PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Dành cho các bạn quan tâm về thiết kế Đường cao tốc



Expressway
15/09/07, 11:31 PM
Một số định nghĩa về đường cao tốc (ĐCT) và các bộ phận cấu thành mặt cắt ngang (MCN) trong một số Quy trình thiết kế ĐCT hiện hành trong và ngoài nước:
1. Ở Việt Nam:
Theo luật GTĐB (NXB CAND-Hà Nội-2006) mục 10 điều 3:
Đường cao tốc (ĐCT) là đường chỉ dành cho xe cơ giới chạy theo 2 chiều ngược nhau riêng biệt và không giao cắt đồng mức với đường khác.
Theo TCVN 5729-1997 mục 3.1 trang 5:
ĐCT là loại đường chuyên dùng cho ô tô chạy với các đặc điểm sau:
- Tách riêng hai chiều (mỗi chiều tối thiểu phải có 2 làn xe). Mỗi chiều đều có bố trí làn xe khẩn cấp. Trên đường có bố trí đầy đủ các trang thiết bị, có cơ sở phục vụ cho viêc bảo đảm cho giao thông (GT) liên tục, an toàn, tiện nghi và chỉ cho xe ra vào ở các điểm nhất định.
- Có 2 loại đường cao tốc là cao tốc loại A và cao tốc loại B. Có 4 cấp kỹ thuật ứng với 4 tốc độ thiết kế khác nhau:
+ Loại A: Cấp 80 ứng với VTK=80km/h, dùng ở địa hình đồi cao và núi. Cấp 100 ứng với VTK=100km/h, dùng ở vùng đồi. Cấp 120 ứng với VTK=120km/h, dùng ở vùng đồng bằng.
+ Loại B: Cấp 60 ứng với VTK=60km/h, chỉ dùng cho vùng đồi núi. Cấp 80 ứng với VTK=80km/h, chỉ dùng cho vùng đồi thấp. Cấp 100 ứng với VTK=100km/h, dùng ở vùng đồng bằng.
Theo 22TCN 273-01, Tiêu chuẩn thiết kế (TCTK) đường ô tô-Phụ lục 4E:
ĐCT là đường có dải phân cách giữa và có ít nhất hai làn xe theo mỗi hướng giao thông, có khống chế đầy đủ các đường vào và ra. Loại đường này không làm ngắt quãng giao thông chẳng hạn ở các nút giao, các nhánh rẽ vào từ các đường bên cạnh. Để vào ĐCT thì cần phải thông qua các nút giao khác mức và đảm bảo các đường tách nhập có tốc độ cao. ĐCT bao gồm các thành phần cơ bản sau, theo qui định về năng lực thông hành và mức phục vụ: Đoạn đường cao tốc cơ bản, đoạn trộn dòng, điểm rẽ vào và ra và các dốc đường rẽ.
Theo báo cáo cuối cùng-Tập 3 của kế hoạch phát triển ĐCT thuộc dư án phát triển tuyến đường cao tốc cho Việt Nam No.TA 4695 VE Hà Nội 12/2006:
- ĐCT là đường dành cho ô tô hoạt động có hai chiều xe chạy riêng biệt với tối thiểu 2 làn xe mỗi chiều, có dải phân cách giữa, mỗi bên đều bố trí một làn đỗ xe khẩn cấp, bảo đảm dòng xe liên tục, an toàn, nhanh và các điều kiện thuận tiện xe chạy, chỉ cho phép các xe môtô khác có phân khối từ 250cc mới được phép vào. Tại các dải vào ra được khống chế toàn bộ, và cung cấp dịch vụ vận tải giữa các thành phố lớn quan trọng.
- Có 3 cấp kỹ thuật là cấp 120 ứng với VTK=120km/h, cấp 100 ứng với VTK=100 km/h, cấp 80 ứng với VTK=80km/h.
- Chiều rộng 1 làn xe là 3.75m cho vùng đồng bằng và 3.5m cho vùng đồi núi cao.
- Chiều rộng tối thiểu dải phân cách giữa là 3.0m cho vùng đồng bằng và 2.5m cho vùng đồi núi cao.
- Chiều rộng lề đường bên phải là 3.0m cho vùng đồng bằng và 2.5m cho vùng đồi núi cao.
- Chiều rộng làn đổ xe khẩn cấp là 2.5m
2. Theo tiêu chuẩn thiết kế-Hệ thống ĐCT của Malaysia:
- ĐCT là đường dành cho ôtô có phân chiều xe chạy bằng dải phân cách giữa; mỗi chiều có ít nhất 2 làn xe và một làn đổ xe khẩn cấp. Tại các chỗ vào và ra được khống chế toàn bộ và bố trí nút giao khác mức. Trừ các khu vực dịch vụ , nghỉ ngơi ăn uống phục vụ cho ĐCT, các khu vực khác không cho phép dừng xe. Trên suốt chiều dài đường từ điểm đầu đến điểm cuối cung cấp đầy đủ các tín hiệu chỉ dẫn cho xe hoạt động.
- Có 4 cấp:
+ Cấp 140 có VTK=140km/h: vùng đồng bằng;
+ Cấp 120 có VTK=120km/h: vùng đồi;
+ Cấp 100 có VTK=100km/h: vùng đồi khó khăn;
+ Cấp 80 có VTK= 80km/h: vùng núi khó khăn;
- Chiều rộng dải phân cách giữa là 4.0 m đối với các cấp 140, 120, 100 và 3.0 m đối với cấp 80.

