tin trên được đăng trên tờ South China morning ngày hôm nay (10/6).

Phản ứng trước động thái này của phía Trung Quốc, giới chức Việt Nam đã thông báo cho đối tác Nhật cũng như các đối tác khác trong khu vực về vấn đề này, và cam kết sẽ theo dõi sát sao tình hình.

Idemitsu sau đó đã quyết định tiếp tục các dự án tại Việt Nam vì cho rằng các thương vụ với chính phủ Việt Nam là hoàn toàn tuân thủ luật quốc tế.Trong cuộc họp báo thường kì của chính phủ tháng 5, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nói, Việt Nam kiên quyết bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.

Do đó, Chính phủ sẽ có giải pháp bảo vệ, đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi hợp tác thăm dò dầu khí tại thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Biển Đông trải dài từ bờ biển phía tây của Singapore ở Đông Nam Á tới eo biển Đài Loan với diện tích khoảng 3.500.000 km2, ước tính có trữ lượng hơn 50 tỉ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỉ mét khối khí.

http://vef.vn/2011-06-10-trung-quoc-de-doa-cac-nha-dau-tu-vao-viet-nam

thangbom03x3a
10/06/11, 09:58 PM
Biển Đông trải dài từ bờ biển phía tây của Singapore ở Đông Nam Á tới eo biển Đài Loan với diện tích khoảng 3.500.000 km2, ước tính có trữ lượng hơn 50 tỉ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỉ mét khối khí.

Thấy béo bở quá sinh lòng tham ấy mà."Tham thì thâm". Ông cha đã nói rồi,sợ gì nó chứ.

thangbom03x3a
11/06/11, 11:30 PM
Thế giới nhận định về căng thẳng Biển Đông

Giới quan sát quốc tế ghi nhận rằng căng thẳng đang leo thang trên Biển Đông, lý giải nguyên nhân, và dự đoán tình hình sẽ còn nghiêm trọng. Họ cũng khuyến cáo các bên phải rất kiềm chế và đoàn kết để có được giải pháp hòa bình.

Dưới đây là trích đăng bài viết của một số hãng thông tấn, báo đáng chú ý trong hai ngày qua, sau vụ tàu Trung Quốc phá hoại cáp tàu khảo sát của Việt Nam.

Tờ New York Times, với tiêu đề "căng thẳng bùng lên" ở Biển Đông, cho rằng tình hình hiện nay chứng tỏ cơ chế Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông không có hiệu quả. Đây là nhận xét của Michael Vatikiotis, chuyên gia an ninh tại Trung tâm đối thoại nhân văn Singapore.

"Các nước láng giềng của Trung Quốc ngày càng bất bình với việc Quân đội Giải phóng nhân dân PLA thiết lập căn cứ tàu ngầm ở đảo Hải Nam, ngay rìa phía bắc của khu vực biển tranh chấp".

Báo này dẫn bình luận của chuyên gia an ninh biển Mark Valencia - một người giỏi có tiếng trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, như sau: "Dường như các vụ va chạm giữa Trung Quốc và các bên tuyên bố chủ quyền khác đang ngày càng tăng.

"Tại sao lại là bây giờ?", chuyên gia đặt câu hỏi. Nhìn từ góc độ Trung Quốc, "có lẽ là do bây giờ họ đã có đủ lực lượng".

Đài tiếng nói Hoa Kỳ VOA dẫn thông tin từ văn bản do Giám đốc CIA Leon Panetta gửi Quốc hội Mỹ trong quá trình xem xét việc ông sẽ trở thành Bộ trưởng Quốc phòng. Trong văn bản này, Panetta nhận xét rằng, Trung Quốc dường như đang xây dựng lực lượng để "chiến đấu và chiến thắng trong những cuộc xung đột quyết liệt và chớp nhoáng" trên các đường biên giới nước này.

VOA tường thuật lại một số vụ đụng độ vừa qua trên biển giữa các tàu của Trung Quốc với tàu Việt Nam và Philippines, trong khi các quan chức Trung Quốc luôn khẳng định ủng hộ hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i16786_chinaus.jpg

Tàu khảo sát của Mỹ và các tàu của Trung Quốc trong một vụ va chạm trên Biển Đông năm 2009. Mỹ tố cáo Trung Quốc vi phạm luật lệ quốc tế khi cho tàu quấy rối tàu Mỹ. Bắc Kinh đáp lại rằng tàu Mỹ "do thám". Ảnh: US Navy.

Giám đốc CIA lưu ý với Quốc hội Mỹ rằng, Trung Quốc có vẻ như đang xây dựng lực lượng chuẩn bị cho các xung đột tiềm tàng liên quan đến Đài Loan, kể cả khi có sự can thiệp của Mỹ. Ông chủ tương lai của Lầu Năm Góc đề nghị Mỹ theo dõi sát sự lớn mạnh của quân đội Trung Quốc trong lúc vẫn phải tìm cách duy trì hòa bình và ổn định, cũng như giảm nguy cơ xung đột trong khu vực này.

Bản tin của BBC hôm qua, sau khi điểm lại tình hình căng thẳng leo thang hiện nay trên Biển Đông, nhấn mạnh thực tế rằng, "Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề tranh chấp với từng quốc gia riêng lẻ. Việt Nam, Indonesia và Philippines muốn xây dựng nỗ lực chung của cả khu vực nhằm tìm một giải pháp đa phương cho cuộc xung đột".

Bản tin của Inquirer, nhật báo hàng đầu của Philippines, dẫn tuyên bố mạnh mẽ của thượng nghị sĩ Francis Pangilinan kêu gọi chính phủ không quỳ gối trước sức ép của Trung Quốc.

"Chúng ta không để bị bắt nạt bởi cách cư xử phi ngoại giao này", tuyên bố của ông Pangilinan đưa ra sau khi đại sứ Trung Quốc tại Manila Lưu Kiến Siêu yêu cầu các nước khác không được khai thác tài nguyên ở Trường Sa.

"Chúng ta không bao giờ cho phép thế lực nào ép buộc chúng ta tuân lệnh", Pangilinan nói thêm.

Các nghị sĩ Philippines có những luồng ý kiến khác nhau: nếu giải quyết hòa bình tránh leo thang căng thẳng - bằng cách đưa vấn đề tranh chấp ra LHQ và ASEAN, chẳng hạn theo cơ chế ASEAN+1.

"Chúng ta nên theo cách này thay vì đồng tình với đề xuất củng cố quân đội Philippines, bởi điều đó sẽ chỉ kích động Trung Quốc có thêm các hành động thù địch trong khu vực mà thôi", nghị sĩ Rodolfo Biazon nói.

Nghị sĩ Ben Evardone thì cho rằng ASEAN và LHQ nên tham gia dập tắt tình trạng leo thang căng thẳng hiện nay giữa các bên tranh chấp. "Các bên nên tránh những cuộc khẩu chiến qua lại. Tôi nghĩ đã đến lúc cần có tuyên bố đình chiến truyền thông, nhằm ngăn chặn nguy cơ xảy ra xung đột lớn".

Đài RFA đăng bình luận của các nhà phân tích người Trung Quốc cho rằng tranh chấp chủ quyền lâu dài trên Biển Đông, gần Trường Sa, đang có dấu hiệu ngày càng nghiêm trọng.

Wu Fan, chủ bút tạp chí China Affair có trụ sở tại Mỹ, cho biết, Trung Quốc đã bắt đầu lục tìm lại các ghi chép lịch sử từ thời phong kiến tiền 1911 để tìm những cứ liệu biện minh cho tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa, nơi được cho là có nhiều tài nguyên.

"Việt Nam sẽ không xuống thang, và Trung Quốc cũng không xuống thang. Đặc biệt là không xuống thang trong vấn đề các quần đảo. Đôi bên sẽ ngày càng phân cực".

Giáo sư đại học Seton Hall Yang Liyu nói rằng hiện giờ cả hai bên rất khó mà hạ nhiệt.

"Chuyện này giống như châm lửa bằng xăng", Yang nói. "Tình hình rất có thể trở nên nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đến sự ổn định trong toàn khu vực" Biển Đông. "Sự tranh chấp và đụng độ chắc chắn sẽ ngày càng nghiêm trọng".

Tờ Daily Youmuri, Nhật Bản đăng bài xã luận với tiêu đề "Bắc Kinh cần kiềm chế trên biển", cho rằng Trung Quốc đã phá vỡ cam kết trong DOC 2002.

Báo này nhận xét rằng dù tại Đối thoại an ninh Shangri-La vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt khẳng định Bắc Kinh ủng hộ hòa bình trên Biển Đông, và rằng khu vực này vẫn ổn định, nhưng hai người đồng nhiệm Việt Nan và Philippines ngay lập tức có những tuyên bố khác hẳn về tình hình.

"Trung Quốc sẽ không có được lòng tin của cộng đồng quốc tế nếu những điều họ nói không giống những gì họ làm", xã luận có đoạn.

Báo Nhật này cho rằng Trung Quốc đang ngày càng tỏ ra ngang nhiên trên biển bởi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm của nước này đã đặt trọng tâm vào mở rộng các lợi ích trên biển.

Và vì thế "các thành viên ASEAN phải đoàn kết chặt chẽ" để bảo vệ vùng biển của họ, không để Trung Quốc biến nó thành "ao nhà".
Nguồn:http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/06/the-gioi-nhan-dinh-ve-cang-thang-bien-dong/

Ruyubang_do
13/06/11, 10:31 AM
Chuẩn bị làm cảng phục vụ dự án
Bô xít Tây Nguyên


Thủ tướng cho phép UBND tỉnh Bình Thuận thực hiện việc thu hồi đất, giao đất cho chủ đầu tư để triển khai xây dựng Dự án Cảng Kê Gà theo quy định của pháp luật về đất đai.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/Library/Images/55/2008/12/1012boxit2.jpg
Một mô hình khai thác bô xít tại ÚC


Thủ tướng yêu cầu UBND tỉnh Bình Thuận phải xác định chính xác diện tích đất của Dự án Cảng Kê Gà; đồng thời bổ sung diện tích đất vào quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) của tỉnh theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.


Cảng Kê Gà được xây dựng tại xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Cảng có có chiều dài ven biển khoảng 2 km với tổng diện tích khoảng 366 ha kể cả diện tích đất liền và diện tích mặt nước.

Dự kiến, Dự án Cảng Kê Gà được chia thành 4 giai đoạn. Công suất bốc dỡ giai đoạn một sau 2 năm xây dựng sẽ đạt 3,5 triệu tấn mỗi năm, đến năm 2020 sẽ hoàn tất cả 4 giai đoạn xây dựng với tổng công suất bốc dỡ được nâng lên khoảng 35 triệu tấn mỗi năm.


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/Library/Images/69/2009/05/080509/bauxite-sgtt.jpg
Đây là chất thải Bô xít




Để triển khai dự án này, UBND tỉnh Bình Thuận đã quyết định thu hồi, ngừng triển khai đối với 12 dự án du lịch nằm bên trong ranh giới cảng.



Cảng Kê Gà hình thành được kỳ vọng sẽ rút ngắn cung đường, giảm chi phí vận chuyển hàng hoá của các dự án bô xít nhôm.

(Theo website Chính phủ - Trích Vnexpress) (http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/06/chuan-bi-lam-cang-phuc-vu-du-an-bo-xit-tay-nguyen/)

Vu Trong Nghia
15/06/11, 04:26 PM
(Tamnhin.net) - Chuyến tàu chở hơn 9.570 tấn than nhập khẩu đầu tiên từ Indonesia đã cập cảng Cát Lái (Tp.HCM) và lượng than trên được Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) giao cho Công ty Cổ phần Đầu tư khoáng sản than Đông Bắc tiếp nhận nhập khẩu, sau đó phân phối cho các nhà máy nhiệt điện mới ở miền Trung và miền Nam.

Theo TKV, dự kiến số lượng than nhập khẩu từ nay đến năm 2012 khoảng 10 triệu tấn/năm và sẽ tăng dần từng năm. Đến năm 2020, dự kiến Tập đoàn sẽ nhập về khoảng 100 triệu tấn/năm, trong đó phần lớn là than bituminous có nhiệt năng từ 5.000 - 6.000 kcal/kg (cơ sở không khí khô) để cấp cho các nhà máy nhiệt điện.

Ngoài ra, các chủng loại than mà các ngành công nghiệp ở Việt Nam đang có nhu cầu, nhất là ngành thép và xi măng cũng sẽ được nhập về để phục vụ nhu cầu trong nước.

Theo TKV, trong tháng 5, sản lượng than khai thác ước đạt 3,98 triệu tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng ước đạt 19,2 triệu tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ. Trong tháng 5-2011, Việt Nam xuất khẩu 2 triệu tấn than đá, thu về 192 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm đã xuất khẩu 6,64 triệu tấn than đá, trị giá 638 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu giảm khoảng 25%.

Hiện than do TKV khai thác ở Quảng Ninh chủ yếu là than có chất lượng tốt, được dùng nhiều trong ngành công nghiệp luyện kim và hóa chất và có giá trị xuất khẩu cao. Do đó, Chính phủ đã cho phép TKV thí điểm thực hiện việc nhập khẩu than có giá thành rẻ hơn để phục vụ các nhà máy nhiệt điện trong nước.

Như vậy từ địa vị một nước xuất khẩu,Việt Nam chính thức trở thành nước nhập khẩu than.

Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Cty Năng lượng Sông Hồng - TKV, cho rằng, đây chính là hệ quả của việc xuất khẩu than (được coi như một thành tích trong thời gian qua) chỉ mang lại lợi ích tài chính cục bộ trước mắt cho ngành than, nhưng đã và đang dẫn đến sự thiệt hại lâu dài cho cả đất nước.

Ngoài việc thất thoát tài nguyên, nền kinh tế còn chịu thiệt hại không chỉ bằng tiền, mà cả bằng thời gian. Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập chung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực đa ngành khác đang tỏ ra không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam có thể được đẩy lùi hàng chục năm.

Ngành than đang có nguy cơ không thực hiện được nhiệm vụ chính trị quan trọng đã được Chính phủ giao là đảm bảo các cân đối lớn về than cho nền kinh tế. Tình trạng sớm mất cân đối về than của nền kinh tế có thể nói trước hết là do ngành than đã không tự giác thực hiện nghiêm chỉnh nội dung Quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2003 (với qui mô khai thác đủ đáp ứng các nhu cầu trong nước và hạn chế xuất khẩu than ở mức tối thiểu nhất).

Nhu cầu than trong nước thực tế đã và đang diễn ra đúng như dự kiến trong Quy hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2003. Nhưng sản lượng khai thác than của TKV từ lâu đã vượt xa mức quy hoạch.

Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn phân tích, thay vì phải đầu tư chiều sâu (nâng cao hiệu quả, giảm giá thành, tăng năng suất lao động trong khâu khai thác than), ngành than lại tích cực đầu tư theo chiều rộng, tăng khối lượng, dẫn đến tình trạng thừa than, tạo ra một yêu cầu giả tạo là phải “đẩy mạnh xuất khẩu than”. Về mặt khách quan, do giá cung cấp than cho các hộ tiêu dùng nội địa được nhà nước điều tiết và bình ổn ở mức thấp, việc xuất khẩu than (kể cả chính ngạch và tiểu ngạch) đều tạo ra nguồn lợi rất lớn, có sức hấp dẫn đặc biệt (đặc biệt là trong các khâu khai thác than trái phép và buôn lậu than). Nguồn lợi của việc xuất khẩu than quá lớn dẫn đến việc tổ chức và quản lý của ngành bị méo mó, thậm chí trái với quy luật thị trường. Trước đây, trong Bộ Năng lượng chỉ duy nhất một đơn vị làm đầu mối xuất khẩu than là Coalimex. Ngay sau khi thành lập Tổng Cty Than, đầu mối xuất khẩu than đã bị phân tán theo kiểu chia phần. Số đơn vị được trực tiếp xuất khẩu than đã tăng lên không thể đếm bằng đầu ngón tay. Nhiều đơn vị thành viên không có than cũng được cấp hạn ngạch xuất khẩu.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, phong trào đẩy mạnh xuất khẩu than như vậy đã dẫn tới tình trạng bị lợi dụng: có hợp đồng xuất khẩu than được ký với giá thấp hơn cả giá thành khai thác, tiền thưởng rót than nhanh thì chia cho một nhóm nhỏ các cá nhân, còn tiền phạt rót than chậm thì đưa vào lỗ chung của toàn ngành, v.v. Giá bán than xuất khẩu do doanh nghiệp tự quyết định không có sự quản lý chặt chẽ. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới WB (tại cuộc hội thảo tại Hà Nội về Phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam), giá than xuất khẩu của Việt Nam nếu quy đổi ra cùng một đơn vị nhiệt năng, vào cùng một thị trường chỉ bằng 2/3 so với giá của Australia. Nếu “lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để quyết định đầu tư” như Nghị quyết về phát triển ngành công nghiệp khai khoáng của Bộ Chính trị đã nêu, có thể nói các quyết định đầu tư của TKV có liên quan đến tăng sản lượng khai thác than và tăng khối lượng than xuất khẩu trong thời gian hơn chục năm qua là không có căn cứ.


Sơn Hà

p/s : cớ vì đâu mà đất nước lâm cảnh này. Hàng năm Tập Đoàn Than VN báo cáo thành tích " Năm nay Tập đoàn ta đã cố gắng từ trên xuống dưới,đầu tư thêm máy móc,mua thêm công nghệ khai thác, toàn ngành chúng ta đã khai thác vượt chỉ tiêu so với đặt ra và tăng ..% so với năm trước,xin Cho 1 tràng pháo tay" vậy là hầu hết toàn bộ người tham gia họp vỗ tay phấn khởi vì thành tích mà Tập đoàn đạt được để báo cáo lên trên.Cái bệnh giây chuyền vỗ tay cười ăn vào máu mất rồi.Hỏi tại sao Lâm cảnh này ??? Đau lắm v VN ơi ! đang mất hết tài nguyên vì khác thác xuất khẩu cho nhiều, cho thành tích

namqng
23/06/11, 08:30 AM
Hai nam thanh niên cướp được một trăm nghìn tỷ đô la… Zimbabwe
(Dân trí) - Lục chiếc túi xách vừa cướp được, Tú và Ánh phát hiện có hơn 20 triệu đồng và một tờ tiền đô la Zimbabwe mệnh giá một trăm nghìn tỷ.
Công an thành phố Hà Nội cho biết vừa bắt giữ 2 đối tượng Nguyễn Huy Tú (SN 1994, nhân viên một cây xăng ở Quảng Ninh) và Trương Duy Ánh (SN 1990, ở Hòa Bình) để làm rõ hành vi cướp giật tài sản.

http://dantri4.vcmedia.vn/xFKfMbJ7RTXgah5W1cc/Image/2011/06/cuop220611_ab001.jpg
Hai đối tượng Tú và Ánh.
Trước đó, tối 6/6, Tú và Ánh lượn lờ trên chiếc xe Nouvo tìm con mồi để cướp. Đến phố Nguyễn Hữu Huân, phát hiện một người phụ nữ đeo túi xách, hai đối tượng áp sát, giật chiếc túi khiến nạn nhân ngã xuống đất rồi tẩu thoát.

Lục chiếc túi vừa giật, Tú và Ánh hí hửng thu được chiến lợi phẩm là hơn 20 triệu đồng, 2 điện thoại di động và 1 tờ tiền đô la Zimbabwe có mệnh giá một trăm nghìn tỷ.

Cơ quan công an làm rõ, Tú và Ánh còn gây ra 3 vụ cướp khác.

Vụ việc đang tiếp tục được mở rộng điều tra.

Theo dantri.com.vn

huyphan
23/06/11, 11:00 AM
Nghe một cô bạn ở cơ quan phàn nàn, osin tối qua đề đạt tăng lương, từ 2 triệu lên 2,5 triệu/tháng, tất cả anh chị em đồng loạt kêu lên: Thế thì xin nghỉ không lương trông con. Lương trí thức đúng là chưa đủ tiền trả công cho người giúp việc.

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình cán bộ. Bố mẹ tôi đều là cán bộ, trí thức, tốt nghiệp trường Đại học tốt nhất và có tiếng tăm lâu đời là Đại học bách khoa Hà Nội. Bố mẹ tôi đều làm việc cho cơ quan nhà nước. Từ nhỏ tôi đã hiểu cuộc sống cơ cực của gia đình cán bộ thời bao cấp, lương bố mẹ không đủ ăn và nuôi chị em tôi.

Bố mẹ tôi sau cả ngày làm việc nặng nhọc ở cơ quan đã phải làm thêm từ tối đến đêm để có những chiếc bánh rán đi đưa các hàng nước vào mỗi buổi sáng sớm tinh mơ để kịp 7h sáng lại có mặt ở cơ quan làm việc.

Tôi tốt nghiệp đại học, bố mẹ tôi vẫn khuyên tôi là thôi con vào nhà nước cho ổn định, chắc thời bố mẹ thì là thời bao cấp, khó nhọc thì đồng lương ít ỏi thế thôi, chứ rồi nước mình cũng phải phát triển, nhà nước cũng đang có chủ trương tăng lương cán bộ, kiểu gì rồi lương cán bộ mình cũng sẽ bằng cán bộ nước láng giềng, có ôtô đi, con cái đủ tiền học hành. Cái thời bố mẹ có người vẫn nói là chả ai như nước mình, trí thức và đất đai đều rẻ như bèo. Trí thức thì làm công việc không đắt giá bằng công việc của người bán hàng thực phẩm. Đến thời nó sẽ khác, đất cát đang dần có giá trị dần lên, chắc trí thức cũng vậy! Nghĩ lại, sự ví von của các cụ cũng ngồ ngộ.

Ra trường, tôi được nhận vào làm việc ở cơ quan cấp Bộ, thật vinh dự, tự hào. Ngày đầu tiên đi làm, bài học của các bác trong phòng là cách pha trà, dọn dẹp. Một vài năm phấn đấu, tôi đi học tiếp thạc sỹ ở nước ngoài. Một nước phát triển nơi người ta rất coi trọng trí thức, cán bộ công chức luôn được đánh giá cao, đồng lương không phải cao bậc nhất trong xã hội nhưng không thể là bậc kém mà đủ để nhìn nhận rằng trí thức thật có giá trị.

Về lại Việt Nam, tiếp tục cống hiến cho cơ quan nhà nước, đến nay là tròn 10 năm làm việc. Lấy chồng, cũng lại một ông chồng trí thức. Bố mẹ chồng cũng trí thức, giảng viên đại học. Cả gia đình bằng cấp đầy người: tiến sỹ, phó giáo sư, thạc sỹ! Hai vợ chồng tôi lương chuyên viên 3.0, mỗi người nhận tương đương với 2,2 triệu đồng một tháng, À quên, nhà nước vừa cho tăng lương lên thành 2,3 triệu đồng.

Thật sự mỗi khi nhận đồng lương ít ỏi tôi cũng thấy mình thật ít giá trị. Và giờ đây, mặc dù con tôi đã 5 tuổi, vợ chồng tôi vẫn ở nhờ nhà bố mẹ vì nếu ở riêng sẽ quay như chong chóng ngay lập tức với các hóa đơn tiền học cho con, tiền ăn, tiền thuê nhà, tiền điện, nước, gas… ôi cứ nghĩ đến là tôi thấy chóng mặt rồi. Thôi, đành chấp nhận ở chung vậy, mặc dù thấy bao nhiêu cái mất tự do. Tôi cũng dần quen với việc nhận lương thấp, ăn nhờ, ở nhờ.

Nhưng hôm nay, đến cơ quan, lại chạnh lòng. Nghe một cô bạn ở cơ quan phàn nàn, chị ơi, osin nhà em tối qua đề đạt tăng lương, từ 2 triệu lên 2,5 triệu/tháng. Cô vừa nói xong, tất cả anh chị em ở cơ quan đồng loạt kêu lên: “Thế thì giải tán ngay lập tức, xin nghỉ không lương trông con, lương mình không bằng lương giúp việc”. Ừ, đúng thật, lương của tôi, nếu nuôi con dưới 1 tuổi, không có trường nào nhận trông, không có ông bà trông con cho mà phải thuê giúp việc thì đúng là chết luôn.

Lương trí thức chưa đủ tiền trả công cho người giúp việc. Mà chưa kể tiền ăn, điện, nước… vào giúp việc, cũng bằng một người sinh hoạt trong gia đình, ngoài lương cho họ cũng mất đứt thêm 1 triệu mỗi tháng. Mọi giá trị so sánh đều khập khiễng, nhưng nếu so sánh đồng lương thì đúng là buồn, cần gì phải đi đào tạo nước ngoài nước trong để có thể kiếm được một công việc với đồng lương bèo thế. Nếu ra chợ mà mở mồm kêu lương thấp, mấy bà bán rau sẽ nói luôn, ôi dào, các ông bà cán bộ đâu sống vì lương.

Nếu không giải quyết được cái gốc là lương bổng, chắc chắn xã hội không loại trừ được tiêu cực: cán bộ chắc phải cúp cắt giờ làm để đi làm thêm, kiếm thêm, không toàn tâm toàn ý với công việc, không sức đâu mà cống hiến khi không được đãi ngộ thích đáng, tham nhũng …

Tôi xin đưa ra một số giải pháp sau đây đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách:

- Tinh giảm biên chế thông qua tinh giảm bộ máy: Từ trước đến nay, luôn thấy các cơ quan cấp Bộ đề ra biện pháp tinh giảm biên chế. Nhưng cái gốc ở chỗ phải cải tổ cơ cấu bộ máy tổ chức. Nếu các Bộ, ngành không làm cho bộ máy gọn nhẹ, mà ngược lại (theo tôi chứng kiến trong quá trình làm việc) luôn đẻ thêm ra (Ví dụ: sinh ra thêm các Cục, Vụ, Viện, chia tách Tổng Cục thành nhiều Cục…) thì làm thế nào mà tinh giảm được biên chế. Nên làm khảo sát xem bộ máy các Bộ trong những năm gần đây tăng, giảm ra sao. Biên chế như thế nào. Sau đó, khảo sát tới từng cán bộ xem tổ chức nào không cần thiết, lập luận cụ thể để xem xét sát nhập một số đơn vị, từ đó về lâu dài có thể tinh giảm biên chế. Ngoài ra, sẽ phải xem xét giảm các đối tượng hưởng lương bằng ngân sách thông qua việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở bên dưới, các cơ sở có trách nhiệm tạo nguồn thu nhập chính đáng cho người làm công. Lương là vấn đề cơ bản, nếu lương cao, người ta cũng sẽ chẳng quan tâm gắn thêm cái mác công chức nhà nước ở một cơ quan nho nhỏ không tên tuổi.