3. Theo tiêu chuẩn thiết kế của Hàn Quốc:
ĐCT là đường quốc gia có tốc độ cao chỉ cho phép các loại ô tô hoạt động, có dải phân cách giữa chia 2 chiều xe chạy ngược nhau. Có chỗ vào ra bố trí giao khác mức, được khống chế toàn bộ. Có 2 loại ĐCT là cao tốc ngoài đô thị và cao tốc trong đô thị, ứng với 2 cấp tốc độ là 120 và 100.
4. Theo tiêu chuẩn thiết kế ĐCT của Nhật:
- ĐCT là đường ô tô có tốc độ cao, phân nhiều xe chạy nhờ dải phân cách giữa, mỗi chiều có từ 2 làn xe trở lên. Tại các chỗ vào ra đều được khống chế đảm bảo dòng xe chạy liên tục, thuận lợi, an toàn. Mỗi bên đều có làn dừng xe khẩn cấp.
- Có 2 loại ĐCT:
+ Loại 1: Cao tốc ngoài đô thị với 4 cấp kỹ thuật sau:
Cấp 120 ứng với Vtk= 120km/h, được khống chế toàn bộ ở chỗ vào và ra;
Cấp 100 ứng với Vtk=100km/h, một phần đường vào và ra được khống chế;
Cấp 80 ứng với Vtk=80km/h, một phần đường vào và ra được khống chế;
Cấp 60 ứng với Vtk=60km/h, một phần đường vào và ra được khống chế.
+ Loại 2: Cao tốc trong đô thị có 2 cấp kỹ thuật sau:
Cấp 80 ứng với Vtk=80km/h, được khống chế toàn bộ ở chỗ vào và ra;
Cấp 60 ứng với Vtk=60km/h, được khống chế toàn bộ ở chỗ vào và ra.
5. Tiêu chuẩn thiết kế ĐCT của Trung Quốc JTG B01- 2003:
Trung Quốc dựa trên các chức năng và yêu cầu về vận tải, đường ô tô được phân thành 5 cấp kỹ thuật: I, II, III, IV, V, trong đó cấp I chỉ đường cao tốc.
- ĐCT là đường có nhiều làn xe, được phân 2 chiều xe chạy riêng biệt nhờ dải phân cách giữa và được khống chế toàn bộ khi xe vào, ra ở các làn và các hướng khác nhau.
- Theo tốc độ, ĐCT TrungQuốc có 3 cấp là 120km/h, 100km/h và 80km/h.
- Chiều rộng 1 làn xe là 3.75m cho cả 3 cấp tốc độ.
- Chiều rộng dải phân cách giữa là 4.5m (tối thiểu là 3.25m) cho cấp 120km/h; 3.5m (tối thiểu 3.0) cho cấp 100km/h; 3.0m (tối thiểu 2.0) cho cấp 80km/h.
- Chiều rộng lề đường bên phải là 3.5m (tối thiểu 3.0) cho cấp120km/h; 3.0m (tối thiểu 2.5) cho cấp 100km/h; 2.5m (tối thiểu 1.5) cho cấp 80km/h.
6. Tiêu chuẩn Đường cao tốc của Pháp:
ĐCT là đường dành cho ô tô chạy với tốc độ cao, với 4 cấp tốc độ là 140, 120, 100 và 80 km/h; có dải phân cách giữa phân chiều xe chạy, tối thiểu 2 làn xe mỗi chiều và được khống chế toàn bộ chỗ vào-ra và có yêu cầu về kích thước các bộ phận của mặt cắt ngang (MCN) như sau:
+ Chiều rộng một làn xe là 3.50m cho tất cả các cấp;
+ Chiều rộng tối thiểu của dải phân cách giữa là 3.00m;
+ Chiều rộng lề đường bên phải là 3.25m. Trường hợp khó khăn có thể giảm tới 2.00m.
7. Tiêu chuẩn ĐCT của CHLB Đức:
- ĐCT là đường dành cho ô tô chạy với tốc độ cao, có bố trí dải phân cách giữa phần chiều xe chạy, tối thiểu có 2 làn xe mỗi chiều và được khống chế toàn bộ ở chỗ giao với các đường khác bằng các nút giao khác mức.
- Bề rộng nền đường cho 4 làn xe (cả 2 chiều) có 3 loại: RQ26 rộng 26m, RQ29 rộng 29m, RQ30 rộng 30m và 6 làn xe (cả 2 chiều), RQ37.5m rộng 37.5m.
8. Theo sổ tay khả năng thông hành của Đường 2000:
ĐCT được định nghĩa là đường có tốc độ cao, có bố trí dải phân cách giữa, được khống chế đầy đủ các đường vào – ra và có 2 hoặc nhiều hơn 2 làn xe cho mỗi chiều xe chạy, bảo đảm dòng xe liên tục, không cắt giao cùng mức và không có các tín hiệu, biển báo bắt dừng xe tại các nút giao thông. Các kích thước của các bộ phận cấu thành MCN của ĐCT giống như chỉ dẫn của AASHTO.
9. Theo kích thước thiết kế hình học đường ô tô và đường phố - AASHTO:
Loại cao nhất của đường chính là ĐCT – đường có tốc độ cao, được khống chế toàn bộ ở chỗ vào và ra nhằm bảo đảm nâng cao năng lực thông hành với tốc độ cao, nâng cao an toàn cho người sử dụng đường, ít nhất có 2 làn xe cho mỗi hướng.
- Chiều rộng mỗi làn xe là 3.60 m (12 ft);
- Chiều rộng dải phân cách giữa từ 2÷2.4m cho 4 làn xe và 3.0÷ 4.0m cho đường 6 làn xe trở lên;
- Chiều rộng lề đường ít nhất 3.0m trong đó 2.5m bố trí làn dừng xe khẩn cấp;
- Chiều rộng MCN nền đường bằng bao nhiêu là tùy theo số làn xe yêu cầu để thỏa mãn lưu lượng xe thiết kế ứng với thời kỳ tính toán t = 20 năm.
10. Tiêu chuẩn thiết kế ĐCT của Liên Xô cũ:
Theo tiêu chuẩn thiết kế Đường của LX Cũ có 5 cấp: Ia, Ib, II, III ,IV, và V. Cấp Ia là ĐCT.
- ĐCT là đường trục có ý nghĩa Quốc gia và Quốc tế và được phân đường xe chạy bằng dải phân cách giữa, mỗi chiều tối thiểu có 2 làn xe. Tốc độ thiết kế 150 km/h cho vùng đồng bằng, 120 km/h cho vùng đồi và 80 km/h cho vùng núi. Lưu lượng xe tính toán cho cả 2 chiều lớn hơn 7000 (xe/ngày) và 14000 (xeqđ/ng.đ).

Từ việc thống kê các trích dẫn ở trên. Mời các bạn thảo luận, đưa ra các ý kiến nhận xét của mình cho việc hoàn thiện tiêu chuẩn thiết kế ĐCT Việt Nam (ở đây chúng ta chỉ bàn về các khái niệm cơ bản nhất đối với ĐCT).
Nào, xin mời các bạn cho ý kiến nhận xét của mình về thiết kế ĐCT?

gnourt2
16/09/07, 09:01 AM
bạn gì đó ơi, bạn có tài liệu về đường cao tốc không share cho mọi người với

nbc
16/09/07, 09:26 AM
bạn gì đó ơi, bạn có tài liệu về đường cao tốc không share cho mọi người với

Hì hì, gnourt2 không nhận ra người bạn cùng nhóm BKX3 ngày nào đó rồi!

gnourt2
16/09/07, 09:31 AM
dạ, em nhìn ảnh và thấy tên là biết thầy ạ. Vì vậy nên em mới xưng là "bạn gì đó ơi" cho vui thôi ạ

Expressway
16/09/07, 10:10 AM
bạn gì đó ơi, bạn có tài liệu về đường cao tốc không share cho mọi người với

Phải tham gia bàn về vấn đề này đã chứ! khi nào giải quyết xong vấn đề này rồi mình sẽ share cho! OK? Nhưng mình thấy gnourt2 có năng lực trong các chuyên đề Cầu hơn đấy! Thế còn Bài tập thiết kế đường đã làm xong chưa, đường Otô của Nhật mà gnourt2 phải thiết kế chính là ĐCT đây, chứ Nhật không có kiểu đường Otô như Nước mình đâu, nên khi thiết kế tuyến cần chú ý đấy nhé?
Thân.

nbc
16/09/07, 10:14 AM
Phải tham gia bàn về vấn đề này đã chứ! khi nào giải quyết xong vấn đề này rồi mình sẽ share cho! OK? Nhưng mình thấy gnourt2 có năng lực trong các chuyên đề Cầu hơn đấy! Thế còn Bài tập thiết kế đường đã làm xong chưa, đường Otô của Nhật mà gnourt2 phải thiết kế chính là ĐCT đây, chứ Nhật không có kiểu đường Otô như Nước mình đâu, nên khi thiết kế tuyến cần chú ý đấy nhé?
Thân.

gnourt2 đang làm Bài tập thiết kế đường à? Vậy có thể post lên đây đề bài và đề cương hướng dẫn không (tất nhiên là bằng tiếng Việt rồi!). Như vậy thầy cô cũng như anh chị em ta ở CauduongBKDN sẽ được mở rộng tầm mắt, học ở Việt Nam mà sẽ như học ở Nhật vậy (lạc quan tí).
Hy vọng gnourt2 sẽ là cây cầu nối giữa 2 trường nhé (y như nic của bạn ấy).

gnourt2
16/09/07, 11:52 AM
Đây là bài thiết kế đường đầu tiên mà bọn em được giao làm (làm theo nhóm). Đường này nằm ven biển, hẹp, có nhiều chỗ rẽ bị che khuất tầm nhìn mà không có gương cầu, nhiều chỗ có tàu đi qua nhưng không có chắn tàu tự động
http://watchizu.gsi.go.jp/watchizu.aspx?id=48304450