- Luân chuyển cán bộ giúp cải cách quản lý, chống tham nhũng: học tập ở Nhật Bản tôi thấy rằng việc luân chuyển cán bộ các Bộ, ngành ở mỗi vị trí hai năm một lần giúp cho từng cán bộ hiểu công việc một cách có hệ thống. Việc luân chuyển này giúp cán bộ học hỏi, có cơ hội thăng tiến, chống tham nhũng và chống bè cánh. Không ai ở một vị trí quá hai năm nên hệ thống lưu trữ cũng phát triển rất tốt.

- Tăng lương: Từ việc tinh giảm biên chế, sẽ dôi dư ngân sách hơn để giúp tăng lương cho cán bộ. Mà tăng phải đủ về lượng theo như lời khuyên của các chuyên gia thế giới như gần đây chuyên gia UNDP hay Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu. Tăng ít nhất 5-10 lần so với hiện tại, không thể kéo dài tình trạng lương chưa tăng mà giá cả đã tăng gấp 10 lần như hiện nay.

Nguyễn Quang Minh
Vnexpress: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2011/06/luong-cong-chuc-khong-du-tra-cong-nguoi-giup-viec/

duongtuandung
23/06/11, 01:46 PM
Lương công chức bao nhiêu cũng là nhiều

Ở cơ quan, nếu tính bình quân giờ thì một ngày tôi chưa chắc đã làm được 5 tiếng đồng hồ. Mỗi tháng tôi nhận được gần 2 triệu đồng và nếu đem so sánh với thời gian tôi đã làm thì như vậy quá nhiều.
> Lương công chức không đủ trả công người giúp việc

Tôi đã đọc bài viết của chị Minh. Sự thật tôi mới vừa ra trường được nửa năm. Tôi đã nghĩ rất nhiều tại sao lương của mình lại ít thế. Nhưng sự thật là vậy khi tôi đến cơ quan, công việc không thường xuyên lắm. Nếu tính bình quân giờ thì một ngày chưa chắc đã làm được 5 tiếng đồng hồ.

Tôi đã nghĩ rất nhiều. Cơ quan tôi tại sao lại vận hành cả một bộ máy to đùng, một cái trụ sở lớn trong khi đó lại không phát huy hết nhiệm vụ chức năng được giao. Bởi vì con người ai ai cũng nghĩ vào nhà nước là để ổn định cái thân và đến hẹn lại lên. Đến năm lại tăng lương, làm ít hay không làm đều như nhau. Vậy đâu còn cái cạnh tranh phát triển. Mỗi tháng tôi nhận được gần 2 triệu đồng và nếu đem so sánh với thời gian tôi đã làm thì như vậy quá nhiều.

Nếu làm đúng 8 tiếng tính ra cũng được gần 4 triệu còn gì. Bởi vậy tôi hài lòng vì tôi chọn cái gọi là nhàn hạ và ổn định. Với hiệu suất công việc mà các công chức đang làm như vậy là nhiều đó bạn à bởi vậy tôi cứ nghĩ "lương công chức bao nhiêu cũng là nhiều" bạn à.

Nguồn: http://vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2011/06/luong-cong-chuc-bao-nhieu-cung-la-nhieu/

Bài viết ngay sau đây bác huyphan ơi.

Ruyubang_do
10/07/11, 08:35 AM
Những phận đời sau bóng tối ở Sài Gòn


Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh, đêm đêm họ gặp nhau ở chợ Bến Thành. Phía sau cái hào nhoáng, tấp nập của thành phố là những mảnh đời vận mình vào đêm tối vì miếng cơm manh áo.

Hơn 300 năm qua, kể từ khi hình thành đất Sài Gòn - Gia Định, chợ Bến Thành đã trở thành biểu tượng của TP HCM, nằm ở trung tâm, là cái rốn của thành phố. Vài năm nay, các con đường nhỏ quanh chợ Bến Thành được phát triển thành khu chợ đêm phục vụ khách du lịch. Ước tính mỗi tối có đến hàng nghìn du khách đến đây ăn uống, mua sắm. Sự nhộn nhịp, sầm uất phố chợ cũng đã trở thành chốn mưu sinh của không ít lao động nghèo buôn gánh bán bưng.

Đêm 8/7, dưới mái hiên chợ Bến Thành, tại một góc nhỏ bên đường Phan Châu Trinh - Lê Lợi, chị Minh đang bôi thuốc chống muỗi cho đứa con gái của mình. “Giường” của bé là một tấm bao lát nhỏ, trải trên vỉa hè sát bờ tường chợ.

Người phụ nữ tuổi Canh Tý (1959), cái tuổi vốn được xem là lắm long đong, lận đận đã gắn với lề chợ Bến Thành 25 năm nay. Người qua đường dễ dàng nhận ra và nhớ đến chị bởi những mụn thịt mọc to nhỏ khắp người.

Cô gái đêm đêm chăm chỉ bán nón ở chợ Bến Thành ngày ấy đã nhận được sự cảm mến của anh Tuấn chạy xe ôm gần đó. Họ nên vợ nên chồng sau mấy năm quen biết. Hạnh phúc ngỡ bắt đầu mỉm cười với người đàn bà vốn phải chịu những thiệt thòi từ lúc mới sinh ra. Nhưng bất hạnh dồn dập tới, khi đứa con gái xinh xắn ra đời vừa tròn một tuổi thì anh Tuấn bị tai nạn, phải nằm liệt một chỗ đến bây giờ.


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c0/6a/DSC02627.JPG (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c0/6a/DSC02627.JPG)


Minh Thư, cái tên được chị Minh chọn đặt cho cô con gái để gửi gắm hy vọng về một tương lai tươi sáng. Chưa vào lớp 1 nhưng cô bé này cũng đã giúp mẹ kiếm thêm tiền nhờ vào việc đi bán khăn giấy và kẹo cao su xung quanh chợ.

Ngày mưa cũng như ngày nắng, khoảng 4h chiều là chị bắt đầu lạch cạch đạp xe mấy chục cây số từ Bình Chánh đến chợ Bến Thành, chở thêm cô con gái gầy gò nhưng rất dễ thương, lanh lẹ. Cứ tầm 11h đêm, chợ vãn, hai mẹ con mới dọn dẹp, đạp xe về nhà lúc đã 1, 2h sáng, lục đục cũng đến 3h mới có thể bắt đầu dỗ vội giấc ngủ.

Thương cho hoàn cảnh của chị, những người trong chợ cũng rất hay giúp đỡ, khi thì đôi dép, bộ quần áo cho hai mẹ con, khi cái bánh, mấy trái chuối. Chị chủ sạp hàng mỹ nghệ chia sẻ: “Nhiều lúc thấy chị ấy bán cả đêm mà không được gì cả, đạp xe đi đạp xe về hoài vậy khổ thật”.

Người ta bảo Sài Gòn đêm là Sài Gòn của nhiều phận đời. Trời vẫn lác đác mưa. Phố co mình trong những khoảng riêng. Câu chuyện của những phận đời gian truân cứ thế được bộc bạch, tâm tình như những tiếng thở dài.

Cách nơi bán của chị Minh một đoạn là một cụ bà 87 tuổi đang ngồi cạnh chiếc cân nhỏ chờ khách. Câu chào mời khách đến cân của bà Ba như lọt thỏm giữa tiếng ồn ào trong chợ, tiếng còi xe inh ỏi của phố đêm.

19 tuổi, bà Ba theo chồng lặn lội từ Bắc vô Nam kiếm kế sinh nhai. Cụ ông mất sớm, hai đứa con gái lấy chồng giờ đã về lại ngoài Bắc, làm ăn cũng chẳng khá giả gì, bà một thân một mình bám víu lại Sài Gòn làm đủ thứ việc sinh sống qua ngày.

Trước kia bà bán vé số, rong ruổi khắp mọi nẻo đường, giờ tuổi cao sức yếu, chuyển qua nghề cân, đỡ một cái là ít đi nhưng thu nhập cũng rất bấp bênh, một ngày tầm khoảng vài chục nghìn đồng. Ngày ngày bà mướn xe ôm chở từ phòng trọ bên quận 4 qua trung tâm thành phố, đến khuya thì nhờ xe ôm chở về lại, ít nhất cũng tốn hết 20.000-30.000 do062ng. May mắn là những hôm mệt mỏi hay đau ốm gì, còn có những phòng khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo ở các chùa để bà đến xin thuốc.


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c0/6a/1.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c0/6a/1.jpg)

Ngồi ngóng khách hàng giờ, chiếc cân của bà Ba thường ế ẩm.


Khách đa số là những người xót xa cho cái bóng dáng nhỏ thó, hiền từ của bà mà cân chứ không hẳn vì nhu cầu. Bởi những chiếc xe đẩy đo cân nặng chiều cao một cách chính xác, có máy rao đã có mặt tận các ngóc ngách Sài Gòn, còn chiếc cân nhỏ rất khó nhìn thấy các con số, cạnh một bà lão mắt kém do tuổi già thì mấy ai quan tâm. Chợ hôm nay ế khách hơn thường ngày, một lát lâu, mới có một người đàn ông chạy thể dục ngang qua chỗ bà, ghé lại biếu mấy đồng tiền lẻ, bà vội líu ríu cảm ơn.

Còn vô số những “bóng đêm”của chợ Bến Thành mà câu chuyện cuộc đời họ là những chuỗi dài truân chuyên, nhọc nhằn. Họ thu mình trong bóng tối, trong những vòng quay của số phận, sống nhờ vào tình thương của cuộc đời. Một cụ bà ăn xin. Một anh bán vé số dù tật nguyền vẫn miệt mài trên chiếc xe lăn mưu sinh. Bác xích lô có dáng người còm cõi với vốn tiếng Tây tiếng Tàu ít ỏi, lăng xăng mời chào khách. Hay chị đạp xe đạp bán trái cây dạo người Quảng Nam tranh thủ lúc nông nhàn thu xếp việc nhà vào Sài Gòn rong ruổi kiếm thêm đồng tiền trang trải cho bầy con nhỏ đang tuổi ăn tuổi học, rồi đến vụ mùa lại tất tả về quê lo chuyện gặt hái, cày bừa. Họ vẫn không ngừng hy vọng vào một ngày mai tươi sáng.


http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c0/6a/3.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c0/6a/3.jpg)

Cụ bà ăn xin đã lẩn thẩn, bị bệnh tê yếu chân tay, cử động rất khó khăn,
nằm ngủ mê mệt trong góc vỉa hè đường Lê Thánh Tôn - Phan Bội Châu.


Mới đây, UBND TP HCM đã lên phương án chấm dứt hoạt động của chợ đêm Bến Thành. Nhiều người sống nhờ vào chợ trở nên thắc thỏm lo âu.

Một mai khi chợ đêm Bến Thành giải tỏa, thành phố chỉ mất đi một hình ảnh độc đáo vốn là điểm nhấn cho du lịch đêm Sài Gòn, du khách chỉ mất đi một điểm hẹn mua sắm lý tưởng, người dân Sài Gòn chỉ mất đi nơi mà họ tìm được một nét gì đó rất riêng. Còn đối với những người bám vỉa hè Bến Thành để mưu sinh mấy chục năm nay, thì cái họ mất đi là có thể là nơi họ đang tần tảo vì miếng cơm manh áo.

(Theo VNexpress) (http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/07/nhung-phan-doi-sau-bong-toi-o-sai-gon/)

Huyhihi
12/07/11, 11:51 AM
Được sống, tôi sẽ đi học lại, sẽ chăm chỉ hơn và nhất định sẽ trở thành kỹ sư trong tương lai, một người giỏi giang như những tấm gương vượt khó hiếu học mà tôi đã đọc trên sách báo. Trước khi vào phòng mổ, tôi không quên động viên mẹ: “Mẹ đợi con ra. Con hết bệnh, mẹ dẫn con về nhà đi học”.


Tôi vẫn nhớ như in buổi chiều ngày hôm ấy, cách đây 16 năm, tôi đang chơi đá banh cùng mấy đứa con nít trong xóm nghèo thì bỗng nhiên thấy lồng ngực đau nhói, cảm giác khó thở. Tôi ngất xỉu.

Nhà tôi lúc ấy nghèo lắm, ba mẹ ngày hai buổi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” với công việc cấy lúa mướn cho người ta. Nhà nghèo, nhưng ba mẹ rất thương tôi, ba mẹ ăn uống kham khổ cỡ nào cũng được, còn tôi thì lúc nào cũng được mẹ dành trọn cho quả trứng gà luộc, cá bống chiên thơm giòn.

Vậy mà tôi lại rất ham chơi, không chịu lo học hành chỉ thích tụ tập mấy đứa nhỏ trong xóm đi đá banh, nghịch ngợm, bẻ trái cây từ xóm này qua xóm khác. Nhiều lần bị cô giáo mách mẹ tội bỏ học trốn đi chơi, nhìn mắt mẹ đỏ hoe vì buồn lo, tôi cũng thấy áy náy đôi chút nhưng rồi đâu lại vào đấy.

Tôi tỉnh dậy, nhìn quanh chỉ một màu trắng lờ mờ, nhìn sang thấy mẹ ngồi ngủ gục cạnh đầu giường. Tôi gọi mẹ, mẹ mừng rỡ hôn vội lên trán tôi. Bỗng dưng tôi thấy thương mẹ, mới có một đêm mà trông mẹ xanh xao, mắt thâm quầng hẳn đi. Tôi nói với mẹ muốn về nhà liền, mẹ an ủi bảo tôi ráng ở nhà thương vài ngày cho hết bệnh rồi hai mẹ con cùng về.

Người ta không tìm ra được bệnh của tôi, tôi vẫn bị cảm giác khó thở, đau buốt lồng ngực. Bệnh viện này bảo tôi bị suy hô hấp, uống thuốc. Nằm viện nửa tháng trời không khỏi, ba mẹ bàn nhau đi “cố” miếng đất vườn để có tiền lo cho tôi chuyển viện.
http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c1/fb/trenhoto.jpg (http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/a2/c1/fb/trenhoto.jpg)
Tôi từng rất ham chơi, hay tụ tập đám trẻ đá bóng. Ảnh minh họa: Thiennhien.net.

Tôi được chuyển lên Bệnh viện Nhi đồng để điều trị. Bệnh viện lớn lúc nào cũng đông nghẹt người, lúc đầu không có giường nằm, hai mẹ con tôi phải trải chiếu nằm ở hành lang, còn ba thì ngủ ở ghế đá bệnh viện. Những ngày sau đó tôi phải trải qua rất nhiều xét nghiệm, cuối cùng bệnh viện kết luận tôi bị bướu trung thất.

Đó là một cục thịt khá lớn nằm ngay phần ngực bên trái, chèn ép phổi và tim của tôi, đó là nguyên nhân khiến tôi bị đau ngực và khó thở. Bệnh viện Nhi đồng quyết định chuyển tôi qua trung tâm ung bướu. Khi đó, tôi còn quá nhỏ để hiểu hết tất cả những đau đớn, tuyệt vọng mà ba mẹ tôi phải trải qua trong khoảng thời gian đó.

Không tiền, con bệnh hiểm nghèo, không một người quen thân giữa thành phố đông người, ba tôi phải về quê đi cắt lúa mướn, vay mượn thêm tiền để lo trị bệnh cho tôi. Còn mẹ hàng ngày vẫn đi xin cơm từ thiện cho hai mẹ con ăn tạm. Mẹ xin vào rửa chén thuê ở một quán cơm trước cổng bệnh viện, người ta thấy mẹ hiền lành lại gặp hoàn cảnh khó khăn nên cũng nhiệt tình giúp đỡ, mẹ có thêm khoản tiền nhỏ mua sữa, mua bánh cho tôi.

Những ngày nằm viện ở trung tâm ung bướu đã dạy cho tôi nhiều bài học quý giá trong đời. Nằm cùng phòng với tôi có rất nhiều bạn nhỏ cũng đang đợi điều trị như tôi, có bạn đã điều trị được một thời gian nhưng do phải hóa trị, xạ trị, tóc rụng hết, trọc lóc đầu. Tôi nhớ mãi một cô bạn gái trạc tuổi tôi tên T., cô ấy có đôi mắt thật to và đẹp.

Hôm tôi đến, bạn ấy vẫn còn xinh lắm, tóc dài đen nhánh, dáng người nhỏ nhắn, vậy mà hôm nay, sau khi từ phòng phẫu thuật về, tôi phát hiện bạn ấy đã bị cưa mất một chân, da xanh xao, tóc rụng gần hết. Thế mà bạn vẫn kiên quyết đòi mẹ cho ngồi học bài, bạn ấy sợ khi đi học trở lại sẽ học không theo kịp các bạn, sẽ bị các bạn cười chê.

Bạn ấy còn chia sẻ cùng tôi mấy quyển truyện Doremon, dạy tôi cách xếp sao giấy để cầu nguyện may mắn. Những người bạn của tôi đã giúp tôi có được tính kiên trì và lòng can đảm. Những lúc không có mẹ bên cạnh, tôi tự sắp xếp quần áo, tự vệ sinh cá nhân, tự ăn, tự dỗ mình vào giấc ngủ.

Bao nhiêu ngày chờ đợi kết quả sinh thiết, cuối cùng bác sĩ cũng đã có kết quả tình trạng bệnh của tôi, đó là u lành. Mẹ tôi trào nước mắt vỡ òa trong bao nhiêu ngày chờ đợi. Thế nhưng, bác sĩ bảo với mẹ, khó khăn nhất là tôi phải phẫu thuật cắt bỏ khối u, nhưng do khối u quá lớn, nếu phẫu thuật sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng.

Người ta không dám mổ cho tôi, mà nếu để lâu khối u ngày càng phát triển thì tôi sẽ chết. Mẹ tôi tuyệt vọng khóc đến mụ mị cả người. Lúc đầu mẹ còn giấu tôi, nhưng sau không chịu được lại ôm tôi mà khóc ròng rã.

Ngày tôi có kết quả bệnh cũng là ngày T. yếu ớt hẳn. T. nói với tôi là: “Bạn phải can đảm hơn mình, hãy đi học giúp mình nhé”. Rồi T. đi, tôi òa khóc nức nở, đây là lần đầu tiên trong đời tôi khóc tức tưởi, thấy đau buồn và mất mát đến như vậy.

Cuối cùng thì bệnh viện cũng quyết định phẫu thuật cho tôi, chính vị bác sĩ giám đốc bệnh viện sẽ đứng ra thực hiện ca phẫu thuật này. Tôi phấn khởi lắm, tin là mình sẽ vượt qua được và tôi sẽ sống. Tôi sẽ phải tiếp tục sống để còn đền ơn cha mẹ, cho những người đã thương yêu và giúp đỡ tôi, cho những ước mơ của tôi và của T. sẽ còn viết tiếp nhiều trang nữa.

Ngay lúc đó, tôi chỉ có một ước muốn duy nhất là mình được sống. Được sống, tôi sẽ đi học lại, sẽ chăm chỉ hơn và nhất định tôi sẽ trở thành một kỹ sư trong tương lai, một người giỏi giang như những tấm gương vượt khó hiếu học mà tôi đã được đọc trên sách báo. Trước khi vào phòng mổ, tôi không quên động viên mẹ: “Mẹ ở đây đợi con ra. Con hết bệnh, mẹ dẫn con về nhà đi học nha mẹ”. Mẹ hôn xiết tôi, tôi cũng ôm xiết lấy mẹ. Tôi bỗng nhớ lời T.: "Bạn phải can đảm hơn mình".

Ca phẫu thuật trải qua nhiều khó khăn nhưng cuối cùng đã thành công. Mẹ kể lại lúc cửa phòng phẫu thuật mở ra, nhìn bác sĩ cười, mẹ chỉ muốn quỳ xuống lạy ông ấy, ông đã giúp con của mẹ sống lại thêm một lần nữa.

Tôi trở về nhà trong nỗi vui mừng khôn xiết của ba mẹ. Tôi bỗng thấy yêu ngôi nhà mình, yêu mái trường, bạn bè và thầy cô vô hạn. Nhớ lời T. dặn, tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, năm học lớp 9, tôi đạt học sinh giỏi nhất tỉnh, thi đậu vào cấp 3 trường chuyên, rồi đỗ vào ĐH Bách khoa TP HCM ngành công nghệ thông tin. Tôi cố gắng học không phải chỉ vì tương lai của mình mà còn học cho người bạn của tôi, cho những tháng ngày nhọc nhằn của ba mẹ.

Khoảnh khắc đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, tôi mới nhận ra một điều quý báu rằng, chỉ có niềm tin, lòng can đảm và ước mơ tươi đẹp mới có thể giúp con người vượt qua sợ hãi và đau đớn. Nó chính là liều thuốc tinh thần kỳ diệu giúp bạn vượt qua bệnh tật, tử sinh.

Tôi vẫn nuôi dưỡng ước mơ của mình và T., ước mơ là động lực giúp tôi không nản lòng khi vấp phải những khó khăn trong cuộc sống. Chính ước mơ đã giúp tôi không ngại khó, ngại khổ, tôi sẵn sàng làm đủ nghề từ phụ việc quán cơm, đi dạy thêm, đi làm tiếp thị để có tiền đi học.

Giờ đây tôi 27 tuổi, đã tốt nghiệp và là một kỹ sư máy tính, có một công việc ổn định, một mái ấm gia đình đơn sơ, hạnh phúc với vợ và con trai. Thế nhưng ước mơ đi học, học nữa và học mãi vẫn thôi thúc trong tôi. Tôi vẫn đang đi học, một lớp cao học của một trường đại học về công nghệ thông tin và lớp học làm người vẫn sẽ học mãi ở cuộc đời này.

Nguyễn Trung Cang

nbc
09/09/11, 01:00 PM
Tài năng - đắc dụng và hai cuộc phản biện Thủ tướng


Tác giả: HUỲNH PHAN
Bài đã được xuất bản.: 09/09/2011 11:06 GMT+7

Học để làm gì, tài dùng ở đâu, và câu chuyện phản biện chính sách là những lát cắt của mục Phát ngôn & Hành động tuần này

Học để làm gì?

Đó là câu hỏi mà Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, bất ngờ đặt ra cho các học sinh lớp 12, khi ông đến dự lễ khai giảng ở Trường PTTH Việt - Đức (Hà Nội).

Có một học sinh đã trả lời: "Theo em, học sau này để làm việc và làm chủ đất nước."

Tất nhiên, thật khó đòi hỏi một câu trả lời hay hơn trong hoàn cảnh đó. Mà chắc gì nhiều người đã trưởng thành như chúng ta, tất nhiên kể cả người viết, có thể trả lời chính xác câu hỏi này?!

Hãy lấy cách mà chỗ nọ chỗ kia người ta thực hiện mục tiêu đào tạo 20 ngàn tiến sĩ đến năm 2020 làm ví dụ.

Đưa ra mục tiêu này, rõ ràng là để bù đắp sự thiếu hụt về giảng viên có trình độ tiến sĩ trong hệ thống đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam, nhằm nhanh chóng nâng tầm công tác đào tạo và nghiên cứu ở Việt Nam lên tầm khu vực, đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công cuộc hiện đại hoá đất nước. Và học bổng cho nghiên cứu sinh tiến sĩ ắt hẳn phải ưu tiên cho những ai làm trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu.

Ấy thế mà cách đây 2 năm lại có chuyện ông Chủ tịch Hà Nội ký bản kế hoạch phấn đấu đến năm 2020 100% cán bộ thuộc diện Thành uỷ quản lý có học vị tiến sĩ. Mặc dù sau này, trước sự phản ứng của công luận, việc này đã phải điều chỉnh lại.

Câu chuyện phong giáo sư và phó giáo sư là một ví dụ khác.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn vừa đưa ra trong bài viết nhan đề "Đề nghị cải cách chức danh giáo sư" một con số giật mình. Chỉ có 2100 trong số 9000 giáo sư và phó giáo sư được phong ở Việt Nam hiện đang công tác tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

"Học vị tiến sĩ, học hàm giáo sư, liệu có giúp những người không làm công tác nghiên cứu, hay giảng dạy, cơ hội thăng tiến, hay mang lại cho họ bổng lộc gì không nhỉ, mà người ta cố giành, hay cố giữ vậy?", người viết tự hỏi.

Tự nhiên lại nhớ tới một chuyện đã diễn ra cách đây khoảng hơn 10 năm, khi người viết đưa một phóng viên Nhật Bản đến phỏng vấn ông Giám đốc Sở Ngoại vụ Hà Nội - Giáo sư Lê Văn Viện.

Trên đường về, người phóng viên Nhật Bản này cứ soi đi soi lại tấm danh thiếp của GS Lê Văn Viện, và thắc mắc: "Ông này có phải giáo sư thật không? Ông ta dạy gì ở cái sở ngoại vụ này? Ở Nhật, hay các nước khác, chỗ của giáo sư là ở trường đại học, hay viện nghiên cứu."

Người viết cứ trả lời bừa rằng chắc ban ngày ông đi làm quan chức ở Hà Nội, còn buổi tối ông lại đi dạy ở các lớp ban đêm. "Độc đáo, một mình một kiểu, thế mới là Việt Nam", người viết tỉnh bơ phán.

Phóng viên này cứ bán tín bán nghi, và chỉ thực sự tin khi sau đó được dự khán (để lấy thông tin viết bài) một buổi học về thương mại quốc tế tại trường Kinh tế Sài Gòn do thầy Nguyễn Thiện Nhân, lúc đó là Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường, giảng.

Sống và làm việc ở nước ngoài nên GS Nguyễn Văn Tuấn hoàn toàn có thể chia sẻ được với nỗi băn khoăn của người phóng viên Nhật kể trên. Trong bài viết của mình, GS Nguyễn Văn Tuấn cho rằng việc rất nhiều người có chức danh giáo sư, nhưng không trực tiếp giảng dạy và nghiên cứu, là một điều bất bình thường.

Chính vì vậy, ông đã đề nghị nên có qui chế cho những giáo sư chính thức (đối với những người giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở đại học), giáo sư kiêm nhiệm (đối với những chuyên gia ngoài cơ sở đại học có công đào tạo nghiên cứu sinh), và giáo sư danh dự (đối với những mạnh thường quân), theo thông lệ quốc tế.

Nếu được như vậy, nếu quay lại Việt Nam, chắc hẳn người phóng viên Nhật sẽ không còn ngỡ ngàng khi thấy một quan chức tỉnh thành, thậm chí cả ở cấp cao hơn, có tấm danh thiếp ghi thêm chức danh giáo sư.

Còn em học sinh lớp 12 ơi, tất nhiên là học xong em sẽ đi làm, và sau đó làm chủ đất nước. Nhưng, theo thiển nghĩ của người viết, trước khi đủ độ chín chắn để làm chủ đất nước, em phải có năng lực làm chủ chính mình. Tức là phải học thành tài, và biết cái tài của mình dùng để làm gì.

Chẳng hạn, nếu học tiến sĩ, em phải biết có học vị tiến sĩ để làm gì?

Tài năng và đắc dụng

Viết đến đây, người viết lại nhớ tới cuộc hội thảo về chiến lược nhận tài, do Ban Tổ chức Trung ương tổ chức vào sáng 6.9 cũng tại Hà Nội.

Theo khảo sát của PGS.TS Đỗ Minh Cương, (Vụ Đào tạo - Bồi dưỡng Cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương) một trong các nguyên nhân khiến nhiều cơ quan nhà nước không sử dụng được người tài, là khi xảy ra mâu thuẫn, xung đột, người tài thường ra đi, vì họ chỉ là thiểu số, vì tính cách thẳng thắn, cứng rắn...

Trước đó, trả lời Vietnamnet về nạn chảy máu chất xám ở khu vực công quyền, Vụ trưởng Vụ Cải cách Hành chính (Bộ Nội vụ) Đinh Duy Hoà đã chỉ ra 4 nguyên nhân cơ bản. Đó là lương không đủ sống, không được trọng dụng, có thủ trưởng trực tiếp năng lực kém, và môi trường làm việc thiếu cạnh tranh.

Cũng theo ông Đinh Duy Hoà, đó một thảm hoạ thực sự. Bởi vì, các cơ quan hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật, từ nhiều năm nay không thu hút được những sinh viên giỏi. "Nay lại thêm người giỏi "dứt áo ra đi" thì làm sao có được chất lượng tốt của bộ máy", ông than.

Đối với chính sách thu hút người tài để giải quyết nguy cơ "thiếu chất xám trong hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật", Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Ngọc Hoàng đã ví von rằng đừng nên bàn chuyện chiêu dụ thế nào để bắt được sư tử, mà phải mở ra những cánh rừng cho sư tử được tung hoành.

"Nếu không, sẽ không bắt được sư tử mà chỉ săn nhầm những con thú khác", ông nói.

"Những con thú khác", theo hàm ý của ông, là những kẻ cơ hội. Chứ còn những con "sư tử" là trí thức chân chính, những người có tài, có tầm nhìn đi trước, và dự đoán được các xu hướng phát triển, lại thường là những người luôn phải chịu đơn độc bởi sự đố kỵ, ghen ghét, quy chụp.

"Ngay cả chọn người ngồi cùng chiếu với mình trong một cơ quan, đơn vị, lãnh đạo cũng ngại chọn những người giỏi cãi hơn mình", ông Vũ Ngọc Hoàng nói.

Còn nhớ, trong một bài trả lời phỏng vấn VietNamNet cách đây gần 3 năm, ông Vũ Ngọc Hoàng cho rằng đối với trí thức, vấn đề nhận thức chỉ có thể hình thành thông qua cùng trao đổi bình đẳng, chứ không thể áp đặt, và bất cứ đảng cầm quyền nào cũng cần sử dụng những tư duy vượt trước của trí thức để thúc đẩy xã hội, và cộng đồng đi lên.


"Nếu trí thức không có chính kiến riêng, không có tư duy độc lập, sáng tạo, vượt trước, tất nhiên là theo nghĩa cái đúng, thì không hiểu xã hội cần ở họ cái gì", ông đặt vấn đề.

Người viết những muốn khuyên em học sinh lớp 12 trường Việt - Đức, rằng em vẫn có thể học thành tài, và tìm chỗ đứng ở khu vực kinh tế tư nhân, bởi ở đó họ thực sự trọng dụng người tài. Bác Vụ trưởng Vụ Cải cách Hành chính đã rút ra kết luận đó mà.

Và em cũng có thể trở thành người chủ của đất nước, theo cách đó. Tuy nhiên, cái đất nước em sẽ làm chủ khó có thể giầu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh được, một khi đa số những người tài vẫn chưa được trọng dụng

Chính phủ và phản biện

Tuy nhiên, câu chuyện nhân tài, câu chuyện vận mệnh đất nước ở thời điểm 2020, khi em học sinh đó đi làm, chưa hẳn đã ảm đạm như vậy. Ít nhất có chút cơ sở để người viết tin vào điều này.

Đó là việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai của mình bằng hai cuộc làm việc với các chuyên gia tư vấn trong nước, cách đây hơn 2 tuần, và các chuyên gia tư vấn nước ngoài, cũng vào đúng hôm 6.9.

Hai cuộc gặp này diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam sau 8 tháng của năm 2011 đã đạt được "những cái nhất đáng lo ngại", theo cách nói của chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới Deepak Mishra.

Đó là lạm phát đạt mức 23% - cao nhất châu Á; VND là đồng tiền duy nhất ở châu Á giảm giá so với USD; dự trữ ngoại tệ giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 1994, tương đương với 8 tuần nhập khẩu, trong chiều hướng ngược lại so với hầu hết phần còn lại của châu Á; nợ nước ngoài dẫn đầu ASEAN ở mức 42% GDP; rủi ro tín dụng cao hơn gấp đôi so với các nước ASEAN khác...

Cách đây 5 năm, ông Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên của mình bằng việc củng cố hệ thống các bộ phận giúp việc của Văn phòng Chính phủ - cơ quan tham mưu của các lãnh đạo chính phủ. Hồi đó, tình hình kinh tế Việt Nam cũng thuận lợi hơn bây giờ rất nhiều.

Nguyên thành viên ban nghiên cứu (của thủ tướng) Trần Xuân Giá, người đang đảm nhận cương vị Chủ tịch Ngân hàng Á Châu khoảng dăm năm nay, hẳn đã rất vui sau cuộc tham vấn đó. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đánh giá cao sự thẳng thắn, trách nhiệm và tâm huyết của các chuyên gia, trong đó có ông, đối với sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước. Điều đó, theo lời Thủ tướng, thể hiện qua những đề xuất, giải pháp hết sức thiết thực, nhằm giúp chính phủ xây dựng những chính sách điều hành phù hợp.

Bởi xét cho cùng, những điều mà những chuyên gia độc lập như ông đề xuất, cho dù có được gọi là "ý kiến đóng góp", thực chất vẫn là những ý kiến phản biện.

Để đi tới quyết định này, hẳn người đứng đầu Chính phủ cũng nhận ra rằng những trí thức mà ông vẫn làm việc hàng ngày thuộc biên chế các vụ chức năng trong Văn phòng Chính phủ khó có thể đóng vai trò phản biện. Bởi đơn giản là vai trò của họ là tham mưu. Hay như cách nói ở trường đại học, thầy hướng dẫn luận văn không thể đồng thời là thầy phản biện được.

Đó là chưa nói đến việc, biết đâu đấy, không ít người còn bị nhiễm cái văn hoá "đón ý cấp trên", và vì thế ngay cả việc tham mưu cũng không hoàn thành một cách trọn vẹn.

Hơn nữa, qua kinh nghiệm làm việc với các chuyên gia thuộc nhóm Harvard - những người đã gửi tới bốn bản khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn 2008-2009, Thủ tướng càng có thể vững tin với quyết định vừa rồi của mình. Bản khuyến nghị được coi là có chất lượng tốt nhất chính là bản đầu tiên, được nhóm này hoàn thiện sau một buổi làm việc với một nhóm chuyên gia kinh tế độc lập của Việt Nam.

Một thành viên khác của ban là ông Vũ Quốc Tuấn cho người viết biết rằng cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, mỗi khi phải đưa ra một quyết định quan trọng, đều bỏ nhiều thời gian để lắng nghe các loại ý kiến phản biện của các chuyên gia tư vấn. Từ nhóm tư vấn thuộc văn phòng chính phủ đến các chuyên gia kinh tế độc lập, như nhóm Thứ Sáu chẳng hạn.

Với hình thức tham vấn mới này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người cuối cùng vẫn phải đưa ra những quyết định quan trọng, chắc chắn sẽ có sự đánh giá toàn diện hơn hẳn so với trước đây về những tác động hai mặt của chúng, mà có những "gia giảm" cần thiết.

Và chắc hẳn, người đứng đầu ban tham mưu của Thủ tướng - Tân Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Vũ Đức Đam -, sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc xúc tiến thường xuyên những cuộc tham vấn kiểu này. Là người đã từng "qua trường Đại học Võ Văn Kiệt", như ông đã "khoe" với người viết trong cuộc gặp ở Bắc Ninh cách đây 7 năm, ông Vũ Đức Đam hiểu rất rõ giá trị của chúng.

Người viết muốn kết luận bài viết này bằng câu khái quát của ông Vũ Ngọc Hoàng đối với lý giải của Nhà Vật lý vĩ đại Albert Einstein về phản biện:

"Nhờ có phản biện nhiều chiều, mà anh nghe được nhiều chân lý tương đối để từ đó anh tìm ra một chân lý sát hơn, gần hơn, tiếp cận với lẽ đúng nhiều hơn. Còn khi anh chỉ nói mà không được nghe, người khác chỉ nghe mà không được nói, anh sẽ là người thiệt thòi hơn, bởi trong tư duy của anh chỉ có độc nhất mỗi ý kiến của mình, không có sự bổ sung đa dạng từ ý kiến của người khác. Cuối cùng, tư duy của anh sẽ chậm phát triển hơn người ta."

Nguồn: VietNamNET (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-09-09-pn-and-hd-tai-nang-dac-dung-va-hai-cuoc-phan-bien-thu-tuong)

nbc
18/10/11, 07:49 AM
Ai chui xuống gầm bàn?

Hơn mười năm rồi, nhưng con gái tôi và mẹ nó không bao giờ quên câu chuyện cô bé 8 tuổi mỗi khi có chuông cửa vội vàng chui nhanh xuống gầm bàn để trốn.

Lý do: cô mắc bệnh rụng tóc, cô mắc cỡ... Và hơn mười ngày rồi nhưng tôi không thể nào quên bài báo “Vừa học vừa lo... sập phòng (http://tuoitre.vn/Giao-duc/457738/Vua-hoc-vua-lo-sap-phong-hoc.html)” đọc trên Tuổi Trẻ Online ngày 27-9-2011.

Bài báo kể chuyện “Trường tiểu học Bình Thạnh, xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang được xây dựng cách nay trên 30 năm.

http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=524318 (http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=524318) Học sinh lớp 1 Trường tiểu học Bình Thạnh (Cai Lậy, Tiền Giang) phải núp dưới gầm bàn mỗi khi trời mưa để được an toàn - Ảnh: T.Bắc

Hiện tại nhiều bức tường đã nứt trơ cả gạch. Còn nhìn lên nóc nhà thì đòn tay, rui, mè bị mục, mối mọt gặm nát bét, mái ngói nằm lung tung, nhiều chỗ nhìn thấy cả bầu trời”. Rằng do sợ hiểm nguy, mỗi khi mưa bắt đầu giội xuống, cô giáo Nguyễn Thị Vũ ra lệnh các em thu dọn tập vở rồi chui xuống gầm bàn. Rằng thấy các em chui xuống gầm bàn, cô Vũ rất áy náy nhưng “chỉ có cách đó mới đảm bảo an toàn cho các em”.

Tôi nhìn hoài bức ảnh có chú thích: “Theo hướng dẫn của cô giáo, học sinh lớp 1 Trường tiểu học Bình Thạnh phải núp dưới gầm bàn mỗi khi trời mưa để được an toàn” mà không biết mình muốn cười hay muốn khóc.

Tác giả bài viết thuật lại lời phụ huynh Lê Thị Ngọt, nói chị có con học ở phòng học xuống cấp này nên mỗi khi thấy trời mưa là chị phải chạy đến trường xem các cháu thế nào. “Chị kể có hôm đang mưa lớn, tất cả học sinh đang chui dưới gầm bàn thì chị cũng... chui xuống gầm ôm con cho đỡ lo...”. Nhắm mắt hình dung “đoạn phim” bằng chữ kia, tôi, một lần nữa, không biết mình muốn cười hay muốn khóc.
Thật khó tin đây là cảnh giáo dục của thời đại chúng ta, thế kỷ 21, ở một ngôi trường không sâu, xa, hẻo lánh. Và không chỉ một lớp. Theo ông Lê Như Thụy - hiệu trưởng ngôi trường kể trên, có hơn 100 học sinh phải học trong hoàn cảnh như vậy.

Cấp trên của ông Thụy, trưởng Phòng GD-ĐT huyện Cai Lậy Ngô Minh Chung, cho biết mới đây ở Trường THCS Võ Việt Tân đã có một học sinh bị thương vì bêtông ở lớp học rớt trúng đầu. Cấp trên của ông Chung, ông Trần Văn Trí - phó giám đốc Sở GD-ĐT Tiền Giang, ước tính toàn tỉnh Tiền Giang có tới 800 phòng học xuống cấp trầm trọng. Sở biết nhưng lực bất tòng tâm.

Thật ra đây không phải lần đầu tiên chúng ta nghe thấy bi kịch học hành của thế hệ “tương lai đất nước”. Chỉ cần vào Google đánh hai từ “trường sập”, chúng ta sẽ lượm ra hằng hà cảnh tượng thương tâm dù đã được diễn đạt bằng câu chữ khách quan: “Trên trần của lớp học chằng néo đầy gỗ tạp để chống sập”, “Những hàng cột phía trước bong tróc ximăng trơ ra những thanh sắt. Thầy cô lo sợ khi mưa dông, ngôi trường này sẽ sập bất cứ lúc nào”...

Và không chỉ đọc, nếu có dịp ngược xuôi đất nước, chúng ta rất dễ dàng gặp các hình ảnh mà các phóng viên đã nói, đành phải nói bởi không lặng im được nữa.

Tôi sống ở TP.HCM, quê ngoại ở Tiền Giang, mẹ lập nghiệp ở Cần Thơ, do vậy thường có dịp lướt theo lộ trình liên tỉnh, để thấy tận mắt hàng loạt ngôi trường mà nên thơ phượng đỏ không che nổi sự tiêu điều. Tiêu điều đến vô lý. Nó buộc chúng ta phải tự hỏi: cái gì đang thiếu - lực hay tâm?

Nhìn lại bức ảnh chân thật mà cứ như hư cấu, đọc lại câu nói của thầy Võ Cao Thi - giáo viên lớp 4 Trường tiểu học Hậu Mỹ Trinh (Cái Bè): “Mỗi khi trời mưa tôi phải quan sát mái nhà. Nếu thấy chỗ nào lung lay thì yêu cầu học sinh tránh xa hoặc chui xuống gầm bàn trốn”, thốt nhiên tôi nhớ hình ảnh con gái mình mỗi khi có tiếng chuông.

Xin lỗi các cô trò trong bức ảnh và bên ngoài bức ảnh, khi cái ám ảnh cá nhân quá sâu khiến tôi tự động đồng hóa hình ảnh chui xuống gầm bàn với sự mắc cỡ, sự chạy trốn cái xấu. Và khi tự thể tất cho ám ảnh chủ quan - nhưng thành thật - của mình, cái đầu chủ quan trong tôi cũng tự động đặt ra câu hỏi: ai thật sự “chui xuống gầm bàn” trong thảm trạng chui xuống gầm bàn của thế hệ “tương lai đất nước”?


Nguồn: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/459626/Ai-chui-xuong-gam-ban.html

nbc
10/12/11, 10:49 PM
Máu làm quan!


Tác giả: Kỳ Duyên
Bài đã được xuất bản.: 09/12/2011 05:00 GMT+7

Xin tác giả Alan Phan đừng chê trách thế hệ trẻ. Bởi các em là sản phẩm của nền GD hư học (chữ của GS Hoàng Tụy), nên các em phải chạy theo... cha anh, chạy theo hư danh. Danh "hư" nhưng lợi "thực". Có "thực" lại chạy tiếp "danh".

Xin được lấy một phụ đề nhỏ trong bài viết "Thế hệ 9X: Làm quan hay làm ăn?" của tác giả Alan Phan đăng trên Tuần Việt Nam mới đây, ngày 29/11/2011 để làm chủ đề chính của Phát ngôn Tuần Việt Nam tuần này.

Một nền giáo dục ứng thí

Bài viết của tác giả, tuy chỉ đề cập tới sự ham muốn- "máu làm quan" của thế hệ trẻ ngày nay, qua tiếp cận với hơn 100 sinh viên đại học. Nhưng thực chất đã đụng chạm tới một vấn đề vĩ mô hơn, và cũng đáng suy ngẫm hơn.

Vì sao tuổi trẻ người Việt lại "máu làm quan" hơn "máu làm ăn"?

Hay bởi các em được tạo ra từ một nền giáo dục học để thi, không phải học để làm? Cho dù ngành GD luôn nhắc tới bốn trụ cột- châm ngôn của UNESCO: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình.

Cái nền GD đó, thấm đẫm tinh thần thi cử, ngay cả trong văn chương. Không phải ngẫu nhiên, tác giả Alan Phan nhắc tới bài thơ Trăng sáng vườn chè. Người viết bài chợt nhớ, cả tuổi thơ của mình, cũng luôn được nghe tiếng mẹ hát ru:

Sáng trăng sáng cả vườn chè/ Một gian nhà nhỏ đi về có nhau/ Vì tằm tôi phải chạy dâu/ Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay/ Chồng tôi thi đỗ khoa này/ Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi...

...Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa/ Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng/ Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đường/ Tôi ra đón tận gốc bàng/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem/ Đêm nay mới thật là đêm/ Ai đem trăng tới lên trên vườn chè.

Dân tộc chúng ta, trọng sự học. Và cũng rất trọng "cái danh"- làm quan. Cái danh ấy chỉ có thể lập nên qua chuyện đỗ đạt thi cử. Cái danh ấy, nó len lỏi tới cả chốn phòng the, tới cả sự ân ái vợ chồng, đến mức nàng cảm thấy Đêm nay mới thật là đêm, chỉ sau khi chàng đã vinh quy bái tổ. Đủ hiểu đặc điểm, đặc tính một dân tộc trọng sự học và trọng cái danh đến độ nào.

Cũng phải công bằng mà nói, háo danh và máu làm quan là bản năng của con người, khi bắt đầu có nhận thức về nhóm, về tập thể, cộng đồng và xã hội. Nó không xấu, nếu nền tảng xã hội nói chung, nền tảng GD nói riêng, tạo ra được những vị quan tài đức, chứ không phải bất tài bất đức...song toàn!


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/Lamquan_13233408271787273530_1323340827.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/Lamquan_13233408271787273530_1323340827.jpg)


Ảnh minh họa

Nhưng nếu nền tảng xã hội và nền tảng GD đó, chỉ ưu ái, khuyến khích con người háo danh và làm quan, thì xã hội đó sẽ ra sao đây?

Mặc dù trải qua ba, bốn cuộc duy tân hay cải cách, GD Việt Nam đến giờ, thực sự chưa thoát khỏi thân phận một nền GD ứng thí- bản chất cốt lõi của một nền GD phong kiến xưa cũ, nặng tính hàn lâm, lý thuyết. Thi cử vẫn là cái gốc điều chỉnh mọi cách thức tổ chức GD, mọi phương pháp dạy- học. Mới có câu thi gì học nấy.

Người ta lo cho con cái, và chuẩn bị cho cái sự ứng thí của đứa trẻ từ lúc bập bẹ, lớp "lá" mầm non, lớp 1 tiểu học, tới mục tiêu cao nhất- thi đại học. Vấn nạn học thêm, vì vậy cũng nảy nở từ bậc tiểu học tới trung học phổ thông như nấm sau mưa. Liệu có nên gọi, bên cạnh nền GD chính khóa, còn có một nền GD học thêm?

Bộ GD tự lúc nào, được mệnh danh là Bộ... thi cử. Từ đầu năm, cho đến cuối năm chỉ loay hoay họp hành, chuẩn bị cho các kỳ thi. Thi tốt nghiệp THPT, thi đại học, thi học sinh giỏi quốc gia các cấp, thi Olimpich quốc tế và khu vực. Chưa kể các kỳ thi của các địa phương.

Đã thi cử là có gian lận. Chống gian lận bằng cuộc vận động Hai không rầm rộ, nhưng đến thời điểm này, qua các tỷ lệ tốt nghiệp cao và đẹp đến...nghi ngờ, cái sự gian lận thi cử, e nó lại "vận" vào chính ngành GD?
Đến mức Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phải hỏi thẳng vị Bộ trưởng GD tại phiên chất vấn các thành viên Chính phủ trong kỳ họp thứ 2, QH khóa XIII mới đây: Đề nghị Bộ trưởng nói thẳng, nói rõ đi, kết quả cao như vậy (tỷ lệ đỗ tốt nghiệp) có phản ánh thực chất không... Ta đang bàn chất lượng, chất lượng không tương xứng với kết quả thi. Bộ trưởng có khẳng định như vậy không. Khẳng định thì mới có giải pháp (VietNamNet, 24/11/2011).

Người dân khổ vì thi cử, nghi ngờ thi cử, thậm chí vay nợ chồng chất vì con cái đi thi cử, nhưng lại không thể rời bỏ thi cử.

Bộ GD khổ vì thi cử, nhưng cũng không dám bỏ bớt thi cử.

Ngay chủ trương thi "2 trong 1"- chỉ còn một kỳ thi trung học quốc gia, một chủ trương hợp xu thế thời đại, dưới áp lực xã hội, Bộ GD đành lững lờ không nói không, cũng không nói có, hệt chú "thỏ đế" trong ca dao: Rằng yêu thì nói là yêu/ Không yêu xin nói một điều cho xong...

Cũng cần công bằng để nói rằng, từng có nhiều năm, nhận thức được trách nhiệm xã hội của mình, ngành GD muốn thay đổi xu hướng học để thi, khi chủ trương phân luồng qua mô hình phân ban THPT: Ban A (Khoa học tự nhiên), B (khoa học kỹ thuật) và ban C (khoa học xã hội và nhân văn).

Thế nhưng rất nhạy cảm, số đông người dân không ai muốn con em mình đi theo ban B - để làm thợ. Tất cả chỉ một ước muốn chui qua cánh cửa hẹp - thi đại học.

Phân ban lần đầu thất bại, vì đã không có học sinh theo học như thiết kế chủ quan của ngành, không được người dân ủng hộ. Mà cũng còn vì GD không trả lời được câu hỏi của họ- học sinh ban B sẽ đi về đâu, làm gì?
Phân ban lần hai ra đời, còn mỗi hai ban: A và C, chỉ để chạy theo và đáp ứng nhu cầu thi ĐH của số đông con em nhân dân.

Cái hay được thay bằng cái dở. Đi kèm theo là sự lãng phí, tốn kém tiền bạc không biết bao nhiều mà kể.
Nhưng xét cho cùng phân ban thất bại, GD không có lỗi, nhân dân không có lỗi, vì... Cái nước Việt mình nó thế(!)

Danh "hư" nhưng lợi "thực"

Nếu biết rằng, có chính sách nào trong xã hội chúng ta thực sự trân trọng khuyến khích người thợ, người lao động? Cao hơn nữa là trân trọng người giỏi, người tài? Từ vị thế, lương bổng, chế độ đãi ngộ? Hay chỉ khuyến khích con người vươn tới...làm quan?

Thì cái bằng cấp là tiêu chí đầu tiên phải có để tiến thân. Thế nên, ngay cả Thủ đô Hà Nội cũng từng có chủ trương 100% cán bộ cốt cán phải là tiến sĩ!

Cái danh làm quan khi ra đời, dĩ nhiên luôn kèm theo cái lợi- bổng lộc, tiền bạc. Cái danh kiếm lợi bằng chính danh không thỏa, nó sẽ tận dụng để kiếm lợi bằng nhiều cách khác nhau.

Báo chí mới đây đưa tin, một vụ trộm ở TP. HCM. Chủ nhân ngôi nhà bị mất trộm (vợ và chồng) đều chỉ có một chức quan nhỏ thuộc ngành thuế, và ngành dạy nghề. Số lượng tài sản bị mất khá lớn, bao gồm 10 lượng vàng SJC, 2 bông tai hột xoàn, 1 nhẫn kim cương, 6.000 USD, 12 cuốn sổ tiết kiệm trị giá 5 tỉ đồng. Tổng trị giá tài sản bị mất trộm là hơn 6 tỉ đồng.