Expressway
17/09/07, 10:59 AM
Thêm một vài thông tin về tình hình phát triển Đường cao tốc ở Nước ta!
Theo Chiến lược phát triển giao thông vận tải VN đến năm 2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt, Việt Nam sẽ có rất nhiều đường cao tốc.Từ nay đến năm 2020 sẽ có thêm nhiều tuyến đường cao tốc mới.
Theo chiến lược này, trên trục dọc Bắc - Nam sẽ hoàn thành nâng cấp và mở rộng quốc lộ 1A từ Hữu Nghị Quan đến Năm Căn, nối thông và nâng cấp toàn tuyến đường Hồ Chí Minh.
Đối với khu vực phía Bắc, sẽ tập trung xây dựng mới đường bộ cao tốc Hà Nội- Hải Phòng, Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái, Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai -, Hà Nội - Thái Nguyên, Lạng Sơn - Hà Nội - Vinh...
Tại khu vực miền Trung, sẽ xây dựng các đoạn đường bộ cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi, Đà Nẵng - Huế - Quảng Trị và đường bộ cao tốc Tây Nguyên đoạn Ngọc Hồi - Chơn Thành; nâng cấp, xây dựng các tuyến đường hành lang Đông - Tây và các đường ngang nối vùng duyên hải với các tỉnh Tây Nguyên, nối cảng biển Việt Nam với các nước láng giềng. Xây dựng, nâng cấp và mở rộng các cảng Cửa Lò, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây, cụm cảng Đà Nẵng, Quy Nhơn, Ba Ngòi...
Tại khu vực Đông Nam Bộ, sẽ xây dựng đường bộ cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây - Phan Thiết, TP.HCM - Long Thành - Vũng Tàu, TP.HCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành; Dầu Giây - Đà Lạt... Các cụm cảng TP.HCM, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng tàu cũng sẽ được cải tạo, nâng cấp và xây dựng. Khu vực Tây Nam Bộ sẽ xây dựng đường cao tốc TP.HCM - Cần Thơ, Cần Thơ - Bạc Liêu.

Expressway
19/09/07, 11:45 AM
Một số nhận xét chung khi so sánh tiêu chuẩn thiết kế đường cao tốc của Việt Nam và các Nước khác trên thế giới:
1. Đường cao tốc là đường chỉ dành cho xe cơ giới chạy với tốc độ cao (80, 100, 120km/h) bắt buộc phải có dải phân cách giữa để phân chiều xe chạy với ít nhất 2 làn xe cho mỗi chiều, có bố trí làn dừng xe khẩn cấp ở mỗi bên, đựơc khống chế đầy đủ ở các chỗ vào ra từ các dường bên cạnh bởi các nút giao thông khác mức, đảm bảo xe chạy liên tục, tiện lợi và an toàn cho người sử dụng đường.
2. Trên suốt dọc đường (từ điểm đầu đến điểm cuối) có bố trí các thiết bị, các tín hiệu chỉ dẫn, không cho phép dừng xe từ các khu dịch vụ phục vụ hành khách và xe cộ theo qui định.
3. Chiều rộng mỗi làn xe 3.5m cho cấp 80 ở điều kiện địa hình khó khăn và 3.75m cho các cấp 100 và 120.
4. Chiều rộng mặt cắt ngang nền đường nhìn chung co sự sai khác không đáng kể đối với các tiêu chuẩn thiết kế khác nhau.
+ Từ 23.7 đến 25.0m cho cấp tốc độ 120km/h có 4 làn xe; 31.0 đến 32.0m cho 6 làn xe và 38.5 đến 40.0m cho 8 làn xe ở vùng đồng bằng.
+ 22.7 đến 24.0m cho cấp tốc độ 100km/h vơi 4 làn xe; 30.2 đến 31.5m cho 6 làn xe; 46.0 đến 47.5m cho 8 làn xe.
+ 20.7 đến 23.0m cho cấp tốc độ 80km/h có 4 làn xe; 28.2 đến 30.5m cho 6 làn xe cho vùng đồng bằng và vùng đồi thấp.
Nếu vùng đồi cao và núi điều kiện địa hình khó khăn có thể giảm 0.5 đến 1.0 của dải phân cách giửa và mỗi bên lề phải giảm đi khoảng 0.5m.
5. Số làn xe được xác định tùy thuộc vào lưu lượng xe thực tế yêu cầu ở năm tính toán. Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam với cấp tốc độ 80km/h chỉ nên bố trí 4 làn xe và cấp tốc độ 100km/h là 6 làn xe, chỉ sử dụng 8 làn xe cho cấp tốc độ 120km/h ở điều kiện thuận lợi ở vùng đồng bằng, tuy nhiên cần tiến hành so sánh hiệu quả kinh tế trước khi quyết định 8 hay 6 làn.
Expressway.

luonggiacat
19/09/07, 11:55 AM
Những thông tin của Expressway thật là bổ ích. Tuy nhiên những vấn đề này nhiều tác giả của các sách đã nêu. Expressway thể thay việc ngồi đánh chúng bằng cách nêu tên sách đó lên để nhiều bạn có thể tìm và cùng tham khảo được không???
Thân chúc!!!