Rồi cách đây vài năm, người ta còn chưa quên vụ một chiếc cặp bị bỏ quên ở sân bay của một quan chức trên đường công tác từ Tây Nguyên trở về Hà Nội. Trong chiếc cặp số có tới 11 chiếc phong bì đựng tiền VN (ít nhất từ 2 triệu đến 10 triệu) và đô la Mỹ. Ngoài phong bì có ghi tên nơi biếu.
v..v... và v..v..


http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/Bang-cap-thu-nhap_1323340833.jpg (http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/Uploads/Bang-cap-thu-nhap_1323340833.jpg)


Cái danh làm quan khi ra đời, dĩ nhiên luôn kèm theo cái lợi- bổng lộc, tiền bạc.

Trong GD thì quốc nạn học thêm. Ngoài xã hội thì quốc nạn tham nhũng. Cũng bởi hai từ danh- lợi.
Nó chi phối con người đến mức, có lần nói chuyện về lứa trẻ, một GS từng trải buồn bã: Các em bây giờ, họ chỉ đi tìm "minh chủ, hắc chủ" để tiến thân, chứ không đi tìm thầy để tu thân đâu, nhà báo ạ!

Ở một đoạn khác, TS Alan Phan viết: Sau 5 ngàn năm tiến hóa của nhân loại, định luật Darwin không ứng dụng ở Việt Nam. Một anh trưởng thôn hay trưởng xã vẫn oai quyền và sống sung túc như thời phong kiến hơn trăm năm trước. Có lẽ vì văn hóa và truyền thống, người dân vẫn phải co rúm như một con sâu khi đối diện với một ông quan, dù là quan làng. Khác với tư duy của các dân tộc Âu Mỹ: Lương anh chị lấy từ tiền thuế của tôi thì tôi là người chủ, trả lương cho anh chị để được phục vụ.

Cái tâm lý cay đắng ấy, đã được nhà văn Lê Lựu trong cuốn Thời xa vắng, chỉ ra, qua số phận đầy bi kịch của anh nông dân Giang Minh Sài, ngay cả khi anh ta đã ra thành phố. Số phận một cá nhân hay số phận của nhiều cá nhân một thời cuộc ấu trĩ?

Đó là chuyện thôn làng trong quá khứ. Nhưng nếu TS Alan Phan biết rằng ở tầm vĩ mô, thì thời hiện đại này, đến một cái danh hiệu cũng ưu tiên cho người làm quan? Như tiêu chí xét tặng Huân chương Lao động của Nhà nước chẳng hạn, mà người viết bài chứng kiến mắt thấy tai nghe.

Vậy có ai không thích làm quan?

Con người được đào tạo bởi một nền GD ứng thí, khi ra đời, lại sống trong một xã hội, mà sự làm lợi từ cái danh rất dễ.

Đó là lý do vì sao làm quan thẳng thì khó, nên không ít kẻ, mua quan bán tước, làm quan... tắt.

Đó là lý do vì sao, có biết bao câu chuyện bằng rởm, bằng giả của quan chức thấp, quan chức cao.
Một đất nước không rộng mà có bao nhiêu loại quốc nạn: Quốc nạn tham nhũng, quốc nạn học thêm, quốc nạn giao thông, quốc nạn bằng giả. Còn quốc nạn gì nữa đây?

Bằng rởm, bằng giả trong nước không oai, người ta tìm kiếm bằng rởm, bằng giả quốc tế, xuyên quốc gia "dọa nhau". Vải thưa hóa ra vẫn che được mắt thánh! Không ít bằng giả, bằng rởm vẫn chễm chệ lên ngôi.

Thế nên, xin tác giả Alan Phan đừng chê trách thế hệ trẻ. Bởi các em là sản phẩm của nền GD hư học (chữ của GS Hoàng Tụy), nên các em phải chạy theo... cha anh, chạy theo hư danh.
Danh "hư" nhưng lợi "thực". Có "thực" lại chạy tiếp "danh"

Chỉ đất nước, là khó phát triển? (1)

(1) Chú thích thêm của nbc: trên báo chí, đã có người từng cho rằng: Việt Nam không phải là một nước phát triển, không phải là nước đang phát triển, không phải là nước chậm phát triển, cũng chẳng phải là nước kém phát triển, mà là một nước khó phát triển.

hthtth
12/12/11, 08:59 AM
Em chào cô

Em suy nghĩ nhiều về chuyện có mạo muội và đường đột quá không khi viết thư cho cô như thế này.

Sau buổi học đầu tiên trong chương trình cao học, mọi người trong lớp có một buổi họp nhỏ về việc đóng góp tiền mua quà cho thầy cô sau mỗi môn học và quà cho giáo vụ. Một số anh chị tương đối lớn tuổi đang bàn luận khá sôi nổi về việc đóng góp bao nhiêu, chị lớp trưởng đề nghị "giá sàn" là 50.000/môn học.

Một bạn bằng tuổi em đứng lên có ý kiến phản đối về việc đó.

Không khí trở nên rất căng thẳng. Nhiều anh chị đứng lên giải thích cho chúng em về cái "lệ" đằng sau cái luật, về việc chúng em chưa đi làm nên chưa hiểu chuyện, còn ngây thơ nên chưa quen đó thôi, rằng đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn...Chị lớp trưởng liên tục nói "đây là một vấn đề rất nhạy cảm...".

Cô ơi, vấn đề không phải là bao nhiêu tiền, vì tụi em đã ra trường mà không phải đi làm ngay để kiếm tiền, có thể học bao nhiêu và bao lâu tùy thích. Nhưng em không tin rằng một vấn đề nhạy cảm lại có thể được mọi người bàn luận dễ dàng và sôi nổi như thế. Sự gian trá, giả dối thật đáng sợ, nhưng còn đáng sợ hơn là khi tất cả mọi người đều coi sự gian trá, giả dối ấy là bình thường.

Cô ơi, không phải chưa đi làm có nghĩa là em chưa hiểu tất cả những chuyện này.

Chúng em không phải là mọt sách ngây thơ chỉ biết đến tháp ngà khoa học của mình.

Nhưng em đã hi vọng và tin tưởng rất nhiều, vào sự trong sạch và nề nếp ở nơi này, nơi mà kiến thức là quyền lực duy nhất. Vậy mà, ngay ở đây, những lí do như: bận đi làm, đã có gia đình... đang được viện dẫn và những giờ học tập, nghiên cứu thật sự đang bị đánh đổi bằng việc tạo ra những mối quan hệ tốt với giảng viên nhằm xin xỏ, chạy chọt.

Trước đây, ba em học ngành Y. Ba em bỏ học năm thứ 3 vì nhiều lí do. Ba luôn nói với em, giá ngày đó có ai đó nói cho ba biết rằng nhất định sẽ có sự thay đổi, rằng xã hội sẽ trả công xứng đáng với năng lực và nhân phẩm của mình.

Ba nói, dù có những lúc sự dối trá, chạy chọt đầy rẫy, nhưng con luôn phải tin rằng nhất định sẽ có sự thay đổi. Phải có niềm tin vào lẽ phải và sự thật. Những người sống trung thực và dũng cảm dù chỉ chiếm 5% , nhưng chính họ - chính 5% đó đã, và sẽ tiếp tục làm thay đổi thế giới.

Em sợ nhất là trở thành một người ngu dốt, vì ngu dốt sẽ dẫn đến yếu hèn. Em không muốn làm một con người sống đớn hèn và chạy chọt. Em đã tin tưởng và sống như những gì ba em khuyên.

Nhưng cô ơi, thỉnh thoảng em thấy thật yếu đuối và cô đơn. Như lúc này đây, trong một thời buổi mà sống lương thiện thôi đã khó biết bao rồi, huống hồ sống và trở thành một trí thức chân chính.

Nhưng mà nhất định sẽ có sự thay đổi, phải không cô

Sinh viên cũ của cô

http://vietnamnet.com.vn/vn/giao-duc/dien-dan/52206/5--nguoi-nay-se-tiep-tuc-lam-thay-doi-the-gioi-.html

nbc
20/02/12, 11:14 PM
16/02/2012


Cưỡng chế Tiên Lãng: Cán bộ không phải là người cai trị (http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://boxitvn.blogspot.com/2012/02/cuong-che-tien-lang-can-bo-khong-phai.html)


(VTC News) – Nhiều cán bộ, công chức quên rằng mình ăn lương từ tiền thuế của người dân, từ tiền khai thác tài nguyên của đất nước – cũng là từ tài sản của dân, do đó mình là công bộc của dân chứ không phải là những người cai trị, ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

Đây là một trong những nội dung mà GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên ĐBQH, nguyên Phó Chủ nhiệm UB VH GD TNTN&NĐ của Quốc hội vừa trao đổi với VTC News xung quanh bài học rút ra từ vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng.

- Thưa ông, kết luận của Thủ tướng Chính phủ về vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng (Hải Phòng) được dư luận xã hội rất đồng tình. Nhưng bài học rút ra từ vụ việc này, theo ông là gì?

Thứ nhất, chính sách đất đai bất hợp lý đã tạo ra quá nhiều vụ trục lợi, quyền chính đáng của người dân bị xâm phạm, dẫn đến khiếu kiện gay gắt, kéo dài.

Hiện hơn 70% khiếu kiện liên quan đến đất đai chứng tỏ chính sách pháp luật về đất đai của mình có vấn đề!

Nhà nước phải kịp thời sửa đổi chính sách, sửa đổi những quy định chưa phù hợp trong Luật Đất đai, thậm chí nhân dịp sửa Hiến pháp, cần quy định quyền sở hữu đất đai của người dân.

Vụ việc này cũng bộc lộ yêu cầu chấn chỉnh đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền.

Nhiều cán bộ, công chức quên rằng mình ăn lương từ tiền thuế của người dân, từ tiền khai thác tài nguyên của đất nước – cũng là từ tài sản của dân, do đó mình là công bộc của dân chứ không phải là những người cai trị, ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

Người cán bộ phải luôn nhớ lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với dân phải kính trọng, lễ phép”, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Nói ví dụ trong vụ thu hồi đất ở Tiên Lãng, giả sử cả hai phương án thu hồi hay không thu hồi đất đều đúng luật thì phương án được chọn phải là phương án có lợi cho dân hơn. Nhưng cách giải quyết mà chính quyền huyện đã chọn không chỉ gây hại cho dân mà còn trái pháp luật nữa!

Điều này cho thấy cả cái đức, cái tâm lẫn năng lực cán bộ đều hỏng. Nhận thức và những hành vi như thế rất xa lạ với bản chất của chính quyền nhân dân, đẩy người dân vào thế thù địch, bất lợi vô cùng cho chính công việc của chính quyền.

Bài học thứ ba cần rút ra qua vụ Tiên Lãng là khi đã sai, cán bộ phải dũng cảm nhận sai lầm, không nói dối hay đổ lỗi loanh quanh. “Đường đi hay tối, nói dối hay cùng”. Càng nói dối càng mất lòng tin, mất đi sự tôn trọng của dân.
Cần nhớ rằng trong thời đại thông tin này, tin gì “hot” cũng có thể lan nhanh ra toàn cầu, đâu có phải chỉ người dân nước ta mới biết. Cán bộ đừng để cho dư luận chê cười.

Bài học thứ tư là tinh thần trách nhiệm trước dân. Khi xảy ra vụ việc, phần lớn các cơ quan hữu trách thiếu nhạy cảm, chậm đến với dân. Chỉ có Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quan tâm, cử đoàn về từ trước Tết Nguyên đán, kết luận kịp thời và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Là công bộc của dân, chúng ta không thể nào giữ mãi thái độ vô cảm, dây dưa, đẩy qua đẩy lại, thiếu trách nhiệm trước khiếu nại, tố cáo và những bức xúc của dân. Những vụ việc như Tiên Lãng, càng chậm xử lý thì càng bất lợi.

Bài học thứ năm là vai trò của những người đại diện nhân dân như đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, các tổ chức, đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên địa phương,…quá thụ động; thậm chí gần như toàn bộ hệ thống này đứng về phía những người làm sai trong chính quyền.

- Thế đoàn thể có trách nhiệm ra sao trong vụ việc này, thưa ông?

Tôi nghĩ các đoàn thể cần phải xem lại vai trò, trách nhiệm của mình với người dân, nếu cần thì phải thay người đứng đầu tổ chức của mình. Thực hiện nhiệm vụ đại diện như vậy thì người dân biết trông vào đâu? Và liệu người dân có cần đóng thuế để nuôi những tổ chức cồng kềnh như thế này không?

Một bài học lớn nữa là sự tham gia của báo chí, đây là một vụ đặc biệt báo chí vào cuộc sớm và bám rất sâu sát, đưa tin, bình luận kịp thời. Thủ tướng đã cảm ơn các lão thành và chuyên gia, cảm ơn báo chí đã tham gia giúp cơ quan trung ương và giúp Thủ tướng nhìn nhận được toàn diện, đúng đắn, khách quan, đồng thời thức tỉnh lương tâm toàn xã hội, giúp cán bộ không quên vai trò công bộc của mình.

Tuy vậy, cũng có một số nhà báo thông tin một chiều theo hướng của người làm sai, tiếp tay cho cái xấu, không phù hợp với chuẩn mực đạo đức và bản lĩnh của người làm báo.

- Từ vụ việc này, cần xử lý thế nào để cảnh báo những cán bộ đang có tư tưởng và hành động "cai trị"?

Cần hủy bỏ những văn bản không đúng, trả lại quyền cho người dân, xử lý nghiêm cán bộ làm sai và người đứng đầu cấp quản lý cán bộ làm sai. Có như vậy mới nêu gương tốt để từ nay cán bộ không dám giở thói cường hào với dân và cấp trên phải quan tâm đến việc bố trí nhân sự và thường xuyên giám sát công việc của cấp dưới.

Vụ việc ở Tiên Lãng có tính điển hình. Vì vậy, như Thủ tướng đã yêu cầu, các địa phương cả nước phải chủ động rà soát, chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước về đất đai, nhất là việc thu hồi và cưỡng chế thu hồi đất bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Đề cao trách nhiệm, tập trung giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo của công dân về đất đai.

Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các bộ ngành liên quan tiến hành rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý, sử dụng đất đai. Khẩn trương tiến hành tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai để kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai cho phù hợp với thực tế tình hình và yêu cầu phát triển mới…

- Ông có cái nhìn thế nào về ông Đoàn Văn Vươn?

Tôi nhớ trước đây có tờ báo tuyên dương ông Vươn như người hùng của Tiên Lãng vì dám vay hàng chục tỷ đồng, “đội đá vá trời” lấn biển làm đầm nuôi tôm. Dự án của Tổng đội Thanh niên xung phong ở đó tiêu số tiền gấp gần 4 lần ông Vươn mà có thành công đâu?

Dư luận người dân địa phương đánh giá cao ông Vươn, chính quyền khóa trước cũng ủng hộ ông Vươn trong việc quai đê lấn biển, chống bão lũ, cải thiện đời sống, tạo công ăn việc làm, góp phần tạo ra một hướng làm kinh tế cho người dân trong vùng. Có thể nói ông Vươn là người lao động chân chính, vừa trí tuệ, vừa bản lĩnh, đáng khen.

Vậy vì sao một người lao động cần cù, hiền lành, chất phác như ông Vươn lại có hành động chống đối quyết liệt như thế? Đó là câu hỏi của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh chứ không phải của tôi.

Tôi thì tôi hiểu chuyện xảy ra là do việc thu hồi đất quá sai, diễn ra gay gắt, suốt một thời gian dài, đương sự nhiều lần khiếu nại đều bị chính quyền bác khiếu nại, kiện ra tòa án huyện cũng bị toà án bác, kiện đến tòa án thành phố để phúc thẩm thì vị thẩm phán ở đó làm một hành động gần như là phối hợp với huyện lừa dân, các đoàn thể thì không một ai lên tiếng bênh vực.
Lúc này, dư luận đang đổ dồn sự chú ý vào việc luận tội ông Vươn. Các cơ quan điều tra, công tố và xét xử cần rút kinh nghiệm về cách xử lý vụng về, bảo thủ, thiếu khách quan của chính quyền huyện và thành phố sau khi xảy ra sự việc, xem xét sự việc một cách khách quan, đặt nó vào toàn bộ quá trình, có tính đến nguyên nhân và hậu quả thực tế để có kết luận đúng pháp luật, hợp lòng dân. Đừng để dư luận phản ứng mạnh lúc ấy mới chịu sửa sai như vừa rồi.

Về hoàn cảnh đương sự, có thể thấy ông Vươn, ông Quý và những người đàn ông họ Đoàn là lao động chính trong nhà. Giao lại đầm nuôi tôm cho họ mà gần như toàn bộ lao động chính ở trong tù thì gia đình họ khắc phục tổn thất, tiếp tục sản xuất và sinh sống thế nào?

Cuối cùng, phải nói rằng phản ứng của gia đình ông Vươn đã giúp Trung ương nhận ra những góc khuất ở cơ sở, ở nông thôn để chấn chỉnh.

- Xin cảm ơn ông!

Nguồn: vtc.vn (http://anonymouse.org/cgi-bin/anon-www.cgi/http://vtc.vn/2-321602/xa-hoi/cuong-che-tien-lang-can-bo-khong-phai-la-nguoi-cai-tri.htm)

Nhiều cán bộ, công chức quên rằng mình ăn lương từ tiền thuế của người dân, từ tiền khai thác tài nguyên của đất nước – cũng là từ tài sản của dân, do đó mình là công bộc của dân chứ không phải là những người cai trị, ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

Người cán bộ phải luôn nhớ lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với dân phải kính trọng, lễ phép”, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Liên hệ:

Làm thầy, cũng phải nhớ: mình ăn lương từ tiền thuế của dân. Sinh viên (SV) là con/cháu của dân. Do đó, mình là công bộc của SV chứ không phải là những người cai trị SV, ngồi trên đầu trên cổ SV.

"việc gì có lợi cho SV phải hết sức làm, việc gì có hại cho SV phải hết sức tránh”. :Mfoyourinfo:

docchieu30x3
21/02/12, 03:47 PM
16/02/2012

Nhiều cán bộ, công chức quên rằng mình ăn lương từ tiền thuế của người dân, từ tiền khai thác tài nguyên của đất nước – cũng là từ tài sản của dân, do đó mình là công bộc của dân chứ không phải là những người cai trị, ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

Người cán bộ phải luôn nhớ lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với dân phải kính trọng, lễ phép”, “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.

Liên hệ:

Làm thầy, cũng phải nhớ: mình ăn lương từ tiền thuế của dân. Sinh viên (SV) là con/cháu của dân. Do đó, mình là công bộc của SV chứ không phải là những người cai trị SV, ngồi trên đầu trên cổ SV.

"việc gì có lợi cho SV phải hết sức làm, việc gì có hại cho SV phải hết sức tránh”. :Mfoyourinfo:
Ai củng có suy nghỉ như thầy nbc thì sv sẽ được nhờ, đồng thời có những suy nghĩ củng như thực hiện những công việc sau khi ra trưỡng sẽ "trong sáng" hơn!!! Đạo đức nơi đâu ..... mình phải đi tìm......

nbc
23/02/12, 06:14 PM
Đã "ngộ" rồi thì cố mà làm cho được điều gì đó, dù nhỏ. Đừng chỉ nói, thưa "bác" Nguyễn Phương.
Không học được ở các bậc "trí giả" GS , TS thì anh em ta học các bác "Hai Lúa" cũng còn được. Cụ Hồ đã từng nói: "học lẫn nhau và học ở nhân dân" mà. Các bác Hai Lúa kia là "dân" đấy ạ!



Phản biện xã hội: Ai?




http://img.vietnamnet.vn/logo/tuanvn.pngChính thói quen chấp nhận mặc nhiên thiếu vắng hoài nghi trong khoa học đã kìm hãm sự phát triển của nước nhà? Đó cũng chính là lý do tại sao sinh ra nghịch lý là các kỹ sư Hai Lúa ... sáng chế ra máy nọ máy kia để giảm bớt cực nhọc cho nông dân. Còn các "đề tài khoa học" của viện nghiên cứu tốn không biết bao nhiêu cơm của nhân dân thì chỉ đẻ ra... đề tài để nghiên cứu.

Nhiều kiểu trí thức?

Trong một dịp công tác, người viết bài này có may mắn được làm việc cùng gần 100 "đại trí thức" của nước nhà... Về mặt hình thức, đối với tôi và đối với xã hội Việt Nam hiện tại, những người này mặc nhiên được coi là đại trí thức vì hầu hết họ là GS, TS,... đến từ các trường đại học và học viện trên khắp cả nước.

Đã có nhiều định nghĩa khác nhau thế nào là "trí thức", nhưng tôi mặc nhiên coi họ là trí thức để khỏi cần định nghĩa lại từ này.

Do đặc thù công việc, tại nơi làm việc, nguồn thông tin duy nhất là VTV, không có bất cứ phương tiện thông tin nào khác.

Mọi chuyện trôi đi êm ả, mỗi nhóm một chuyên ngành, tưởng chừng chẳng còn việc gì khác là làm ra "sản phẩm tri thức" đến hạn thì nộp là xong, hết giờ làm việc thì đi thả bộ,....

Vào giờ giải lao, chủ đề các câu chuyện phần nhiều xoay quanh những chuyện đại loại như con (ôtô) của mình mấy chấm, hiện nay Việt Nam có bao nhiêu con Rolls-Royce Phantom và ai đang sở hữu chúng,... hay cô ca sỹ X đang có xì-can-đan vì vừa bị các paparazzi tóm được "lộ hàng",...

Tôi thì chẳng biết mô tê gì về ôtô và không thích đọc báo nên ngồi nghe như vịt nghe sấm. Có vị thì khoe mình dạy thêm mỗi tháng được gần hai chục vé.

Tối đến thì các trí thức (http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/giao-duc/2009/06/3ba1022d/) trẻ túm lại đánh phỏm (chơi bài). Tôi hiểu không phải chỉ có những vị có mặt ở đây như vậy.

Nhưng bỗng một hôm, vụ việc ở Tiên Lãng làm xáo động cái cộng đồng nhỏ này. Đúng giờ ăn trưa hôm ấy, khi thấy VTV trong bản tin trưa đầu tiên đưa tin Đoàn Văn Vươn "dùng vũ khí chống người thi hành công vụ...", một số người trong phòng ăn mặt đỏ lự, không biết vì men hay vì tức giận, nói oang oang: "Mấy thằng chống người thi hành công vụ này phải cho chung thân là ít!"

Những người khác bình tĩnh thì lẳng lặng tiếp tục bữa trưa. Một ông khác tóc bạc thấy chướng tai quá bèn nói qua vai: "Chưa biết đúng sai thế nào sao các vị đã đòi trị tội người ta?"

Sau đó, những kẻ "tội phạm" kia còn được các vị mang ra bàn tán trong giờ giải lao hay đi thả bộ. Một ông dạy Sử còn mạnh dạn nhận xét: "Dân Hải Phòng là đầu gấu lắm. Lần này thì phải trị cho nó chừa đi."

Vẫn là thói vơ đũa cả nắm!?

Tôi cứ lẩn thẩn tự hỏi không hiểu làm sao mà các vị ấy vội vàng thế? Thái độ này ông bà ta gọi là hồ đồ?

Thật phúc đức cho nhân dân là mấy đại trí thức này không nắm giữ cương vị cầm cân nảy mực.

Từ lúc nghe các vị ấy phán như thế, tự nhiên tôi thấy buồn buồn và cứ hình dung họ là những bộ complet biết đi và phía trong những bộ cánh phẳng phiu ấy là những cái dạ dày lổn nhổn thức ăn và những cốc bia chưa kịp tiêu hóa, hệt như Người vô hình của Herbert George Wells.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/02/22/16/20120222165709_1908phanbien1_1329901210.jpg


Trí thức với những đặc thù của mình phải một tầng lớp đi tiên phong trong hoạt động phản biện xã hội. Ảnh minh họa


Sự thiếu vắng tư duy phân tích

Từ xưa, ông bà ta đã dạy: "Khi nghe thì phải nghe bằng cả hai tai". Như thế, tiền nhân đã dạy chúng ta tư duy phân tích và tư duy phê phán để tránh hồ đồ. Lời dạy đó cho đến nay vẫn là một chân lý.

Thói quen mặc nhiên chấp nhận thông tin một chiều làm biến dạng trí tuệ con người và chỉ thích hợp với những thân phận nô bộc, sản phẩm của giáo dục ngu dân của chế độ thực dân phong kiến? Thói quen ấy thể hiện tình trạng thiếu vắng tư duy phân tích và tư duy phê phán. Người nghe chẳng bao giờ tự hỏi: "Có đúng thế không?" và "Tại sao?"

Thiếu vắng những câu tự vấn như thế sẽ dẫn đến ngộ nhận - ngộ nhận về thế giới khách quan và cả về bản thân mình. Họ nhìn thế giới khách quan qua lăng kính không đổi của mình là bộ não đã hóa thạch. Họ tự nhốt mình vào cái giếng kiến thức và tin rằng bên ngoài không còn gì để biết thêm hay học thêm nữa, trên đầu họ bầu trời cũng chỉ còn bằng cái nia, cả bồ chữ của thiên hạ trong đây cả rồi.

Chính thói quen chấp nhận mặc nhiên thiếu vắng hoài nghi trong khoa học đã kìm hãm sự phát triển của nước nhà? Đó cũng chính là lý do tại sao sinh ra nghịch lý là các kỹ sư Hai Lúa... sáng chế ra máy nọ máy kia để giảm bớt cực nhọc cho nông dân. Còn các "đề tài khoa học" của viện nghiên cứu tốn không biết bao nhiêu cơm của nhân dân thì chỉ đẻ ra... đề tài để nghiên cứu.