Expressway
19/09/07, 03:03 PM
Những thông tin của Expressway thật là bổ ích. Tuy nhiên những vấn đề này nhiều tác giả của các sách đã nêu. Expressway thể thay việc ngồi đánh chúng bằng cách nêu tên sách đó lên để nhiều bạn có thể tìm và cùng tham khảo được không???
Thân chúc!!!

Đường cao tốc là một chuyên đề mà mình đang nghiên cứu, trong quá trình tìm hiểu, tổng hợp, phân tích từ nhiều tài liệu, và các nguồn thông tin khác nhau (Internet, báo chí...) chứ không từ một tài liệu nào cả! Sau đó với sự hỗ trợ của một Nhóm sinh viên 04KX1 (là các thành viên của Nhóm Sinh viên BKX3), từ những nghiên cứu (sưu tầm - xử lý) chép tay của mình, các bạn ấy chuyển thành file Word cho Đề tài này, từ đó mình mới post lên diễn đàn chia sẽ thông tin cùng với các bạn, chứ mình đâu có nhiều thời gian ngồi mà đánh phải không nào? Nhưng nếu có thời gian mình cũng sẽ tự làm việc đấy!
Trong tuần, mình có chủ trì từ 3 đến 4 buổi về chuyên đề Cầu đường cùng với các sinh viên ngành Kinh tế Xây dựng, trong đó có bàn về Đường cao tốc, Mỹ học Đường ôtô, nếu quan tâm Lượng có thể tới tham gia tại Trụ sở của Nhóm mình nhé!
Tài liệu của Đường cao tốc,thường rất ít, Thầy Thọ có cho mình mượn một số cuốn, các bạn muốn tìm hiểu và nghiên cứu về Nó, thì tới mình sẽ đưa cho các bạn photo để tham khảo.
Còn trên diễn đàn chúng ta sẽ trao đổi với nhau những thông tin cần thiết nhất về vấn đề này! các nghiên cứu của mình trong thời gian tới về Đường cao tốc, mình sẵn sàng chia sẽ với các bạn ở chuyên mục này! OK?
Thân!

luonggiacat
19/09/07, 04:16 PM
Oh, vậy thì diễn đàn của chúng ta có thêm một người đam mê về đường cao tốc rồi.
Mình cũng có mấy tài liệu về đường cao tốc nhưng mình lại không đam mê chuyên sâu về cái này. Tuy nhiên, mình sẽ theo dõi chuyên mục này thường xuyên để có thêm một chút ít kiến thức. Hi vọng diễn đàn có nhiều thành viên có niềm đam mê như Expressway để mục này thêm sôi nổi.
Thân!!!

RememberForEver
19/09/07, 04:23 PM
Mình xin được hỏi bạn Expressway: tốc độ mà bạn nói 80, 100, 120 km/h là tốc độ tối đa hay tối thiểu thế? Các nước có thống nhất với nhau vè vấn đề ấy khong? Cám ơn bạn.

Expressway
19/09/07, 08:43 PM
Mình xin được hỏi bạn Expressway: tốc độ mà bạn nói 80, 100, 120 km/h là tốc độ tối đa hay tối thiểu thế? Các nước có thống nhất với nhau vè vấn đề ấy khong? Cám ơn bạn.