Là những "nhà" khoa học mà họ tư duy như thế thì nền khoa học nước nhà vẫn loay hoay nghiên cứu để tái phát minh ra cái bánh xe là điều tất yếu.

Tuy trong thiên hạ họ là những người có nhiều chữ nhưng có vẻ ít... nghĩa.

Trí thức "nửa mùa"?

"Phản biện xã hội" là cụm từ nghe có vẻ hiện đại. Thực ra, ông bà ta từ xa xưa đã dạy: "Thấy ngang tai trái mắt thì phải lên tiếng." Như thế còn cao hơn cả phản biện, người bình thường còn làm vậy, huống hồ trí thức.

Một khi ai cũng mũ ni che tai, cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, chỉ co lại một cách ích kỷ để bảo vệ lợi ích riêng, người ngay ắt càng sợ kẻ gian, nhắm mắt hoặc quay đi khi trông thấy kẻ gian móc túi người khác... thì cái ác sẽ lên ngôi.

Như vậy, ông bà mình thực hành phản biện xã hội từ lâu rồi, không nhất thiết chỉ có trí thức mới phản biện xã hội. Có những anh lái xe ôm nhận thức về xã hội còn cao hơn một số người có bằng cấp cao.

Sản phẩm tri thức không chỉ là những phát minh sáng chế, những công thức toán học, hóa học, những con robot, những giống cây mới.... Phản biện xã hội cũng là sản phẩm tri thức đích thực nhưng tất nhiên không phải chỉ là sản phẩm và trách nhiệm của riêng trí thức. Song, trí thức với những đặc thù của mình phải một tầng lớp đi tiên phong trong hoạt động này. Không lên tiếng đóng góp cho xã hội tiến bộ thì đó chỉ là Trí thức nửa mùa [1].

Xin dẫn một ví dụ, nghệ sỹ Ai Weiwei, ngoài những sản phẩm nghệ thuật nổi tiếng, ông không ngừng tiếng mạnh mẽ về nạn tham nhũng dẫn đến cái chết oan uổng cho bao nhiêu học sinh ở Tứ Xuyên, Trung Quốc do xây trường học vật liệu kém chất lượng (http://antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=68744).

Tôi không dám nhận mình là trí thức. Sinh thời, cha tôi có lần mắng: "Trí thức gì ngữ các anh; vừa hèn, vừa dốt!"

Từ đó, cứ ai gọi tôi là một... trí thức thì tôi lại nghĩ người ấy đang quở mắng mình.

---------
[1] Về trí thức Nga, NXB Tri Thức, Hanoi, 2009
Nguyễn Phương

aa.edu.vn
23/02/12, 08:24 PM
Nói chung cuộc đời này phức tạp lắm, ở đâu cũng có người này, người kia chứ cũng ko nên nghĩ mọi thầy cô đều như thế. Con sâu làm rầu nồi canh thôi, chứ những ai đọc những bức thư trên cũng đừng nản vì cuộc sống này sao đầy rẫy những sự bất công, người giàu thì giàu hơn còn người nghèo thì nghèo hơn. chúc bạn viết lá thư này sẽ thành công trên con đường công danh.

Ruyubang_do
24/02/12, 06:43 AM
Xin dẫn một ví dụ, nghệ sỹ Ai Weiwei, ngoài những sản phẩm nghệ thuật nổi tiếng, ông không ngừng tiếng mạnh mẽ về nạn tham nhũng dẫn đến cái chết oan uổng cho bao nhiêu học sinh ở Tứ Xuyên, Trung Quốc do xây trường học vật liệu kém chất lượng (http://antg.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=68744).
Bên lề chút, giữ phần bình trong bài viết này và link trích dẫn có gì đó không..thật sự ăn khớp

Trường học bằng... giấy carton tại Tứ Xuyên, Trung Quốc

Một trong những dự án xây dựng nhân đạo tại Tứ Xuyên nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Chính phủ Trung Quốc và dư luận quốc tế chính là dự án xây dựng trường học bằng nguyên liệu giấy bồi carton do kiến trúc sư danh tiếng Nhật Bản Shigeru Ban, cùng với sự tham gia tình nguyện của các sinh viên Trung Quốc và Nhật Bản cùng tiến hành.

Trận động đất kinh hoàng san bằng khu vực trung tâm tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc vào ngày 12/5/ 2008 đã cướp đi sinh mạng của 69.000 dân thường vô tội và khiến cho 4,8 triệu người Trung Quốc lâm vào cảnh “màn trời chiếu đất”. Hình ảnh tang thương nhất về trận động đất tại Tứ Xuyên là hàng trăm ngôi trường học đã bị san bằng, khiến cho hàng ngàn học sinh thiệt mạng. Nguyên nhân chính là do những ngôi trường học này được xây bằng loại nguyên vật liệu kém chất lượng.

Trong khi các cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành, thì song song với nó khá nhiều các tổ chức nhân đạo trong nước và quốc tế đặt chân đến Tứ Xuyên, nhằm hy vọng khôi phục lại cơ sở hạ tầng nơi đây kiên cố và bền vững hơn.

Một trong những dự án xây dựng nhân đạo tại Tứ Xuyên nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Chính phủ Trung Quốc và dư luận quốc tế chính là dự án xây dựng trường học bằng nguyên liệu giấy bồi carton do kiến trúc sư danh tiếng Nhật Bản Shigeru Ban, cùng với sự tham gia tình nguyện của các sinh viên Trung Quốc và Nhật Bản cùng tiến hành...
http://antg.cand.com.vn/images/small_header_01.gif

nbc
26/02/12, 07:35 PM
Cần một đội ngũ những nhà chính trị chuyên nghiệp


http://img.vietnamnet.vn/logo/tuanvn.pngMột nền quản trị quốc gia chuẩn mực sẽ như một cỗ máy chạy tốt, giúp đạt được những sản phẩm mà người sử dụng mong muốn. Còn với một cỗ máy được thiết kế lạc hậu, không phù hợp thì càng vận hành càng phát sinh nhiều vấn đề, càng đẻ ra nhiều phế phẩm.

Có thể thấy rằng mô hình quản trị hiện nay của Việt Nam, thực chất, vẫn theo những nguyên tắc cơ bản của mô hình Xô viết, mà chưa thay đổi về hệ chuẩn. Một số trong những khiếm khuyết rất lớn của mô hình Xô viết là sự chồng chéo chức năng, hệ thống chế độ trách nhiệm trước dân ít hiệu quả.

Hiện nay, chúng ta đang cố gắng cải tổ quản lý nhà nước để phục vụ nhân dân tốt hơn, tuy nhiên, nếu không thiết kế được một hệ thống trách nhiệm trước dân và hệ thống khuyến khích phục vụ dân phù hợp, thì đây là một nhiệm vụ khó khăn. Chỉ khi nào tiếng nói của người dân có ảnh hưởng trực tiếp trong việc quyết định vị trí của người lãnh đạo, thì khi ấy người lãnh đạo mới chịu áp lực để toàn tâm toàn sức phục vụ dân.

Một điểm yếu khác trong mô hình quản trị Nhà nước hiện nay là sự lẫn lộn giữa vai trò giữa các chính khách và các công chức. Xảy ra tình trạng các công chức lại thích nói chuyện chính trị, giỏi nói chuyện chính trị, nhưng lại hoàn toàn không thạo việc, không biết triển khai một chính sách đã được thông qua như thế nào. Ngược lại, nhiều chính khách lại ham điều hành các công việc cụ thể. Họ, tất nhiên, không giỏi về điều hành và lại gỡ bỏ mất hệ thống trách nhiệm đối với các công chức.


http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2012/02/24/16/20120224162009_vietnamstreet_1330069621.jpg

Không ít chính sách được thông qua vội, chưa nhận được sự ủng hộ cần thiết từ người dân, và từ xã hội.


Chúng ta thiếu một đội ngũ chính khách chuyên nghiệp. Một chính khách chuyên nghiệp phải có những kỹ năng khác với một công chức. Kỹ năng của chính khách là xác định các mục tiêu cần ưu tiên thực hiện và thuyết phục, vận động được sự ủng hộ để có thể hiện thực hóa thành những chính sách cụ thể. Như vậy, kỹ năng của nhà chính trị ở đây là tập hợp được lực lượng ủng hộ các chính sách, chứ không phải là lên kế hoạch triển khai, phê duyệt, ra lệnh, kiểm tra...

Do thiếu vắng các chính khách chuyên nghiệp nên đã có những chính sách được thông qua vội vàng trong bối cảnh chưa thu được sự ủng hộ cần thiết từ người dân, từ xã hội.

Để tránh tình trạng những hạn chế, bất cập sẽ tiếp tục phát sinh ngày càng nhiều hơn, phức tạp hơn, nhất thiết chúng ta cần điều chỉnh cỗ máy Nhà nước sao cho tương thích với những đòi hỏi tự nhiên của một nền kinh tế, xã hội đang phát triển đi lên. Nhu cầu xã hội hiện nay đang đòi hỏi một đội ngũ những chính khách chuyên nghiệp hơn, với một mô hình quản lý mới, trong đó có sự tách bạch giữa chức năng của các chính khách với những người thực thi công vụ. Đồng thời, một nhiệm vụ không thể bỏ qua là việc xác lập một chế độ trách nhiệm trước dân rõ ràng và một hệ thống khuyến khích phục vụ dân hiệu quả.

Theo Nguyễn Sĩ Dũng/ Tia Sáng

nbc
25/10/12, 10:47 AM
LƯỢC KHẢO VỀ CÁC TÊN GỌI Viện hàn lâm và Viện sĩ CÙNG NHỮNG NHẦM LẪN TAI HẠI


- Lê Mạnh Chiến -


[Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125]



I. Về Viện Hàn lâm (hay Hàn lâm viện翰 林 院 trong Hán ngữ)

1. Hàn lâm viện ở Trung Hoa và ở Việt Nam thời xưa

Theo từ điển Từ hải, chữ hàn翰 (trong Hàn lâm viện翰 林 院) vốn có nghĩa là một loai gà núi đẹp, gọi là cẩm kê, dịch sang tiếng Việt là “gà gấm”. Về sau, chữ hàn 翰này còn có nghĩa là cái lông chim dài và cứng. Ngày xưa, ở châu Á cũng như ở châu Âu, người ta dùng những chiếc lông chim dài và cứng để làm bút viết, do đó, chữ hàn翰 lại có nghĩa là cái bút, và còn có thêm vài nghĩa khác nữa. Trong từ hàn lâm翰林thì hàn 翰 nghĩa là bút, lâm 林nghĩa là rừng; hàn lâm 翰 林có nghĩa đen là rừng bút, nghĩa bóng là văn đàn, là chốn tinh hoa về học thuật.
Thời nhà Đường, năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Đường Huyền Tông tuyển mộ các triều thần “văn hay chữ tốt” để soạn thảo các chiếu chỉ, mệnh lệnh, từ đó sinh ra chức quan Hàn lâm học sĩ (gọi tắt là Hàn lâm) và Hàn lâm viện, mà ngày nay chúng ta gọi là Viện hàn lâm. Thời Tống, quan Câu đương Hàn lâm viện (tức là chủ quản Hàn lâm viện) còn kiêm quản thiên văn, thư nghệ, đồ họa, y dược và cả việc bếp núc trà rượu của triều đình. Nhà Nguyên lập Hàn lâm học sĩ viện, về sau hợp với Quốc sử viện, gọi là Hàn lâm kiêm quốc sử viện. Thời Minh, Hàn lâm viện chính thức trở thành cơ quan ngoại vi của triều đình. Thời nhà Thanh, Hàn lâm viện vẫn đảm nhiệm việc biên soạn quốc sử, ghi chép lời nói và việc làm của hoàng dế, giảng kinh sử, thảo văn kiện có liên quan đến các quy định về lễ nghi.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần Quan chức chí) do Phan Huy Chú biên soạn thì ở Việt Nam, Hàn lâm viện được thành lập từ năm 1086, thời vua Lý Nhân tông, với Mac Hiển Tích là vị Hàn lâm học sĩ đầu tiên. Nhà Trần đặt chức Hàn lâm phụng chỉ, thường do thái sư đảm nhiệm để soạn thảo các chiếu chỉ thay nhà vua. Nhà Lê khi mới dựng nước cũng lập ngay Hàn lâm viện, do Nguyễn Trãi làm Hàn lâm phụng chỉ.
Phan Thanh Giản (1796 – 1867), vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ, lúc mới đỗ đạt đã từng giữ chức Hàn lâm viện biên tu rồi thăng lên chức Hàn lâm viện kiểm thảo, thời vua Minh Mệnh
Nói tóm lại, dù là ở Trung Hoa hay ở Việt Nam, Hàn lâm viện là nơi tập trung những người có học vấn cao để thực hiện những công việc liên quan đến học vấn.
Từ “Hàn lâm viện” trong Hán ngữ được dịch sang tiếng Latin là Academia(xuất hiện năm1508 - theo từ điển Robert), tương ứng với Academy, Académie, Академия trong các thứ tiếng Anh, Pháp và Nga (chữ Академия được phiên âm là Akademiya). Điều đó cũng được thể hiện trong Từ điển Annam -Latin (Dictionarium Anamitic - Latinum) của A.J.L. Taberd (in năm 1838).

2. Về các chữ Académie, Academy, Akademiya (trong tiếng Pháp, Anh, và Nga, tương ứng với Academia trong tiếng Latin, với nghĩa là Viện học thuật )

Trong cuốn Pháp – Việt từ điển (ra đời năm 1936) của cụ Đào Duy Anh, ở mục từ Académie, chúng ta thấy những lời dịch như sau:
1. Cái vườn mà Platon giảng triết học ở đó, gần thành Athènes;
2. Quốc gia học hội, bác-học-viện, hàn-lâm-viện, đại học hiệu, đai học khu.
3. Du kỹ trường, thể dục trường, như trường kỵ mã, trường đấu kiếm;
4. Bức họa người cổi truồng, khỏa thân họa.

Sau đó, tác giả nêu một số ví dụ:
-. Académie française : Pháp quốc hàn lâm viện;
- Académie des sciences: Khoa học viện;
- Académie des inscriptions et belles-lettres: Bi ký mỹ văn học viện;
- Académie des sciences morales et politiques: Luân lý chính trị học viện
- Académie des beaux-arts: Mỹ thuật viện;
- Académie de médecine; Y khoa học viện;
- Académie d’agriculture: Nông phố học viện.
(Bên cạnh tên của các cơ quan này đều có chữ Hán, chúng tôi xin phép bỏ bớt – LMC)

Tất cả các nghĩa 1, 2, 3, 4 đều được ghi trong từ điển Petit Larousse – cuốn từ điển Pháp ngữ rất thông dụng của người Pháp. Học giả Đào Duy Anh đã nêu đầy đủ và đã dịch đúng nghĩa.

Pháp – Việt từ điển được biên soạn trước năm 1936, khi mà chữ quốc ngữ mới được sử dụng rộng rãi trong vài chục năm nên còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cách diễn đạt trong Hán ngữ. Trong 4 nghĩa trên đây thì nghĩa thứ hai là thông dụng nhất, có thể dịch sang tiếng Việt hiện nay bằng các cụm từ: Hội học thuật quốc gia; Viện hàn-lâm; Viện nghiên cứu; Học viện; Học hiệu, Trường đại học ...

Chúng ta nhận thấy rằng, chỉ trong ví dụ đầu tiên thì chữ Académie mới gọi được gọi là Viện hàn lâm, còn trong các trường hợp khác thì được gọi là Viện hoặc Học viện. Nghĩa là, chỉ riêng Académie cao cấp nhất, có uy tín nhất, “danh giá” nhất thì cụ Đào Duy Anh mới gọi là Viện hàn lâm, một tên gọi mang tính tôn nghiêm, trịnh trọng, còn các Académie khác ở cấp thấp hơn thì gọi là viện, học viện. Nghĩa là, người dịch phải biết về hoạt động của từng Académie cụ thể để tìm cho nó một nghĩa tiếng Việt thích đáng. Người dịch có kiến thức và có ý thức trách nhiệm cao mới làm được điều đó..

Theo Từ điển Pháp – Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam do Lê Khả Kế chủ biên thì từ Académie được dịch sang tiếng Việt như sau; 1. viện hàn lâm; 2. hội (văn học nghệ thuật); 3. học viện. Académie militaire Học viện quân sự; 4. khu giáo dục (Pháp): Académie de Nancy khu giáo dục Năng-xi; 5. (họa) hình nghiên cứu khỏa thân. Như vậy là, ở đây thiếu hẳn nghĩa 1 và nghĩa 3 trong từ điển của Đào Duy Anh. Tuy nhiên, đó là những nghĩa rất ít gặp.

Chữ Academy trong tiếng Anh và chữ Akademiya trong tiếng Nga đều có các nghĩa 1, 2 và 3 như trong Từ điển của cụ Đào Duy Anh, nhưng không thấy có nghĩa thứ 4.

Ở Liên Xô trước đây và ở Liên bang Nga hiện nay, có khá nhiều trường đại học được gọi là Akademiya, ví dụ, Военно-воздущая академия = Đại học Không quân, Военно-медицинская академия = Đại học quân y; Академия общественных наук = Học viện khoa học xã hội (chính là trường đảng của Liên xô, nhưng các học viên người Việt cứ gọi là Viện hàn lâm khoa học xã hội).

Mặc dầu các quyển từ điển Pháp –Việt và Anh – Việt đều nêu nhiều nghĩa cho các chữ Académie, Academy để giúp người dịch lựa chọn đúng trong từng trường hợp khi dịch sang tiếng Việt, nhưng trên sách báo ở Việt Nam từ nhiều chục năm nay, dường như tất cả các chữ này (cùng các chữ tương ứng trong các thứ tiếng khác) đều được dịch thành “viện hàn lâm”. Các sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam học tại các trường của Liên Xô có tên trong các ví dụ vừa kể đều gọi các trường ấy là “viện hàn lâm”, như Viện hàn lâm không quân, Viện hàn lâm quân y, Viện hàn lâm khoa học xã hội. Gọi như thế là sai, vì Akademiya ở đây có nghĩa là trường học

Ở Anh, chữ Academy rất ít khi được dùng để đặt tên cho các viện nghiên cứu hoặc các trường học. Thế nhưng ở Việt Nam hiện nay có một số trường mang tên bằng tiếng Anh có chữ đó, ví dụ: HanoiAcademy (không thấy tên bằng tiếng Việt), Academy of Finance (Học viện Tài chính), Ho Chi Minh National Academy of Politics and Public Administration (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Phải chăng, đó là sự bắt chước từ tiếng Nga?

Hiện nay, người Việt Nam vẫn thường nói đến Viện hàn lâm. Nhưng, ở Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Macao thì các viện nghiên cứu lớn nhất hoặc các Academy nổi tiếng trên thế giới đều được dịch sang Hán ngữ là Viện, Học viện, Viện nghiên cứu, Viện học thuật, Hội học thuật....chứ không bao giờ gọi là Hàn lâm viện. Ví dụ, Académie française được gọi làViện học thuật Pháp; Russian Academy of Sciences mà ta gọi là Viện hàn lâm khoa học Nga, thì người Trung quốc gọi là Nga-la-tư khoa học viện, tức là Viện khoa học Nga

Chữ Academy (Académie, Akademiya.....) được dịch sang tiếng Việt là Viện hàn lâm hay Viện, Học viện, Viện nghiên cứu, Viện học thuật, Hội học thuật.... là do sự cân nhắc của người dịch. Uy tín của mỗi Viện không phụ thuộc vào chữ Academy mà là do những thành tựu của nó trong quá khứ và hiện tại tạo nên. Ở nước Anh, cơ quan khoa học sang trọng nhất, danh tiếng vào bậc nhất thế giới, được thành lập từ năm 1660, có tên là Royal Society = Hội Hoàng gia, để cho rõ hơn một chút, ta có thể dịch là Học hội Hoàng gia . Cái tên đầy đủ của nóthì lại càng “bình dân” hơn nữa: The Royal Society of London for Improving Natural Knowledge = Hội Hoàng gia Luân Đôn nhằm cải tiến tri thức tự nhiên. Trong khi đó, British Academy, tưởng như là cơ quan học thuạt cao nhátlại là một viện về khoa học xã hội và nhân văn, được thành lập năm 1902, ít danh tiếng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay hầu như chữ Academy (Académie, Akademiya.....) được đồng nhất hóa với Viện hàn lâm trong tiếng Việt và mặc nhiên trở nên hết sức khả kính, không mấy ai để ý đến thực chất của nó trong từng trường hợp cụ thể.

(còn tiếp)

nbc
25/10/12, 10:50 AM
LƯỢC KHẢO VỀ CÁC TÊN GỌI Viện hàn lâm và Viện sĩ CÙNG NHỮNG NHẦM LẪN TAI HẠI


- Lê Mạnh Chiến -


[Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125]



(tiếp theo)


3. Viện Hàn lâm Pháp

Tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20 luôn luôn giàu lòng yêu nước và có hoài bão chống thực dân Pháp để giành độc lập cho nước nhà. Nhưng họ luôn luôn trân trọng, thậm chí, say mê những giá trị cao đẹp của nền văn hóa Pháp, với nhiều danh nhân có tên tuổi lẫy lừng, cống hiến rất nhiều cho nền văn minh của nhân loại. Tôi được biết và tin điều đó từ khi còn rất nhỏ do nghe lỏm các cuộc trò chuyện giữa cụ thân sinh và các bạn học của ông – những người đã tốt nghiệp Cao đẳng Đông Dương (École des Hautes Études Indochinoises), đồng môn và cùng lứa với các liệt sĩ cách mang Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính.

Ở Pháp có một tổ chức học thuật có tên là Institut de France (Hiệp hội học thuật Pháp quốc), thành lập năm 1795, bao gồm 5 Viện (Académie) trong số 7 viện mà học giả Đào Duy Anh đã nhắc đến ở mục từ Académie trong quyển Pháp – Việt từ điển của ông. Đó là:

Académie française = Viện Hàn lâm Pháp, thành lập năm 1635
Académie des sciences = Viện Khoa học (tự nhiên) Pháp, thành lập năm 1666
Académie des inscriptions et belles-lettre = Viện Bi ký và Mỹ văn, thành lập năm1663
Académie des sciences morales et politiques = Viện Luân lý và Chính trị, thành lập năm 1785
Académie des beaux-arts = Viện Mỹ thuật, thành lập năm 1815.

Trong số 5 viện này, Académie française – Viện hàn lâm Pháp (ở Trung Quốc người ta gọi là Viện học thuật Pháp) được thành lập sớm nhất, quan trọng và “danh giá“ hơn hẳn các viện khác.

Do Hồng y Giáo chủ Richelieu thành lập năm 1635 dưới thời vua Louis XIII, Viện hàn lâm Pháp được giao nhiệm vụ trước tiên là tiêu chuẩn hóa và hoàn thiện ngôn ngữ Pháp, xây dựng những quy tắc ngữ pháp làm cho tiếng Pháp càng thêm trong sáng và dễ hiểu. Trên tinh thần đó, Viện này bắt đầu biên soạn một bộ từ điển có tên là Dictionnaire de l’Académie française (Từ điển của Viện hàn lâm Pháp) xuất bản lần đầu tiên vào năm 1694, sau đó, không ngừng được bổ sung và cải tiến. Lần xuất bản thứ 8 diễn ra trong những năm 1933 - 1935. Hiện nay, lần xuất bản thứ 9 đã in được 3 tập, còn thiếu tập 4. Hàng năm, Viện tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu các tác phẩm, xét duyệt và trao tặng các giải thưởng cho các công trình khoa học có giá trị lớn.

Viện Hàn lâm Pháp gồm 40 “ghế bành” (fauteuil), tập hợp những nhân vật nổi tiếng trong đời sống văn học (thơ ca, tiểu thuyết, kịch nghệ, phê bình), các nhà triết học, các nhà sử học cùng các nhà khoa học tự nhiên. Ngoài ra, nò còn thu hút các tướng lĩnh, các chính khách, các chức sắc tôn giáo nổi tiếng. Phải là tác giả của những tác phẩm lớn để lại cho đời sau thì mới được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp và được “giữ ghế” suốt đời (trừ khi có hành vi bất chính). Họ được gọi là những người bất tử (immortels) của nước Pháp, và đương nhiên, phải là công dân Pháp. Mối khi có một viện sĩ (acadénicien) qua đời thì Viện sẽ bầu một viện sĩ mới để thay vào chỗ trống. Nhà tư tưởng vĩ đại Montesquieu, các đại văn hào Voltaire, Victor Hugo, Alexandre Dumas (con), các nhà toán học Joseph Fourier và Jean le Rond d'Alembert, nhà bác học Louis Pasteur... là những tên tuổi sáng ngời đã được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp. Năm 1855, người ta đã đặt thêm chiếc “ghế bành thứ 41” (tượng trưng) dành cho những con người đúng là “bất tử” nhưng suốt đời không bao giờ có dịp bước vào cửa của Viện hàm lâm Pháp. Trong số đó, cần phải kể đến những tên tuổi quen thuộc với độc giả Việt Nam như Descartes, Molière, Pascal, Rousseau, Diderot, Balzac, Dumas (cha), Stendhal, Maupassant, Baudelaire, Zola, Daudet, Proust, v.v.

Trong lịch sử của Viện Hàn lâm Pháp, đã có những viện sĩ bị phế truất vì có hành vi bất chính.
\ Viện sĩ Hàn lâm Pháp được bầu gần đây nhất là ông Jules Alphonse Nicolas Hoffmann (viết gọn là Jules Hoffmann), một nhà sinh vật học gốc Luxembourg, được trao tặng giải thưởng Nobel về Sinh lý học và Y học năm 2011 cùng với Bruce Alan Butler (Mỹ) và Ralph Marvin Steinman (Canada). Ông sinh năm 1941, là viện sĩ của Viện khoa học Pháp (Académie des sciences) từ năm 1992, chủ tịch của Viện này trong những năm 2007 – 2008, trở thành Viện sĩ thứ 726 (trên thực tế là thứ 722 vì có 4 viện sĩ đã bị phế truất, trong đó có Henri Philippe Pétain, vốn là anh hùng dân tộc của Pháp trong Đại chiến I nhưng phạm tội phản quốc trong Đại chiến II) của Viện Hàn lâm Pháp từ ngày 01/3/2012.

Trong những năm cuối thế kỷ 20, có một Viện sĩ Hàn lâm Pháp khá quen thuộc với khán giả truyền hình Việt Nam. Đó là ông Jacques-Yves Cousteau (1910 – 1997), nhà thám hiểm hải dương học huyền thoại, cũng là người sáng chế những bộ áo lặn và thiết bị lặn hiện đại đắc dụng nhất, đồng thời là tác giả của nhiều bộ phim và nhiều quyển sách kỳ thú về thế giới sinh vật dưới đáy biển. Ông được bầu vào Viện hàn lâm Pháp ngày 24/11/1988.

Viện Hàn lâm Pháp không phải là một cơ quan nghiên cứu khoa học, mà là nơi tôn vinh các nhà khoa học, các nhà văn hóa đã đạt những thành tựu to lớn có ảnh hưởng lâu dài ở trong và ngoài nước Pháp. Đây cũng là tổ chức có uy tín nhất có tác dụng khuyến khích, biểu dương kịp thời những công trình khoa học, văn học và những tài năng mới xuất hiện, bằng những hoạt động như hội thảo, giới thiệu, xuất bản các tác phẩm. Việc hoàn thiện văn phạm và từ điển tiếng Pháp được coi là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và thường xuyên. Đó là một điều khiến chúng ta rất đáng suy nghĩ.

Ở Pháp, ngoài 7 cơ quan có tên là Académie... mà học giả Đào Duy Anh đã nhắc đến, còn có một số cơ quan nữa cũng được gọi là Académie. Nếu tất cả các Académie ở Pháp không phải là trường học (mà là các viện) đều được gọi là Viện hàn lâm thì nước Pháp có chừng một chục Viện hàn lâm, trong số đó, Viện hàn lâm Pháp, tức Académie française là lâu đời nhất, danh giá nhất, đáng ngưỡng mộ nhất, ai cũng biết. Mọi người chỉ cần gọi nó là l’Académie (nghĩa là Viện hàn lâm, không cần có chữ française nghĩa là của nước Pháp), giống như ở Việt Nam người ta nói đại hội đảng có nghĩa là đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam vậy..Nhưng khi nói đến một Viện hàn lâm khác thì nhất thiết phải gọi đầy đủ tên của nó.

4. Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và Viện Hàn lâm khoa học Nga

Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô tồn tạitừ năm 1925 đến năm 1991, là cơ quan nghiên cứu khoa học cao nhất của Liên Xô, trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, có tên theo tiếng Nga là Академия наук СССР, tên tiếng Anh là USSR Academy of Sciences. Tiền thân của nó là Viện hàn lâm khoa học Nga, do Pyotr Đại đế thành lập năm 1724 tại Saint Petersburg theo khuôn mẫu của Tây Âu (gần giống như Académie des sciences của Pháp ở Paris) nhưng phụ thuộc nhà nước nhiều hơn. Trong thời gian 1917 – 1925, có 69 viện sĩ. Sau khi chuyển thành Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, nó được tổ chức lại theo mô hình mới hoàn toàn và có quy mô càng ngày càng to lớn. Năm 1934, chuyển trú sở từ Petrograd về Moskva. Lúc này, có 80 viện chuyên ngành, với khoảng 2000 nghiên cứu viên. Đến năm 1940, các con số đó đã tăng gấp đôi. Năm 1936 có 98 viện sĩ (akademik). Năm 1985, có 330 cơ quan khoa học, với 57 ngàn cán bộ nghiên cứu, một nửa trong số đó là tiến sĩ và phó tiến sĩ (mà ở Việt Nam đã được nâng bậc thành tiến sĩ). Năm 1989 có 323 viện sĩ, 586 thành viên thông tấn, 138 thành viên nước ngoài.

Viện hàn lâm khoa học Liên Xô là viện lớn nhất và “danh giá ‘ nhất ở Liên Xô, bên cạnh nó còn có một số Viện hàn lâm chuyên ngành về kiến trúc, y học, nông nghiệp, sư phạm, nghệ thuật, v.v. Ngoài ra mỗi nước cộng hòa xô viết đều có một Viện hàn lâm khoa học, khiến tổng số các Viện hàn lâm ở Liên xô lên đến nhiều chục. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cũng thành lập các viện hàn lâm khoa học theo mô hình của Liên Xô.

Ngày 21/11/1991, Tổng thống Liên bang Nga ký sắc lệnh tái lập Viện hàn lâm khoa học Nga với tư cách là cơ quan thừa kế hoàn toàn của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.. Cơ cấu tổ chức từ thời Liên Xô vẫn được giữ nguyên. Hiện nay, Viện hàn lâm khoa học Nga có 3 chi nhánh (ở Siberia, ở Ural và ở Viễn đông.) và 15 trung tâm ở các vùng. Đến cuối năm 2011, Viện hàn lâm khoa học Nga có 531 viện sĩ (akademik) và 769 thành viên thông tấn.

Trong những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, những người thuộc thế hệ cha mẹ chúng tôi vẫn chưa già lắm, chỉ mới trên dưới 60 tuổi. Họ cùng với những thanh niên học sinh thuộc lớp con cái của mình được nghe rất nhiều điều kỳ diệu về một nền khoa học đang phát triển rực rỡ ở Liên bang Xô-viết mà trụ cột của nó là Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Những thành tựu khoa học vĩ đại có thật của nó, như việc chế tạo vũ khí nguyên tử, phóng vệ tinh nhân tạo và con tàu vũ trụ đã khiến cả thế giới phải khâm phục.
Mặt khác, đã xẩy ra rất nhiều sự việc tệ hại liên quan đến Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Điển hình nhất là sự tác oai tác quái của Trofim Denisovich Lysenko (1898 – 1976), kẻ khởi xướng một khuynh hướng khoa học giả hiệu trong sinh vật học và khống chế khoa học nông nghiệp ở Liên Xô từ khoảng năm 1935 đến 1960. Ông ta đã dùng quyền lực chính trị để giết hại nhiều nhà bác học có ý kiến khác mình, bắt bớ và giam cầm khiến họ bị chết trong tù, ví dị như Nikolai Ivanovich Vavilov (1887 – 1943), nhà di truyền học xuất sắc nhất của Liên Xô đã bị bắt giam năm 1940 và chết trong nhà tù ở Saratov ngày 26/01/1943 vì thiếu dinh dưỡng.(Theo http://www.peoples.ru/science/botany/vavilov/index.html

Tuy nhiên,những sự thật đen tối như vậy đã được giữ kín, chỉ những người thân của các nạn nhân mới biết nên hầu như không ảnh hưởng đến uy tín của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.trong lòng nhân dân Việt Nam.

(còn tiếp)

nbc
25/10/12, 10:54 AM
LƯỢC KHẢO VỀ CÁC TÊN GỌI Viện hàn lâm và Viện sĩ CÙNG NHỮNG NHẦM LẪN TAI HẠI


- Lê Mạnh Chiến -


[Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125]



(tiếp theo)

II. Về tên gọi “Viện sĩ”


1. Thế nào là Viện sĩ ?

Câu hỏi này tưởng như là do một kẻ dốt đặc nêu ra, nhưng không hẳn như thế.

TheoTừ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì, viện sĩ là thành viên viện hàn lâm (thường là viện hàn lâm khoa học).

Định nghĩa như vậy, xem qua thì thấy không có gì sai, nhưng nghĩ kỹ thì thấy còn chưa ổn.

Trong một Viện hàn lâm thì các Viện sĩ phải là những người quyết định các vấn đề khoa học thuộc chương trình hành động của Viện. Đành rằng, trong Viện hàn lâm cũng có ông chủ tịch và các ông trưởng ban nọ, trưởng bộ phận kia, nhưng đó chỉ là những chức vụ về tổ chức chứ không có ý nghĩa quyết định trong các vấn đề khoa học.Trong khoa học, ông chủ tịch Viện hàn lâm cũng là một Viện sĩ, lá phiếu của ông ta không thể có “trọng lượng” hơn của các Viện sĩ khác. Những người chỉ được tham dự một số công việc của Viện hàn lâm thì không thể gọi là Viện sĩ. Các viện nghiên cứu của nước ngoài mà tiếng Việt hiện nay gọi là Viện hàn lâm đều mang các chữ Academy, Académie, và Akademiya trong tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga. Các thành viên trụ cột của các viện nghiên cứu ấy ở Anh, Pháp và Nga được gọi là Acadenician, Académicien, Akademik mới đích xác là viện sĩ. Ở một số Viện hàn lâm của các nước châu Âu, nhiều khi còn có các thành viên ở ngạch thấp hơn, không có tư cách của viện sĩ.

Sau đây, tôi xin viện dẫn mục Члены РАН trong bàiРосси́йская акаде́мия нау́к (Viện hàn lâm khoa học Nga)tại website của Viện này (mà mọi người sử dụng Internet đều rất dễ tìm thấy) để diễn giải về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga.. Đó cũng là quy định của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước kia. (Nguồn : http://www.ras.ru/members.aspx)


. Члены РАН
Членами Российской академии наук являются действительные члены РАН (академики) и члены-корреспонденты РАН. Главная обязанность членов Российской академии наук состоит в том, чтобы обогащать науку новыми достижениями. Члены РАН избираются общим собранием академии. Членами Российской академии наук избираются учёные, являющиеся гражданами Российской Федерации. Члены Российской академии наук избираются пожизненно. Действительными членами РАН избираются учёные, обогатившие науку трудами первостепенного научного значения. Членами-корреспондентами РАН (http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A7%D0%BB%D0%B5%D0%BD%D1%8B-%D0%BA%D0%BE%D1%80%D1%80%D0%B5%D1%81%D0%BF%D0%BE%D 0%BD%D0%B4%D0%B5%D0%BD%D1%82%D1%8B_%D0%A0%D0%90%D0 %9D) избираются учёные, обогатившие науку выдающимися научными трудами.

Tôi xin đổi chữ РАН (Росси́йская акаде́мия нау́к) nghĩa là Viện hàn lâm KH Nga thành chữ RAS (Russian Academy of Siences) và chuyển đoạn văn trên đây sang tiếng Việt, như sau:

Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga

Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (RAS) gồm có các thành viên chính thức (các viện sĩ - akademiki) và các thành viên thông tấn. Trách nhiệm chủ yếu của các thành viên RAS là phải đóng góp cho khoa học bằng những thành tựu mới. Hội nghị toàn thể của Viện hàn lâm bầu ra các thành viên của Viện. Các nhà bác học được bầu làm thành viên RAS phải là công dân của Liên bang Nga. Các thành viên RAS được bầu suốt đời. Các nhà bác học đã hoàn thành những công trình có ý nghĩa khoa học hàng đầu để cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên chính thức (trở thành viện sĩ). Các nhà bác học đã góp những công trình khoa học xuất sắc cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên thông tấn. (LMC dịch)

Như vậy, theo website của Viện hàn lâm khoa học Nga thì tôpr chức này này có hai ngạch thành viên. Thứ nhất là thành viên chính thức (действительные член, nếu dịch thật sát nghĩa thì gọi là thành viên thực nhiệm), là akademik, là viện sĩ. Thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент), có tư cách thành viên thấp hơn, chưa có tư cách thành viên đầy đủ, chưa phải là viện sĩ. Bởi vậy, trước đây người ta gọi là viện sĩ thông tấn. thì hoàn toàn sai do không hiểu quy chế của Viện này.

Còn một ngạch thành viên nữa nhưng không được nhắc đến trong văn bản tiếng Nga này, đó là thành viên nước ngoài hay thành viên ngoại tịch, tiếng Nga là иностранный член, mà ở Việt Nam đã có 5 người được nhận danh hiệu này nhưng ở Việt Nam vẫn gọi họ là Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô). Gọi như vậy là sai hoàn toàn. Phải chăng, đây là ngạch thành viên thứ yếu, có tính chất hình thức, lễ nghi, không quan trọng cho nên website của Viện hàn lâm khoa học Nga ?. Quả thật, khó mà có cách giải thích khác hơn. Tuy thế, nó vẫn được nhắc đến trong văn bản tiếng Anh tương ứng trên Wikipedia (dành cho đông đảo độc giả trên thế giới), như sau:
MembershipThere are three types of membership in the RAS: full members (academicians), corresponding members and foreign members. Academicians and corresponding members must be citizens of the Russian Federation when elected. However, some academicians and corresponding members had been elected before the collapse of the USSR and are now citizens of other countries. Members of RAS are elected based on their scientific contributions - election to membership is considered very prestigious. As of 2005-2007 there are just under 500 full members in the academy and a similar number of corresponding members.

Dịch sang tiếng Việt:
Tư cách thành viên (của Viện hàn lâm khoa học Nga)
Có ba ngạch tư cách thành viên trong Viện hàn lâm khoa học Nga: thành viên có tư cách đầy đủ, tức là thành viên chính thức (academician), thành viên thông tấn (corresponding member) và thành viên nước ngoài (foreign member). Các viện sĩ và các thành viên thông tấn phải là công dân của Liên bang Nga khi được bầu. Tuy vậy, một số viện sĩ và thành viên thông tấn đã được bầu trước khi Liên Xô sụp đổ, hiện nay là công dân mới của các nước khác. Các thành viên của RAS được bầu dựa trên những cống hiến khoa học của họ, người được bầu làm thành viên được coi là rất có danh giá. Trong những năm 2005 – 2007, ở Viện hàn lâm Nga có gần 500 thành viên chính thức và khoảng ngần ấy thành viên thông tấn (LMC dịch).

Như vậy, website của Viện hàn lâm khoa học Nga không nhắc đến ngạch thành viên thông tấn, coi như nó không tồn tại. Nhưng, bài viết về Viện haàn lâm khoa học Nga trong từ điển Wikipedia tiếng Ạnh thì có nhắc đến một chút. Điều đó chứng tỏ rằng, đối với Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô), thành viên nước ngoài (иностранный член, foreign member) chỉ là thành viên hình thức, không thể là viện sĩ. Chưa cần xét đến thành tích và uy tín trong khoa học, chỉ riêng vấn đề quốc tịch đã không cho phép người nước ngoài trở thành viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên xô). Thành viên thông tấn (члены-корреспондент, corresponding member) của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga) có tư cách thành viên thấp hơn viện sĩ, có thể coi như “viện sĩ dự bị”

Hai tiếng “viện sĩ” hiện nay nghe rất quen tai nhưng hình như cũng mới xuất hiện ở Việt Nam chừng nửa thế kỷ. Trong quyển Hán- Việt từ điển của Đào Duy Anh không có từ này. Giở quyển Pháp – Việt từ điển, xem chữ Académicien, thấy cụ Đào viết: Académicien: 1. Nhà triết học về phái Platon; 2. Hội viên của Quốc gia học hộ,; hội viên tòa Hàn lâm nước Pháp.Lại xem tiếpcác quyển từ điển Pháp – Việt và Việt – Pháp của Đào Văn Tập và Đào Đăng Vĩ in ở Sài Gòn hồi những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, cũng không thể tìm thấy chữ “viện sĩ”. Có lẽ tôi đã đoán đúng về tuổi của từ này.

Giở mấy quyển từ điển của Trung Quốc hiện có trên giá sách như Cổ kim Hán ngữ từ điển, Cổ kim Hán ngữ thực dụng từ điển hay Tân hiện đại Hán ngữ từ điển (kiêm tác Anh-Hán từ điển) thì thấy quyển nào cũng có từ “viện sĩ”, với lời diễn giải giống nhau. Quyển Tân hiện đại...viết: 院士 (viện sĩ): academician; nhân viên nghiên cứu cao cấp nhất của các bộ phận thuộc viện khoa học ở một số quốc gia. Tôi cho rằng, định nghĩa như vậy là chính xác.

Tiếp tục tìm hiểu thêm thì biết rằng, ở Trung Quốc lâu nay không hề sử dụng tên gọi “viện hàn lâm” để chỉ các viện khoa học, nhưng họ vẫn có các viện sĩ. Hiện tại, ở nước này có hai loại viện sĩ có uy vọng ngang nhau, đó là: Viện sĩ Viện khoa học Trung Quốc (Chinese Academy of Sciences, CAS)và Viện sĩ Viện công trình Trung Quốc (Chinese Academy of Engineering, CAE), gọi tắt là Viện sĩ Trung khoa viện và Viện sĩ Trung công viện. Người Trung Hoa bắt đầu có viện sĩ từ năm 1948.


2. Tên gọi “Viện sĩ” phải đi kèm với tên của Viện hàn lâm (hay Viện nghiên cứu)

Như quý vị độc giả đã thấy, nước Pháp có chừng một chục viện học thuật được gọi là Académie..., tức là có chừng một chục viện hàn lâm khác nhau, không thể lẫn lộn. Do đó, không thể có một ngạch viện sĩ chung chung, mà phải phân biệt viện sĩ của Viện hàn lâm X hay của Viện hàm lâm Y. Ở Pháp, Académie française (mà ta gọi là Viện hàn lâm Pháp).là Académie nổi tiếng nhất, chỉ cần nói đến l’Académie là người ta nghĩ ngay đến Académie française , cũng như ở Việt Nam hay ở Liên xô trước đây, hễ nói đến đảng thì có nghĩa là nói đên đảng Cộng sản. Do đó, từ Académicien (hoặc Membre de l’Académie) nghĩa là viện sĩ của một việnhàn lâm, nhưng khi nó được sử dụng một mình thì có nghĩa là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp (đúng như cụ Đào Duy Anh đã giảng), cũng như ở nước ta, khi nói “ông A là đảng viên” thì đã có nghĩa rằng, ông ấy là đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả khi đảng Dân chủ và đãng Xã hội đang tồn tại cũng vậy. Nhưng ta không thể nói bà Hillary Clinton là đảng viên, mà phải nói rằng, bà Hillary Clinton là đảng viên của đảng Dân chủ ở Mỹ.

Ở Trung Quốc, cả Trung khoa viện (Viện khoa học Trung Quốc) và Trung công viện (Viện công trình Trung Quốc) đều chưa có cái nào nổi trội hơn hẳn, cho nên không thể nói đến viện sĩ A hay viện sĩ B, mà phải phân biệt viện sĩ Trung khoa viện với viện sĩ Trung công viện.

Trong tiếng Nga, chữ aкадемик (akademik, tương đương với académicien trong tiếng Pháp và academician trong tiếng Anh) có nghĩa là thành viên chính thức của một Академия. Cũng tương tự như ở Pháp, ở Liên Xô (và ở Nga hiện nay) có rất nhiều Академия, tức là rất nhièu Viện hàn lầm, nhưng vì Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (nay là Viện hàn lâm khoa học Nga) quá nổi tiếng và quen thuộc với mọi người ở Nga hoặc Liên Xô trước đây, cho nên, chữ akademik mà không kèm theo định ngữ nào nữa thì có nghĩa là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, tương tự như từ “đảng viên” ở Việt Nam hiện nay có nghĩa là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Viện sĩ của các viện hàn lâm khác thì phài ghi rõ là akademik của viện nào, nếu nhận là akademik mà không có định ngữ kèm theo (khiến mọi người hiểu là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Liên xô) thì đó là một sự gian dối.

Sở dĩ phải nhấn mạnh mấy chữ thành viên chính thức là vì, ở Liên Xô trước đây và ở Nga ngày nay còn có các ngạch thành viên không chính thức của viện hàn lâm, như chúng tôi đã nói ở trên.

(còn tiếp)

nbc
25/10/12, 10:59 AM
LƯỢC KHẢO VỀ CÁC TÊN GỌI Viện hàn lâm và Viện sĩ CÙNG NHỮNG NHẦM LẪN TAI HẠI


- Lê Mạnh Chiến -


[Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125]



(tiếp theo)

III. Những nhầm lẫn không nhỏ trong việc sử dụng tên gọi “viện sĩ”

1. Nhầm lẫn trong việc sử dụng tiếng Việt

Như chúng tôi đã nói ở trên, Viện hàn lâm nào cũng có tên rõ ràng và viện sĩ của các Viện ấy được phân biệt với nhau theo tên của từng Viện. Vị thế của một người mang danh hiệu viện sĩ luôn luôn gắn liền với hình ảnh quá khứ và hiện tại của Viện mà ông ta được bầu làm viện sĩ. Bởi vậy, khi nói đến một viện sĩ thì phải nêu rõ là viện sĩ của viện nào, ở nước nào. Ví dụ, nhà bác học Pháp Jules Hoffmann trong những năm 1992 – 2011 là Membre de l’Académie des sciences (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Pháp), cũng đã quá sang trọng, nhưng từ ngày 01/3/2012, ông trở thành Membre de l’Académie (mất các chữ des sciences, nghĩa là các khoa học) tức là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp, đứng vào hàng “bất tử” của nước Pháp. Bây giờ, nếu ai đó không chịu bỏ bớt các chữ des sciences cho ông thì có nghĩa là đã hạ thấp địa vị của ông. Ngược lại, giả sử trước tháng 3/2012, nếu ông Jules Hoffmann để cho anh thư ký “bỏ quên” các chữdes sciences thì điều đó được coi là phạm tội dối trá.

Hàng ngày chúng ta thấy báo chí và tivi nhắc đến viện sĩ Nguyễn, viện sĩ Trần, viện sĩ Phan, các viện sĩ X, Y, Z, v.v. Cái danh hiệu viện sĩ ấy không xuất phát từ Việt Nam (vì nhà nước Việt Nam chưa phong tặng danh hiệu viện sĩ cho các viện nghiên cứu cao cấp nhất của một viện nào cả), mà là do họ mang từ nước ngoài về, từ nhiều nước khác nhau. Tuy thế, họ đều được gọi bằng cùng một cái tên là viện sĩ. Như thế thật là không ổn.Thử hình dung một tình huống như sau.. Có 5 ông là Phan A, Trần B, Nguyễn C, và X, Y, mỗi ông đi đến một nước. Ông Nguyễn C sang Nga rồi gia nhập đảng Nước Nga thống nhất, ông Trần B thì sang Nhật rồi vào đảng Dân chủ - Tự do (LDP), ông Phan A sang Pháp rồi gia nhập đảng Cộng sản Pháp, các ông X và Y thì sang Mỹ, vào đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Nói tóm lại là ông nào cũng trở thành đảng viên của một đảng nào đó ở mỗi nước. Khi về Việt Nam, tất cả các ông ấy có thể tự xưng là đảng viên hay không?. Tuy mỗi ông đều là đảng viên của một đảng nào đó nhưng tiếng Việt không thể chấp nhận cách xưng hô như vậy. Các ông ấy nhất thiết phải ghi rõ: Phan A - đảng viên đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn C – đảng viên đảng nước Nga thống nhất, v.v.

Đối với danh hiệu viện sĩ cũng tương tự như vậy. Nếu quả thật các GS Phan A, GS Trần B, GS Nguyễn C , v.v. đã trở thành viện sĩ của các Viện nào đó ở các nước kể trên thì họ cũng phải ghi danh vị của mình giống như mẫu kê khai đảng tịch vừa kể. Đương nhiên là hai chữ viện sĩ không thể đứng trước họ-tên của các ông. Chỉ khi nào ở Việt Nam có một Viện hàn lâm, hoặc một Viện nào đó rất nổi tiếng mà toàn dân đều biết như đảng Cộng sản Việt Nam vậy, rồi nhà nước Việt Nam ra quyết nghị phong tặng danh hiệu viện sĩ cho họ, khi dó, các GS kia mới đĩnh đạc ghi danh của mình là VS Phan A, Viện sĩ Trần B, VS Nguyễn C, v.v. Cũng xin nhắc rằng, lúc ấy các ông nên vứt cái chữ GS đi, bởi vì VS sang trọng hơn rất nhiều. Ai cũng biết rằng, những người có chức vụ cao hoặc tước vị cao, người nào mà chẳng trải qua những chức vụ, những tước vị thấp hơn. Cho nên các ông akademik ở Liên Xô (hay ở Nga) chẳng có ông nào ghi thêm danh hiệu giáo sư cả, bởi vì ở Liên Xô có hàng vạn giáo sư, nhưng số akademik (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô) lúc cao nhất chỉ hơn 300 người.

2. Sai lệch quá lớn giữa danh vị thật và danh vị được quảng bá.

Báo chí và đài phát thanh, truyền hinh ở nước ta đã từng đưa tin và nhiều lần nhắc đến việc các giáo sư A, B, C nào đó được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên xô hoặc Viện hàn lâm khoa học Nga. Cùng một ông, có nơi ghi là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga), có nơi lại ghi là viện sĩ nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga). Hiên tượng đó chứng tỏ rằng, những người đưa tin (hay cả những người được tặng danh hiệu?) chưa hiểu quy chế về ngạch bậc đối với các thành viên của Viện hàn lâm khoa học này. Họ tưởng rằng, thành viên của Viện hàn lâm thì cũng là viện sĩ. Nhưng sự thực thì không phải như vậy. Chúng tôi đã nói kỹ điều này ở tiểu mục 1. của phần II trên kia.