- Tốc độ xe thiết kế hay còn gọi là tốc độ xe tính toán là một trong các yếu tố cơ bản quyết định việc thiết kế hình học đường ôtô, là căn cứ chủ yếu dùng để thiết kế các bộ phận bị hạn chế của các cấp đường (như bán kính đường cong, độ dốc dọc,...). Đó chính là tốc độ tối đa mà người lái xe bình thường bảo đảm lái xe an toàn, thoải mái trong điều kiện thời tiết tốt, mật độ giao thông nhỏ.
- Tốc độ xe thiết kế là tốc độ tạo ra đặc tính bên ngoài của đường oto có ảnh hưởng tới việc chạy xe và xác lập mối tương quan giữa các bộ phận đường, đồng thời còn liên quan tới tầm quan trọng và tính kinh tế của tuyến đường.
- Tốc độ xe thiết kế phải phù hợp với loại hình đường, đặc trưng khu vực, là một trong các thước đo chất lượng phục vụ của đường, được xác định với yêu cầu thỏa mãn việc xe chạy an toàn, êm thuận, và phụ thuộc vào tính chất tuyến đường, địa hình, địa mạo, thi công khó hay dễ, tính kinh tế của tuyến đường.
Với 3 ý này sẽ giúp cho bạn hiểu được "80, 100, 120 km/h là tốc độ tối đa hay tối thiểu thế?" rồi nhé!
Còn "Các nước có thống nhất với nhau vè vấn đề ấy khong?", mình sẽ nói như thế này để cho bạn tự so sánh và dễ hiểu này!
Khi bạn làm Đồ án thiết kế đường 1, Thầy chỉ giao cho bạn một tốc độ thiết kế của tuyến đường đó là 60km/h hoặc 40km/h...chứ Thầy không nói gì thêm đó là tốc độ tối đa hay tối thiểu gì cả phải không nào? Mà bạn gặp các từ "tối đa" hay "tối thiểu" ở đâu nào? Chỉ gặp ở bán kính đường cong thôi phải không ạ? Bạn để ý lại xem có đúng như vậy không nhé! Vậy vì sao lại có 3 loại: Bán kính đường cong tối thiểu giới hạn, tối thiểu thông thường, tối thiểu không siêu cao. Là vì như thế này:
+ Loại bán kính tối thiểu giới hạn là trị số nhỏ nhất của bán kính đường cong (đang nói đến cong nằm nhé) dùng cho địa hình cực kỳ khó khăn, điều kiện rất hạn chế, và buộc phải bố trí siêu cao tối đa.
+ Loại tối thiểu không siêu cao là chỉ bán kính đường cong tương đối lớn, lực ly tâm nhỏ, lực masat của mặt đường khi xe chạy trên làn phía ngoài đường hai mái vẫn đủ đảm bảo xe chạy an toàn, ổn định.
+ Loại tối thiểu thông thường là bán kính tối thiểu mà xe chạy với tốc độ thiết kế mình nói ở trên (tốc độ tính toán) được an toàn, êm thuận trong điều kiện bình thường!
Mình hơi dài dòng chổ này một chút, là muốn bạn hiểu được ý của mình, vì sao người ta lại dùng "tối đa" hay "tối thiểu" cho bán kính đường cong, còn khi nói đến tốc độ thiết kế thì người ta lại không nối đấy là tốc độ tối đa hay tối thiểu! Vì thế Các nước trên thế giới họ không tranh cãi về vấn đề tốc độ thiết kế này là tối đa hay tối thiểu? Mà về căn bản dựa trên 3 ý đầu tiên mình đã nêu, tùy theo mỗi Nước, họ sẽ có các cấp tốc độ thiết kế khác nhau (như mình đã thống kê một vài tiêu chuẩn của các Nươc trên Thế giới trong bài viết đầu của topic này đấy, bạn xem lại nhé!)
Nếu các bạn đang lam đồ án thiết kế đường 1 thì có rất nhiều vấn đề cần phải bàn đấy! Thực ra các Nươc phát triển trên thế giới thì họ không phân biệt hẳn đường cao tốc và đường oto như Nước ta! nên mình sẵn sàng trao đổi với các bạn về các vấn đề thiết kế đường qua đồ án thiết kế đường 1 qua topic này nhé!
Chúc bạn vui, học tốt!
Thân!

phgpc
19/09/07, 09:17 PM
Tốc độ xe thiết kế hay còn gọi là tốc độ xe tính toán... Đó chính là tốc độ tối đa mà người lái xe bình thường bảo đảm lái xe an toàn, thoải mái trong điều kiện thời tiết tốt, mật độ giao thông nhỏ.