Tra cứu trong danh sách viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên xô và Viện hàn lâm khoa học Nga, chúng ta không thể tìm thấy tên một người Việt Nam nào cả. Thực ra, sự tra cứu ấy là một việc không cần làm, vì yêu cầu về quốc tịch đã quy định không thể có người nước ngoài trở thành viện sĩ của Viện hàn lâm này. Nhưng trong danh sách các thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga (gồm cả từ thời Liên Xô) thì có tên 5 người Việt Nam Hiển nhiên, họ không phải là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) như lâu nay chúng ta đã gọi nhầm, hiểu lầm, mà là thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm ấy. Đối với người Nga, hình ảnh của các thành viên này hết sức mờ nhạt, chỉ có tính chất hình thức, ngoại giao, đến nỗi website chính thức của Viện hàn lâm Nga cũng không hề nhắc đến họ, coi như họ không tồn t ại. Lâu nay, ở nước ta,họvẫn tự xưng hoặc được mọi người xưng tụng là viện sĩ viện hần lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga). Bất cứ nơi nào có tên của họ, bao giờ cũng có các chữ VS hoặc viện sĩ đứng ở phía trước. Ví dụ: VS Nguyễn C..hoặc Viện sĩ Trần B. Viết như vậy là đã phạm hai lỗi. Thứ nhất là lỗi về tiếng Việt, vì ở nước ta., từ “viện sĩ” chưa có nghĩa cụ thể như từ “đảng viên”, cho nên, viết như thế thì không ai biết là viện sĩ gì.. Thứ hai là, Nguyễn C hay ông Trần B ấy không phải là viện sĩ Viên hàn lâm khoa học nào cả. Để không phạm phải hai lỗi ấy thì phải viết như sau: Nguyễn Văn X, thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga.

Trong thời kỳ mà Liên Xô còn tồn tại, hầu hết các nước XHCN ở Đông Âu cũng đều có Viện hàn lâm khoa học sao chép theo mẫu của Liên Xô. Bởi vậy, nếu có người Việt Nam nào đó đã từng được báo chí trong nước gọi là viện sĩ của nước này nước nọ thì cũng giống như trường hợp ở Liên Xô vậy..

3. Cuộc tuyên truyền rầm rộ cho một mỹ hiệu hão huyền

Đầu tháng 7/2011, hàng loạt báo chí nước ta rầm rộ đưa tin GS Phan Huy Lê được vinh danh là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Bản tin của Nhà xuất bản Tri thức (ngày 11/7/20110) có tiêu đề GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp.Trong các cuộc hội nghị và các cuộc liên hoan, ăn mừng, chúc tụng, mọi người đều khẳng định rằng từ nay GS Phan Huy Lê đã trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Lúc đó, tôi thấy nét mặt ông thật hồn nhiên đầy vẻ đắc thắng, mãn nguyện, rạng rõ tươi cười đón nhận mỹ hiệu cao quý ấy. Mọi người hết sức cung kính và thán phục, cảm thấy tự hào khi đứng trước một viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ngót năm thế kỷ vừa qua, chỉ những đại trí thức kiệt xuất nhất của nước Pháp may ra mới được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm Pháp (Membre de l’Académie française), và họ còn được gọi là những người “bất tử” (Immortels) của nước Pháp, được dân chúng nước Pháp tôn thờ muôn đời. Thế mà từ nay, một người Việt Nam quê ở xứ Nghệ được vinh dự đứng trong hàng ngũ ấy. Thật là một niềm hãnh diện ngút trời đến với mọi người dân đất Việt.

Người viết bài này phải nén nỗi bàng hoàng, cố đọc kỹ các bản tin để cho rõ.sự tình. Báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam 16//07/2011 đưa tin như sau:



https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=cf8e0cc038&view=att&th=13a8e6b62c01dcd6&attid=0.0.5&disp=emb&realattid=57c1d90f3b308c0f_0.1.1&zw&atsh=1





Giáo sư Phan Huy Lê - Niềm tự hào của nền sử học nước nhà



(ĐCSVN) - Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Vinh dự này thuộc về Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê khi ông vừa được Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn (thuộc Học viện Pháp quốc) bầu là Viện sĩ Thông tấn. Điều này không những khẳng định những đóng góp to lớn, tài năng và uy tín của GS Phan Huy Lê mà còn là niềm vinh dự lớn lao của giới sử học nước nhà, khẳng định vị thế của khoa học lịch sử Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.

Niềm tự hào của giới sử học

Đầu tháng 7-2011, tên tuổi của GS Phan Huy Lê một lần nữa trở thành niềm tự hào của học trò, đồng nghiệp trong nước và quốc tế, bởi ông là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Điều này không những khẳng định những đóng góp to lớn, tài năng và uy tín của GS Phan Huy Lê mà còn là sự tôn vinh nền sử học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. GS, Nhà giáo Nhân dân Đinh Xuân Lâm- Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, người đồng hương, đồng môn và đồng nghiệp của GS. Phan Huy Lê khẳng định: Đây là một tin rất vui, tin mừng vì đây không chỉ là tôn vinh cá nhân mà là tôn vinh cả nền sử học của nước ta trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Theo tôi, với việc GS Phan Huy Lê được bầu vào Viện hàn lâm Pháp như vậy tạo điều kiện cho giới khoa học- xã hội VN nói chung và giới sử học nói riêng có điều kiện thuận lợi, có cơ hội để đặt quan hệ rộng rãi với sử học thế giới và trên cơ sở đó chúng ta đi vào thời kỳ hội nhập và phát triển thuận lợi hơn.

Bản tin này in đậm dòng chữ GS Phan Huy Lê đã trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp – một Viện hàn lâm có uy tín hàng đầu trên thế giới, tiếng Pháp gọi là L’Académie française. Nhưng, tiếp đó, lại viết rằng, GS Phan Huy Lê là viện sĩ thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm văn khắc và mỹ văn (có tên gốc bằng tiếng Pháp là Académie des Inscriptions et Belles-Letres. màcụĐào Duy Anh dịch làViện Bi ký và Mỹ văn). Tiếp theo, bản tin lại khẳng định răng ông là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp, và chính GS sử học Đinh Xuân Lâm cũng nhắc lại điều này.

Cứ xem danh sách đầy đủ các viện sĩ Viện hàn lâm Pháp từ khi thành lập đến năm 2012 thì biết rằng, đã xẩy ra một sự nhầm lẫn nghiêm trọng và kéo dài. Tuy vậy, vẫn cứ băn khoăn, bởi vì, tôi nhớ rằng, không ở đâu có chức danh viện sĩ thông tấn nước ngoài, mà chỉ có thành viên thông tấn (члены-корреспонденты) ở Nga mang quốc tịch Nga (mà tiếng Pháp dịch là membre-correspondant), còn bên cạnh các Académie ở Pháp thì có thông tín viên (correspondant, không phải là membre-correspondant). Để kiểm tra lại trí nhớ của mình, tôi tìm đọc bài viết về Académie des Inscriptions et Belles-Letres trong Wikipedia tiếng Pháp. Văn bản này được chỉnh lý lần cuối cùng vào ngày 02/9/2012, trong đó không có một chữ nào nói đến membre-correspondant hoặc correspondant. Tôi lại tìm đọc Liste des membres de l'Académie des inscriptions et belles-lettres de l'Institut de France.tức là Danh sách các thành viện của Viện Bi ký và Mỹ văn ở Pháp, nơi mà các báo đưa tin là GS Phan Huy Lê được bầu làm viện sĩ thông tấn nước ngoài.

Danh sách này cho biết, từ khi thành lập (năm 1663) đến năm ngày 02/9/2012, cả thảy có 670 người là thành viên của Viện này, trong đó có ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực nghiên cứu, năm sinh, năm mất, năm được bầu làm thành viên (tức viện sĩ). Dĩ nhiên là không có tên ông Phan Huy Lê, vì ông thuộc ngạch correspondant.

Bên cạnh danh sách này, còn kèm theo danh sách Associés (chúng tôi tạm dịch là các cộng sự viên), Associés libres (cộng sự viên tự do) và Associés étrangers (cộng sự viên nước ngoài).
Trong tất cả các danh sách này, không ở đâu có tên GS Phan Huy Lê.

Cần nhớ rằng, từ năm 1663 đến nay, Viện này đã 4 lân thay đổi tên và 5 lần thay đổi quy chế về thành viên, trước đây có khi gồm 3 ngạch thành viên, hiện nay chỉ có một ngach, là viện sĩ.

Như vậy, chắc chắn rằng, GS Phan Huy Lê không phải là thành viên của Académie des Inscriptions et Belles-Letres, không phải là cộng sự viên, không thể gọi là viện sĩ thông tấn của nó.

Để tìm cho rõ danh vị của GS Phan Huy Lê trong Viện hàn lâm này, tôi phải tìm website chính thức (Official website) của nó, và đã tìm được tại địa chí: http://www.aibl.fr/?lang=fr )
Tìm đến trang chủ của Website này, click vào mục MEMBRES (hoặc tìm trực tiếp tại địa chỉ: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr thì sẽ thấy một trang nói rõ về các ngạch thành viên , và hãy đọc nửa đầu ở trang ấy bằng nguyên văn tiếng Pháp (kèm theo bản dịch ra tiếng Việt), như sau:

Membres
L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres se compose de cinquante-cinq académiciens de nationalité française et de quarante associés étrangers. Elle comprend également cinquante correspondants français et cinquante correspondants étrangers.
L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres réunit en son sein des personnalités de qualification exceptionnelle, hautement représentatives. Les académiciens sont des savants élus à vie par leurs pairs en raison de la qualité de leurs travaux dans les disciplines relevant de la compétence de l’Académie (archéologie, histoire, philologie et leurs multiples branches et spécialités), de leur puissance de travail ainsi que de leur renommée internationaleLorsqu’un fauteuil d’académicien est déclaré vacant par suite de décès, l’Académie décide, à la majorité des suffrages exprimés, de l’opportunité de pourvoir à son remplacement ; si tel est le cas, le Bureau propose une date pour l’élection du nouveau membre, sinon, une nouvelle délibération a lieu sur la question après un délai de six mois. Contrairement à une règle généralement de mise dans le monde académique, il n’y a pas d’appel à candidature à l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, chaque académicien ayant la liberté de proposer un candidat dont il fait distribuer les titres et travaux. L’élection a lieu au scrutin secret et à la majorité absolue des académiciens présents.
Les associés étrangers, élus selon le même principe et souvent membres des Académies les plus prestigieuses de leur pays, sont choisis parmi les maîtres les plus éminents à travers le monde. Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux ; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres. (Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr)
Dịch sang tiếng Việt::

Các thành viên (của Viện Bi ký và Mỹ văn)
Viện Bi ký và Mỹ văn gồm có 55 viện sĩ (académiciens) có quốc tịch Pháp và 40 cộng sự viên nước ngoài. Nó còn bao gồm 50 thông tín viên (corresondants) người Pháp và 50 thông tín viên nước ngoài.
Viện Bi ký và Mỹ văn tập hợp các nhân vật đạt trình độ nghiệp vụ ngoại hạng có tính đại diên cao. Các viện sĩ là những nhà bác học được những người đồng đẳng bầu suốt đời do phẩm chất của những công trình của họ trong các bộ môn thuộc thẩm quyền của Viện (khảo cổ học, lịch sử, ngữ văn học, cùng nhiều ngành và nhiều chuyên khoa của chúng), do năng lực làm việc và thanh danh quốc tế của họ.
Khi một chiếc ghế bành (fauteuil) viện sĩ được tuyên bố là khuyết vì chủ nhân đã qua đời, Viện sẽ theo đa số những ý kiến được bày tỏ để quyết định cơ hội bổ nhiệm người thay thế; trong trường hợp đó, Văn phòng sẽ đề nghị một ngày để bầu thành viên mới, nếu không thì phải có một cuộc thảo luận về vấn đề này sau thời hạn sáu tháng. Khác với quy tắc thường được áp dụng trong giời học thuật, không có việc kêu gọi ứng cử vào Viện Bi ký và Mỹ văn, mỗi viện sĩ được tự do đề cử một ứng cử viên, giới thiệu các chức vị và các công trình của người ấy. Việc bầu chọn được thực hiện bằng cách bỏ phiểu kín và theo đa số tuyệt đối của các viện sĩ có mặt.
Các cộng sự viên nước ngoài, được bầu theo đúng nguyên tắc như vậy, và thường là viện sĩ của các Viện có uy tín nhất ở nước họ, được chọn trong số những bậc thầy nổi tiếng nhất trên thế giới. Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện (Bi ký và Mỹ văn) và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện; họ được các viện sĩ bầu chọn, họ hợp thành một nhóm nhân vật quen thuộc hàng đầu để từ đó, Viện tuyển chọn các thành viên mới, theo thói quen thường có. (LMC dịch)

Qua đoạn văn trên đây, chúng ta biết rằng, các cộng sự viên nước ngoài (Associés étrangers) là những nhà bác học lớn có tầm cỡ ngang hàng với các viện sĩ người Pháp, nhưng họ không có danh hiệu viện sĩ vì họ không mang quốc tịch Pháp. Nếu gọi họ là “viện sĩ nước ngoài” thì sai vê ngôn từ, vì người Pháp không gọi họ như vậy, nhưng hoàn toàn đúng về thực chất. Còn các correspondant, phâỉ dịch chính xác bằng nhóm từ thông tín viên, vì họ được xác định là các trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện Bi ký và Mỹ văn. So với viện sĩ, họ có cương vị thấp hơn rất nhiều, họ cũng không được bầu suốt đời (chứng cứ là thông tín viên Francisco Rico, người Tây Ban Nha mà GS Phan đã thay thế, sinh năm 1942, vẫn đang sống). Họ cũng không phải là những ứng cử viên sẵn có để chờ khi có viện sĩ qua đời thì sẽ được chọn lựa.

Mời quý vị độc giả xem văn bản của Viện Bi ký và Mỹ văn về việc chỉ định GS Phan Huy Lê làm thông tín viên nước ngoài (correspondant étranger)



https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=cf8e0cc038&view=att&th=13a8e6b62c01dcd6&attid=0.0.2&disp=emb&realattid=57c1d90f3b308c0f_0.1.3&zw&atsh=1




(Nguồn:http://www.aibl.fr/membres/liste-des-correspondants-etrangers/article/phan-huy-le?lang=fr )


Dịch sang tiếng Việt:

PHAN HUY Lê
Hiệp sĩ Lá cọ hàn lâm (Nghĩa là “Người được tặng huy chương Văn hóa – Giáo dục
hạng 3, hạng thấp nhất, tặng cho giáo sư có trên 15 tuổi nghề - LMC chú giải)
, Sinh ở Thạch –Châu (Việt Nam), 23 tháng hai 1934
Nhà Đông phương học, chuyên gia về lịch sử nông thôn, lịch sử văn hóa và lịch sử
quân sự của Việt Nam, Chủ tịch Hội sử học Việt Nam.

Được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (correspondant étranger) từ ngày 27 tháng
5 năm 2011 ở vị trí của Francisco Rico .
-----------------------------------------------------------------------------------

Hơn một năm qua, mọi người đã tôn xưng GS Phan Huy Lê khi thì là viện sĩ, lúc thì là viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm bi ký và mỹ văn Pháp. Nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều người, trong đó có GS Đinh Xuân Lâm, đã gọi GS Phan là Viện sĩ hàn lâm Pháp, đồng nghĩa với việc ông trở thành con người “bất tử” của nước Pháp, được người Pháp thờ phụng muôn đời. Nhưng sự thực thì GS Phan Huy Lê chỉ là thông tín viên của Viện bi ký và mỹ văn. Thật là sự phóng đại một tấc đến trời.
Phải coi việc GS Phan Huy Lê được bầu làm thông tín viên của Viện Bi ký và Mỹ văn là một vinh dự và may mắn quá lớn đối với ông. Tuy thế, đó vẫn là một việc rất nhỏ, chưa đáng để cho báo chí ở Pháp đưa tin, chỉ có thể tìm thấy các bản tin tiếng Việt phóng đại quá sai, rất khó tìm thấy một bản tin tiếng Pháp về việc này. Chúng tôi phải tìm ở website của L’Académie des Inscriptions et Belles Lettres thì mới thấy..

Sự hồn nhiên của ông chủ tịch Hội sử học thật đáng trách. Lẽ ra, vinh dự mà mình được hưởng đến đâu thì cứ khoe đến đấy, đằng này lại khoe quá đà, vượt sự thật quá xa, để cho gần một trăm triệu người Việt Nam hiện tại (nếu kể cả mai sau thì còn nhiều lắm) bị lấm lẫn, từ thạch anh lại tưởng là ruby thượng hạng hoặc kim cương, để rồi khi vỡ lẽ ra thì lại thất vọng ê chề, chán chường, bực tác rồi quay ra chửi đổng.

Trước đây, khi một thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) xuất hiện trên báo chí dưới danh hiệu là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga), ví dụ, ông Nguyễn B chẳng hạn, bao giờ cũng thấy viết là GS.VS. Nguyễn B. Viết như vậy là sai liền mấy lỗi, như tôi đã phân tích ở trên. Nhưng thật khó biết đó là lỗi của nhà báo, của biên tập viên, lỗi của nhân viên đánh máy hay là lỗi của chính ông Nguyễn B. Riêng về GS Phan Huy Lê, tôi đã thấy có chỗ ông viết tên mình là GS.VS.Phan Huy Lê rồi ký tên và đóng dấu của Hội Khoa học lịch sử.

Nói tóm lại, GS Phan Huy Lê chỉ được vinh dự làm thông tín viên (correspondant) của Viện Bi ký và Mỹ văn (L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres), một Viện học thuật nổi tiếng vào hạng thứ tư hoặc thứ năm ở Pháp; ông không hề là “viện sĩ” của một Viện nào cả, lại càng không thể là Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp như chính ông cùng hệ thống báo chí toàn quốc đã ngộ nhận và tuyên truyền rộ, coi đó là một niềm tự hào của đất nước ta.

(còn tiếp)

nbc
25/10/12, 11:01 AM
LƯỢC KHẢO VỀ CÁC TÊN GỌI Viện hàn lâm và Viện sĩ CÙNG NHỮNG NHẦM LẪN TAI HẠI


- Lê Mạnh Chiến -


[Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125]



(tiếp theo và hết)

VI. Vài lời cuối bài

Đây là bài lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ”. Nếu viết kỹ hơn thì còn rất nhiều điều đáng nói, có cả chuyện “cười ra nước mắt” nữa. Nhưng, tác giả nghĩ rằng, ngần ấy cũng đã khá đủ để chúng ta có những hiểu biết cơ bản về các tên gọi như viện hàn lâm và viện sĩ, académie (hoặc academy, akademiya...) và académicien (hoặc academician, akademik...), và cuối cùng nhận rõ không ít sai lầm trong việc sử dụng tên gọi “viện sĩ”

Tác giả nhận thấy rằng, ở nước ta, các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” có sức mê hoặc phi thường và rất nhiều người muốn khai thác chúng một cách triệt để. Cho nên, cứ hễ ớ đâu có Academy là lập tức được dịch ra ngay thành Viện hàn lâm, hễ dính một chút đến một Academy nào đó là trở thành viện sĩ, và được nhiều người trầm trồ, thán phục. Sự ngưỡng vọng đối với viện hàn lâm và viện sĩ, có lẽ bắt đầu thể hiện đối với Viện hàn lâm Pháp (Académie française ) từ thế hệ cha chú chúng tôi, tiếp đến là đối với Viện hàn lâm khoa hoc Liên Xô, bén rễ trong lòng nhiều thế hệ trước khi Liên xô sụp đổ. Tình cảm ấy bắt nguồn từ đức tính tốt là lòng yêu chuộng tri thức. Nhưng, khi thời thế đổi thay, thói giả dối, bệnh ham chuộng hình thức và hư danh bao trùm lên xã hội thì đức tính tốt ấy bị lợi dụng và khai thác triệt để. Thói dối trá đã ngấm sâu vào máu của những người đã giành được ít nhiều danh lợi, đến mức trở thành bản năng, vô thức, tất yếu.

Tôi rất mong muốn nước ta có những “viện hàn lâm” (nếu thấy cần phải gọi như thế) hoặc là một hay vài viện nghiên cứu (của nhà nước và của tư nhân), trong đó nổi lên một viện có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển lành mạnh của đất nước, rất nổi tiếng và toàn dân ai ai cũng biết, dù nó có tên là Viện (hàn lâm) ABXFZ gì đó nhưng chỉ cần nói đến “Viện (hàn lâm)” là đủ biết mà không cần nói rõ tên, giống như từ “đảng’ hiện nay vậy. Khi đó, các thành viên trụ cột (không phải là “tứ trụ” mà có thể là “nhị thập tứ trụ” hay là “tứ thập nhị trụ”, v.v.) được tôn xưng là Viện sĩ của viên ABXFZ, nhưng chỉ cần xưng “Viện sĩ” là đủ.. Lúc bấy giờ, các cụ Phan A, Nguyễn B, Trần C (nếu còn sống) sẽ được gọi là viện sĩ theo đúng nghĩa và họ tha hố vung bút thoải mái viết VS Phan A, viện sĩ Nguyễn B mà không sợ phạm lỗi tiếng Việt. Nhưng lúc đó phải lưu ý cấm các chú vệ sĩ không được viết tắt chữ “vệ sĩ” là VS, mà có lẽ nên cấm ngay từ bây giờ, vì nếu không cấm thì vệ sĩ Mạnh Huỵch chẳng hạn, lúc nào cũng có quyền giới thiệu mình là VS. Mạnh Huỵch mà không cần ai ban phát danh hiệu và không hề phạm lỗi tiếng Việt, bởi vì vệ sĩ gần như là nghề nghiệp của ông ta, như ta vẫn thường nói ca sĩ Hồng Nhung hay nhạc sĩ Trần Tiến vậy. Ngoài ra, nếu Viện ABXFZ được mọi người biết đến vì nó đầy tai tiếng, lúc đó, xét về mặt ngôn ngữ học thì viết VS Phan A hay viện sĩ Nguyễn B cũng đều hoàn toàn đúng, nhưng đó là cái đúng mà chúng ta không mong muốn.

Ở nước ta có hai Viện nghiên cứu lớn (không biết đã lớn nhất hay chưa) mà tôi khá quen biết, đó là Viện khoa học xã hội Việt Nam và Viện khoa học và công nghệ Việt Nam. Cả hai Viện ấy có tên bằng tiếng Anh, lần lượt là Vietnam Academy of Social siences và Viet Nam Academy of Science and Technology (chữ Việt Nam có khi viết liền, có khi viết rời, có khi viết Vietnamese). Vì khá nhiều người hiểu chữ Academy một cách “hàn lâm” chứ không nghĩ rằng ngày nay nó được sử dụng khá “thông tục” nên họ phê phán rằng, làm ăn chẳng ra gì mà đã huyênh hoang, dám vỗ ngực tự xưng là Academy. Theo tôi thì dịch như vậy không sai, Viện khoa học Trung Quốc cũng có tên bằng tiếng Anh là Chinese :Academy of Sciences cơ mà. Còn cái tên bằng tiếng Việt thì cũng tùy các nhà lãnh đạo cao cấp định đoạt, nhưng nếu gọi là Viện hay Viện hàn lâm thì giá trị của nó cũng không hề tăng lên hay giảm xuống. Chiếc áo không làm nên thày tu, huống chi là một cái tên.

Với tư cách một công dân cao tuổi, tôi viết bài lược khảo này để quý vị độc giả và các nhà chức trách tham khảo nhằm hiểu rõ hơn về những danh hiệu mà suốt nhiều năm qua, các cơ quan báo chí và các nhà khoa học cùng toàn thể dân chúng đã hiểu sai, dấn đến những chuyện lố bịch, đáng hổ thẹn. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đông đảo độc giả và cả trước pháp luật về điều mà tôi đã khám phá.

Theo những địa chỉ của các nguồn tư liệu từ Internet mà tôi đã sử dụng, bất cứ độc giả nào biết chữ Hán và tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp đều có thể kiển tra ngay trước màn hình của máy tính. Nếu phát hiện thấy tôi đã trích dẫn sai, hiểu sai, diễn giải sai các nguồn tư liệu ấy, tôi kính mong được chỉ dẫn thật rõ, rõ hơn hoặc như tôi đã làm trong bài này. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung của bài này.



https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=cf8e0cc038&view=att&th=13a8e6b62c01dcd6&attid=0.0.1&disp=emb&realattid=57c1d90f3b308c0f_0.1.4&zw&atsh=1


Trang này cho biết rõ vị trí, tư cách của viện sĩ Viện Bi ký và Mỹ văn, về các cộng sự viên nước ngoài của viện này, trong đó cũng nói rất cụ thể về vai trò của các Correspondant (mà GS Phan Huy Lê là một trong số 50 người nước ngoài giữ vai trò này), ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie = họ bảo đảm vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện. Như vậy, phải dịch chữ Correspondant là thông tín viên, phải như thế mới chính xác.



https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=cf8e0cc038&view=att&th=13a8e6b62c01dcd6&attid=0.0.3&disp=emb&realattid=57c1d90f3b308c0f_0.1.5&zw&atsh=1



Bài đã được biên tập và đăng trên TC Nghiên cứu và Phát triển – Sở KHCN TT-Huế số 7(96).2012, tr. 108-125

nbc
07/01/13, 12:31 PM
Khoa học Việt Nam kẹt trong phi chuẩn mực, tư duy ăn xổi


Việt Nam là nước đi sau về KH-CN. Ta du nhập cách làm KH-CN từ các nước XHCN Liên Xô và Đông Âu, gần đây từ các nước tư bản Âu-Mỹ. Ý thức hệ và thiết chế của hai hệ thống hoàn toàn khác nhau, song tư duy và cách nghiên cứu khoa học khá giống nhau.

Học họ, nhưng ta chẳng giống ai, có chăng chỉ là những bề nổi bên ngoài, như các danh hiệu giáo sư, tiến sỹ, còn cốt lõi bên trong thì theo cách tư duy của mình.


http://dantri4.vcmedia.vn/a3HWDOlTcvMNT73KRccc/Image/2013/01/6-06029.jpg


Từ chối chuẩn mực phổ quát trong nghiên cứu khoa học

Ở nước ngoài, chức danh tiến sỹ khẳng định anh đã vượt qua những đòi hỏi gắt gao về học thuật để có thể bắt đầu theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học, hoặc giảng dạy đại học. Ở ta, thiếu tấm bằng tiến sỹ chẳng những không vênh vang được với thiên hạ mà không thể chen chân vào nhiều chức quan. Có nơi còn quy định 50% cán bộ thuộc thành ủy quản lý phải có bằng tiến sỹ (TuanVietnam.net, 29/10/2012).

Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2020 Việt Nam phải có sáu vạn tiến sỹ để đáp ứng quy mô mở rộng hệ thống đại học với 450 sinh viên trên một vạn dân, không cần biết hiện có bao nhiêu người hướng dẫn và phòng thí nghiệm đáp ứng yêu cầu.
Cách quy hoạch ngược đời này đang lạm phát ồ ạt bằng tiến sỹ, thực học không cần, chuẩn mực khoa học bị gạt bỏ, chưa kể bằng dởm, viết luận án thuê, đang tràn lan (ANTĐ, 28/10/2012).

Ở nước ngoài, giáo sư phải là người sáng tạo ra tri thức mới qua hàng loạt công trình được đồng nghiệp khắp nơi trên thế giới trích dẫn và sử dụng. Ở ta, trong Quy chế bổ nhiệm giáo sư mới sửa đổi gần đây để tiến gần hơn đến thông lệ quốc tế vẫn chưa có điểm sàn tối thiểu, chẳng hạn yêu cầu giáo sư phải có một vài bài báo quốc tế.
Giáo sư ở ta được tính điểm khoa học chủ yếu dựa trên 900 ấn phẩm nội địa, nhưng chưa có tạp chí nào trong số này, kể cả những tạp chí tiếng Anh, lọt vào Web of Knowledge của Thomson Reuter (ISI). Đây là cơ sở dữ liệu chứa những thông tin cơ bản về các công trình khoa học có phản biện quốc tế đăng trên một vạn tạp chí hàng đầu, bao quát mọi ngành khoa học, kỹ thuật, xã hội, nhân văn và nghệ thuật.

Tuy không đâu quy định chính thức, song ISI được giới khoa học khắp nơi xem như chuẩn mực, một bộ lọc bảo đảm chất lượng đội ngũ nghiên cứu khoa học, qua đây khẳng định chỗ đứng của nhà khoa học trên mặt tiền thế giới.
Các tổ chức quốc tế cũng dựa vào số bài báo có phản biện quốc tế và số bằng sáng chế để xếp hạng đại học, trình độ khoa học và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Cách làm này chưa thể xem là tuyệt hảo, song tương tự như GDP, tuy còn khiếm khuyết vẫn được dùng làm thước đo sức mạnh của nền kinh tế. Cho nên né tránh các diễn đàn khoa học quốc tế chẳng khác nào vận động viên cấp quốc gia chê đấu trường Olympic.

Mãi gần đây, công bố quốc tế mới được dùng làm căn cứ để đánh giá các đề tài khoa học cơ bản. Nhưng công bố quốc tế lại không đòi hỏi đối với các nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật, xã hội, nhân văn chiếm hầu hết ngân sách và nguồn nhân lực khoa học của đất nước, lại có tác động trực tiếp đến quốc kế dân sinh.
Các ngành xã hội nhân văn chiếm ba phần tư số ấn phẩm khoa học nội địa hầu như không có mặt trên các tạp chí quốc tế. Các kết quả nghiên cứu này đúng sai đến đâu, rất khó biết. Trong nhiều thập kỷ gần đây diện mạo khoa học xã hội nhân văn trên thế giới đã thay đổi hoàn toàn nhờ có sự xâm nhập của toán học và các khoa học tự nhiên.
Nhiều hướng nghiên cứu đa ngành xuất hiện, khoa học tự nhiên và xã hội đan xen nhau, không thấy đâu phân chia riêng rẽ như ở ta. Khoa học xã hội nhân văn của ta đang lạc lõng khỏi thế giới.

Vì sao cho đến nay các diễn đàn khoa học quốc tế không được chấp nhận? Trong số các giáo sư được bổ nhiệm mấy năm gần đây chỉ những người làm Toán và Vật lý có 4-5 bài báo quốc tế trở lên, đa số những giáo sư nghiên cứu ứng dụng, kỹ thuật và xã hội, nhân văn chỉ công bố công trình trong nước.
Nhiều người trong số này lập luận rằng nghiên cứu ứng dụng cốt mang lại lợi ích kinh tế thiết thực, cần gì những mục tiêu hàn lâm. Lập luận này phù hợp với quan điểm nhiều người trong giới quản lý và các cơ quan cấp kinh phí, nên có tác động đến chính sách.

Trên thực tế rất khó đánh giá một công trình nghiên cứu mang lại “lợi ích kinh tế thiết thực” bằng cách nào (xem phần sau). Vả lai, trong số hàng triệu công trình nghiên cứu hàng năm trên thế giới chỉ một số rất ít có tiềm năng trực tiếp tạo ra những ứng dụng nào đó.
Trong khi đó, nghiên cứu khoa học có sứ mạng tìm ra tri thức mới, mà cái mới lại rất dễ khẳng định qua bài báo có phản biện quốc tế. Những khám phá trong khoa học cơ bản là tri thức mới đã đành, những quy luật tự nhiên, xã hội ở Việt Nam mà thế giới chưa biết, những phiên bản ứng dụng có thêm phát hiện mới trong điều kiện cụ thể ở nước ta … vẫn cứ rất mới với thế giới, miễn là nhà khoa học phải am tường mọi kết quả nghiên cứu và phương pháp luận hiện đại nhất, từ đó tìm được chỗ đứng dành cho kết quả nghiên cứu của mình trên mặt tiền khoa học.

Cũng phải thừa nhận rất khó tìm được chỗ đứng trên mặt tiền khoa học nếu không có thiết bị nghiên cứu, phòng thí nghiệm và hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Chính khó khăn này giải thích tại sao công bố quốc tế của Việt Nam nghiêng hẳn về Toán và các môn lý thuyết.
Số bài báo quốc tế về khoa học thực nghiệm, ứng dụng và kỹ thuật quá ít, không tương xứng với quy mô nhân lực và đầu tư, và ít hơn hẳn các nước xung quanh như Thái Lan, Malaysia.

Bước đột phá trong chiến lược KH-CN 2011-2020

Gần đây lãnh đạo Bộ KHCN đã tạo ra bước đột phá rất đáng mừng, chính thức khẳng định công bố quốc tế là thước đo năng lực nghiên cứu khoa học của đất nước. Chiến lược KH-CN 2011-2020 (sau đây gọi tắt là Chiến lược) nêu rõ mục tiêu (thứ hai) tăng số lượng công bố quốc tế từ các đề tài sử dụng ngân sách nhà nước trung bình 15-20%/năm. Mục tiêu thứ năm lại ghi rõ đến năm 2020 hình thành 60 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng đạt trình độ khu vực và thế giớí.

Tăng số lượng công bố quốc tế 15-20%/năm là mục tiêu hoàn toàn khả thi, Ngay trong mười năm 2000-2009 chúng ta đã đạt tốc độ 15-16%/năm, ngang với Thái Lan và Malaysia, chỉ kém Trung Quốc (20%/năm), nhưng nhanh hơn Philippines và Indonesia (5,7%/năm).
Song số lượng công bố quốc tế chưa phản ảnh đầy đủ năng lực nghiên cứu và hiệu quả đầu tư cho khoa học của một quốc gia. Phân tích các công bố quốc tế của Việt Nam và 11 nước Đông Á cho thấy chất lượng các bài báo (dựa trên chỉ số trích dẫn trung bình) của Việt Nam còn thấp, nhiều ngành trực tiếp liên quan đến quốc kế dân sinh chưa có công bố quốc tế, và phần lớn đồng tác giả Việt Nam không đóng vai trò chính trong các công trình.
Số công trình do nội lực chỉ chiếm 30%, vào loại thấp nhất khu vực, so với 90% ở Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan (xem bài “A comparative study of research capability of East Asian countries and implication for Vietnam” đăng trên Higher Education, Vol. 60, trang 615-625, bản dịch tiếng Việt trên Tia Sáng, 22/06/2010).

Bước đột phá trong “Chiến lược” sẽ đưa chúng ta thoát khỏi tình trạng lạc lõng bấy lâu nay để sớm sánh vai với các nước, nhanh chóng tiếp cận mặt tiền khoa học. Song muốn đạt được các mục tiêu trong “Chiến lược” cần có những đột phá mới để khoa học Việt Nam khỏi bị mắc kẹt trong những tư duy, cơ chế và cơ cấu tổ chức bất cập hiện nay.

Hành chính hóa hoạt động nghiên cứu khoa học

Chỉ bám vào nguồn kinh phí duy nhất từ ngân sách nhà nước, lại thiếu chuẩn mực nghiêm túc, hoạt động nghiên cứu khoa học rơi vào tình trạng hành chính hóa, do các quan chức hành chính cầm cân nẩy mực.
Họ là những người chưa hề nghiên cứu khoa học, hoặc nếu xuất thân từ giới khoa học, họ sẽ ném ngay “hòn gạch gõ cửa” sau khi lọt vào chốn quan trường (Lỗ Tấn, Khổng Phu tử ở Trung Quốc đời nay, bản dịch Phan Khôi). Đối với nhiều người trong số họ, khoa học giờ đây chỉ còn là chiếc áo khoác bên ngoài, bên trong là danh, quyền và tiền, những cạm bẫy rất ít ai thoát khỏi.

Hành chính hóa nghiên cứu khoa học đặt ra luật chơi hành chính. Đề tài các cấp vận hành theo kiểu hợp đồng kinh tế như ra đầu bài, đấu thầu, tuyển chon, kiểm tra tiến độ v.v… Kinh phí được quyết toán dựa trên số ngày công khai báo cho từng thành viên tham gia, số trang dịch thuật, tiền thuê mướn nhân công, vật tư, hóa chất tiêu hao v.v…
Sản phẩm phải mục sở thị như quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn nhà nước, phần mềm, số cơ sở sử dụng các kết quả v.v.... Để được nghiệm thu lại phải có đầy đủ các chứng từ, hóa đơn thanh toán hợp “lệ”. Chỉ có bài báo quốc tế là không đòi hỏi.

Bởi bài báo quốc tế yêu cầu cao hơn hẳn. Đó là phát hiện mới (new findings), tính độc đáo (originality), góp phần đẩy hướng nghiên cứu lên phía trước (significant advances in field) và phương pháp luận hiện đại (state - of - the art approach).
Không cần hội đồng đông người, chỉ một trong hai phản biện lắc đầu, bài báo sẽ bị từ chối. Rõ ràng từ đề tài được Bộ KH-CN nghiệm thu đến bài báo quốc tế được chấp nhận là một khoảng cách rất xa, đầy thách thức, nhiều người đành bỏ cuộc vì không còn kinh phí và thời gian, họ phải lao tiếp vào đề tài mới để tồn tại.

Song những đề tài, luận án nói trên lại được dùng làm căn cứ bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư. Theo Quy chế, giáo sư phải hướng dẫn chính ít nhất hai nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, chủ trì ít nhất một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ hoặc đề tài cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả từ đạt yêu cầu trở lên.
Các tân giáo sư sẽ được phân vai mới trong hệ thống hành chính, chủ trì các đề tài, dự án, chương trình nhà nước, có tiếng nói nặng cân hơn trong các hội đồng xét duyệt và nghiệm thu. Cuộc chơi trên sân nhà có thêm vai diễn mới, không thấy hồi kết.

Hành chính hóa nghiên cứu khoa học bộc lộ nhiều lỗ hổng làm nơi ẩn chứa cơ chế xin cho, ban phát, vốn là sản phẩm của thời bao cấp. Thời nay, mỗi đề tài, dự án cấp Bộ trở lên thường được cấp từ hàng trăm triệu đến hàng chục tỷ đồng, nên không còn ai ban phát vô tư nữa, kẻ cho người nhận đều phải biết hành xử theo “luật thị trường”.
Có hội đồng khoa học để xét duyệt và nghiệm thu, nhưng hội đồng lại do chính bộ máy hành chính lập ra để dễ dàng hợp thức hóa các ý định của mình. Hội đồng chỉ bàn về học thuật không tham gia xét duyệt kinh phí cho đề tài, việc này thường được dàn xếp giữa người ban phát và người nhận. Tiếng nói chính trực thường là thiểu số và sẽ không có cơ hội trong các lần sau.

Dễ hiểu tại sao nạn gian dối - điều tối kỵ nhất trong khoa học - lại lên ngôi trong những năm gần đây. Khai gian, khai khống các khoản chi là chuyện thường tình. Mọi người đều gian dối nên không ai phải xấu hổ. Bịa số liệu, đạo văn, thuê viết luận án… ngày càng phổ biến.
Nhóm lợi ích hình thành qua các đề tài dự án, che chắn nhau rút ruột kinh phí nhà nước. Phi chuẩn mực và hành chính hóa làm cho môi trường học thuật ở nước ta ngày một tù mù, vàng thau lẫn lộn, nghiên cứu khoa học trở nên tùy tiện, đề tài nào, công trình nào cũng xem là nghiên cứu, hội thảo nào cũng có thể gán thêm mác khoa học. Báo chí và xã hội không phân biệt được thực và giả, nhà khoa học đích thực với những người khoác áo khoa học.

Từ môi trường học thuật này không thể xuất hiện đỉnh cao mà chỉ có số đông làng nhàng, thiếu chuyên nghiệp. Lao vào quan trường là con đường tiến thân độc đạo, số người theo đuổi học thuật đến cùng hiếm dần, thành phần ưu tú ngày càng vắng bóng trong lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học và ngay ở những cơ quan đầu não về KH-CN. Rất đông tài năng trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài không tìm thấy đất dụng võ khi trở về nước. Thực trạng này liệu các nhà lãnh đạo có biết?

Không thành công trong nội địa hóa công nghệ

Nhà nước có chủ trương nội địa hóa công nghệ, nhưng thiếu quyết sách. Hàng điện tử và công nghệ cao là mũi nhọn xuất khẩu, dự kiến đến 2020 kim ngạch lên đến 45% để minh chứng cho mục tiêu công nghiệp hóa theo hướng hiện đại của đất nước. Riêng chín tháng đầu năm 2012 kim ngạch xuất khẩu lên đến 15 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch.
Song phần lớn là sản phẩm từ các doanh nghiệp nước ngoài, và đằng sau những con số ấn tượng trên là một sự thật ê chề: “trong mặt hàng này các doanh nghiệp Việt Nam nhập 100% linh kiện nước ngoài…, phần nội địa hóa chỉ là vỏ nhựa, thùng các tôn và xốp” (SGGP, 25/9/2012).

Về cơ khí, nội địa hóa công nghiệp ô tô trong hơn hai thập kỷ qua chỉ đạt vài phần trăm (Vneconomy, 03/07/2012), xem như thất bại. Công bằng mà nói, thành tích nội địa hóa công nghệ ấn tượng nhất chính là mấy con tàu trọng tải 50 nghìn tấn được VINASHIN cho hạ thủy và xuất khẩu. Nhưng VINASHIN vỡ nợ, gây hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Các học giả có dịp ném đá vào đống đổ nát mà ít ai quan tâm nhặt ra từ đó bài học nội địa hóa công nghệ thành công hay thất bại.

Có nhiều lợi thế hơn VINASHIN, nhưng TKV và EVN cũng không chịu nội địa hóa công nghệ. Theo Quyết định 167/2007/QĐ- TTg, hàng chục nhà máy chế biến alumina sẽ được xây dựng từ năm 2007 dến 2025 trên Tây Nguyên, nhưng không có từ ngữ nào nhắc đến lộ trình nội địa hóa công nghệ, trong khi Việt Nam sở hữu một tiềm năng bô xít lớn thứ năm thế giới.
Chính phủ cũng không yêu cầu TKV hứa hẹn đến bao giờ sẽ có công nghệ Việt Nam. Mẻ alumina đầu tiên đang chậm tiến độ hơn hai năm, và trên thực tế cả đại dự án bô xit đang gặp bế tắc, chính phủ phải rút quy mô chỉ còn hai nhà máy thí điểm. Một kết quả nhãn tiền, bởi không chỉ công nghệ, mà cả khoa học cũng đứng ngoài. Bao nhiêu bài toán kinh tế, kỹ thuật, môi trường, xã hội… chưa được nghiên cứu thấu đáo trước khi ra Quyết định.

Hàng chục nhà máy điện chạy than được EVN xây dựng trên khắp cả nước đều rơi vào tay nhà thầu nước ngoài. Không biết đến bao giờ mới thấy tua bin và máy phát điện do người Việt tự chế tạo. Trong khi đó, EVN đi tắt đến thẳng điện hạt nhân, đề xuất đưa vào vận hành hàng chục lò phản ứng từ 2020 đến 2030.
Nhiều ý kiến phản bác hoặc đề nghị đình hoãn kế hoạch mạo hiểm này sau khi xảy ra thảm họa Fukushima. Nhưng chúng đều lọt thỏm trong luồng dư luận phải làm điện hạt nhân mới có quốc phòng mạnh, mới có nước Việt Nam hiện đại vào năm 2020.

Thành ra hiện đại hay không là ở người tiêu dùng. Nói nôm na, với chiếc iphone 5S bên tay lái Mercedes ngày một phổ biến trên các xa lộ nước ta, người Việt cũng hiện đại không kém người Mỹ, người Đức. Đó là nhờ ta biết đi tắt đón đầu, đúng như lời một vị Bộ trưởng dõng dạc thuyết phục Quốc Hội trước đây ba năm: “xây dựng đường sắt cao tốc Bắc - Nam chính là phương án đi tắt đón đầu lên thẳng hiện đại”.

Không có bằng sáng chế

Không có sản phẩm từ công nghệ Việt Nam, bằng sáng chế cũng không có nốt. Việt Nam hầu như không có bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ (US Patent and Trademark Office, US PTO). Trong khi đó, năm 2011 Indonesia và Philippines sở hữu hàng chục bằng, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc còn nhiều hơn gấp bội.
Báo chí đổ lỗi cho 9000 giáo sư/ phó giáo sư (VietNamNet, 5/11/2012) khiến mọi người có dịp mang các vị ra đàm tiếu mà không biết rằng nghiên cứu khoa học khác nghiên cứu công nghệ. Sản phẩm nghiên cứu khoa học là tài sản chung cho mọi người cùng sử dụng, bằng sáng chế là bí quyết công nghệ của doanh nghiệp được bảo vệ và mua bán thông qua cơ quan đăng ký. Chính doanh nghiệp, chứ không phải tác giả, phải bỏ tiền ra để đăng ký bằng sáng chế và hưởng lợi từ việc mua bán nầy.

Đâu phải làm thơ, nhà khoa học lấy đâu ra bằng sáng chế khi doanh nghiệp không yêu cầu. Thiếu bằng sáng chế chứng tỏ trình độ quá thấp của nền công nghiệp nước nhà. Chúng ta chỉ du nhập công nghệ từ nước ngoài để sản xuất, mà không nội địa hóa để có công nghệ của mình. Nếu cần thay thế công nghệ, doanh nghiệp sẽ đi mua, hơn là đầu tư nghiên cứu.

Tư duy ăn xổi

Dù sao, thiếu bằng sáng chế cũng đặt ra dấu hỏi về tính thiết thực và hiệu quả của nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam hai thuật ngữ khoa học và công nghệ luôn gắn với nhau, thậm chí đồng nhất với nhau trong cùng một khái niệm như thị trường khoa học công nghệ, hội chợ khoa học công nghệ v.v…
Chính sự nhập nhằng này trong tư duy làm cho nghiên cứu công nghệ đích thực vẫn là bãi đất trống. Đây là hệ quả của tư duy ăn xổi, muốn nghiên cứu khoa học phải cho ra ngay sản phẩm trên thị trường.

Khoa học và công nghệ hỗ trợ lẫn nhau, nghiên cứu khoa học tạo ra mảnh đất cho công nghệ phát triển, và ngước lại. Tuy nhiên ngay trong số hàng triệu bài báo khoa học công bố hàng năm trên thế giới, rất ít công trình có tiềm năng tạo ra công nghệ hay dịch vụ.
Nếu có, còn phải trải qua nhiều khâu, đòi hỏi thời gian, công sức và kinh phí. Kết quả nghiên cứu phải được kiểm nghiệm và củng cố bằng nhiều nghiên cứu mới tiếp theo, bảo đảm chất lượng (QA), prototype, quy mô pilot, thử sai (trial by error) nhiều lần trước khi đưa ra ứng dụng.
Tư duy ăn xổi bỏ qua các khâu quan trọng này, nên nghiên cứu khoa học sinh ra những đứa trẻ đẻ non, chết yểu, làm thất thoát nguồn kinh phí lớn của nhà nước.
Bao nhiêu đề tài chế tạo thiết bị với tính năng “chẳng kém nước ngoài”, nhưng chỉ là đơn chiếc mang trưng bày ở triển lãm, hội chợ, sau vài năm mất hút. Số trẻ đẻ non, chết yểu này nhiều lắm, cứ chọn ra một số đề tài, dự án lớn được Bộ KHCN nghiệm thu từ 5 đến 10 năm trước đây sẽ thấy ngay.

Tư duy ăn xổi không thể tạo ra những đỉnh cao khoa học, những hướng nghiên cứu mũi nhọn có thể sớm bứt phá lên mặt tiền khoa học thế giới. Các quan chức muốn thấy thành tích ngay trong nhiệm kỳ của mình, lại phải ban phát, rải đều quả thực cho mọi người, năm nay anh có đề tài, sang năm đến lượt anh khác, người làm khoa học giống như dân du canh, không chuyên sâu vào một hướng nhất định.
Trong khi đó, khoa học phát triển được nhờ tích lũy và kế thừa, công trình đẻ ra công trình, thành công lẫn thất bại trong công trình trước đều để lại dấu ấn trong các công trình sau. Biết tích lũy và kế thừa, tri thức sẽ tăng tốc theo cấp số nhân, được lưu lại trong đầu con người qua các thế hệ, trở thành một dạng chứng khoán (stock) của các doanh nghiệp, thành truyền thống của phòng thí nghiệm và hình hài của nền khoa học.

Qua cơ chế tích lũy và kế thừa, người tài mới xuất hiện, người khác đứng trên vai họ (stand on the shoulder of giants) để nhìn rõ chân trời phía trước. Nhờ đó các nhóm nghiên cứu mạnh được hình thành và phát triển, các thế hệ khoa học sinh ra và trưởng thành nối tiếp nhau.
Theo “Chiến lược”, năm 2020 nước ta sẽ có 60 nhóm nghiên cứu mạnh. Hy vọng họ, và những người lãnh đạo của họ, sẽ làm nên hình hài nền khoa học nước nhà. Thế giới sẽ biết khoa học Việt Nam qua họ. Các thế hệ tương lai sẽ nhớ đến thế hệ hiện nay qua các công trình khoa học của họ.

Mấy bước đột phá thay lời kết

Chỉ cần cố gắng làm giống như các nước khác, KH-CN Việt Nam sẽ thoát ra khỏi tình trạng hiện nay. Nghiên cứu khoa học chỉ được xem là đích thực khi tìm ra tri thức mới. Những người cầm quân, như giáo sư, chỉ được bổ nhiệm khi có chỗ đứng nhất định trên mặt tiền khoa học.
Công bố quốc tế phải được dùng làm thước đo thay cho các chuẩn mực hành chính. Làm được những việc này sẽ tạo ra bước đột phá lớn đẩy lùi tệ nạn xin cho, ban phát và những tiêu cực trong môi trường học thuật hiện nay.

Sản phẩm nghiên cứu khoa học là đỉnh cao văn hóa, làm tăng vốn tri thức của đất nước, tác động đến chính sách và nâng cao mặt bằng dân trí, từ đó tạo nên sức mạnh tác động đến phát triển kinh tế xã hội. Trường đại học là nơi gánh vác tốt nhất sứ mạng này.
Từ trường đại học tri thức khoa học lan tỏa ra cộng đồng, do đó phải tạo điều kiện tốt nhất để sinh viên - những người lan tỏa tri thức - được tiếp thu tri thức mới trực tiếp từ những nhà khoa học có chỗ đứng trên mặt tiền khoa học.
Nghĩa là phải ưu tiên tập trung nghiên cứu khoa học về các trường đại học và xây dựng lên tại đây những nhóm nghiên cứu mạnh. Chúng ta đã bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội rồi, giờ đây không được chậm trễ nữa.

Nghiên cứu công nghệ khác với nghiên cứu khoa học và cần có chỗ đứng trong phát triển kinh tế. Nên cho qua đi niềm tự hào Việt Nam là nơi thu hút vốn FDI, ODA nhiều nhất, thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất...
Không thể mãi mãi làm người tiêu thụ mà phải bước lên bục cao hơn của những người tạo ra tiện ích cho xã hội. Con đường duy nhất là nội địa hóa công nghệ, sau đó tiến lên đổi mới để cạnh tranh.
Cho nên rất cần một quyết sách từ phía nhà nước, đừng để doanh nghiệp mãi chạy theo lợi nhuận trước mắt mà quên lợi ích lâu dài của dân tộc. Và sau quyết sách là tầm nhìn và trách nhiệm của những nhà lãnh đạo KH-CN. Bởi tìm ra cách đi hợp lý trước trăm bề ngổn ngang hiện nay, thật không dễ chút nào.

Theo GS Phạm Duy Hiển

Đất Việt

nbc
27/01/13, 11:33 AM
Khi lãnh đạo và trí thức cùng nhìn một hướng



http://img.vietnamnet.vn/logo/tuanvn.pngTrí thức có thể đối lập với chủ trương của lãnh đạo nếu thấy chủ trương đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đất nước, hoặc thấy không khoa học, không hợp với quy luật khách quan.

Thông thường trí thức là người hiểu biết, có trình độ văn hóa cao, có kiến thức chuyên môn, và không bị ràng buộc vào (