becon cũng xin có ý kiến:
- Tốc độ thiết kế là tốc độ mà từ đó tính toán các giá trị cực hạn để thiết kế các bộ phận của đường như bán kính đường cong (tối thiểu), độ dốc dọc (tối đa),... Từ những giá trị cực hạn này, ta cần thiết kế tuyến đảm bảo cho xe có khả năng chạy với vận tốc lớn hơn hoặc bằng vận tốc thiết kế (trong trường hợp bất lợi nhất thì vận tốc xe chạy lý thuyết sẽ bằng tốc độ thiết kế - và cũng chưa nói đến vận tốc thực của dòng xe trên đường). Như vậy, tốc độ thiết kế là giá trị giới hạn dưới, là giá trị nhỏ nhất để khi thiết kế tất cả các xe đều chạy được với vận tốc lớn hơn hoặc bằng vận tốc này.
- Chính vì lý do này, khi giao đồ án, các thầy không nói đó là tốc độ tối đa hay tối thiểu, vấn đề là tụi mình sẽ nghĩ thế nào thôi, và hiểu tốc độ thiết kế dùng để làm gì.
becon chỉ biết có thế thôi, mọi người chỉ bảo thêm. À, còn vấn đề này nữa, ở nước ta có cho phép xây dựng đường cao tốc trong đô thị không nhỉ, giống như Nhật ấy. Bác Expressway đã có so sánh rồi, chia sẻ cho becon và mọi người nhé! Chúc bác làm chuyên đề tốt!

Expressway
19/09/07, 09:32 PM
OK! mình hoàn toàn đồng ý với becon: "khi giao đồ án, các thầy không nói đó là tốc độ tối đa hay tối thiểu, vấn đề là tụi mình sẽ nghĩ thế nào thôi, và hiểu tốc độ thiết kế dùng để làm gì"

Trích dẫn lời becon: "nước ta có cho phép xây dựng đường cao tốc trong đô thị không nhỉ, giống như Nhật ấy. Bác Expressway đã có so sánh rồi, chia sẻ cho becon và mọi người nhé!"

Vì sao lại không nhỉ? Nếu Nhật làm được thì chúng ta cũng hoàn toàn làm được chứ! Việc chúng ta có làm được như Nhật không thì phụ thuộc tất cả vào thế hệ thanh niên chúng ta đấy các bạn! Vậy khi nào chúng ta làm được điều đó! Khi chúng ta giàu có như Nhật, chúng ta có trình độ công nghệ như Nhật!...Mà muốn có điều này, thì nào các bạn! chúng ta hãy lao vào học tập, nghiên cứu, học hỏi, say mê làm việc như người Nhật nhé! Đất Nước đang trông chờ vào chúng ta đấy! Thế hệ sinh viên 8X Việt Nam, trong thời đại HỒ CHÍ MINH! " Hãy Học tập-say mê làm việc và cống hiến nhé!" để phát triển và cho sự phát triển!

nbc
19/09/07, 09:58 PM
Mình xin được hỏi bạn Expressway: tốc độ mà bạn nói 80, 100, 120 km/h là tốc độ tối đa hay tối thiểu thế? Các nước có thống nhất với nhau vè vấn đề ấy khong? Cám ơn bạn.


- Tốc độ xe thiết kế hay còn gọi là tốc độ xe tính toán là một trong các yếu tố cơ bản quyết định việc thiết kế hình học đường ôtô, là căn cứ chủ yếu dùng để thiết kế các bộ phận bị hạn chế của các cấp đường (như bán kính đường cong, độ dốc dọc,...). Đó chính là tốc độ tối đa mà người lái xe bình thường bảo đảm lái xe an toàn, thoải mái trong điều kiện thời tiết tốt, mật độ giao thông nhỏ.




- Tốc độ thiết kế là tốc độ mà từ đó tính toán các giá trị cực hạn để thiết kế các bộ phận của đường như bán kính đường cong (tối thiểu), độ dốc dọc (tối đa),... Từ những giá trị cực hạn này, ta cần thiết kế tuyến đảm bảo cho xe có khả năng chạy với vận tốc lớn hơn hoặc bằng vận tốc thiết kế (trong trường hợp bất lợi nhất thì vận tốc xe chạy lý thuyết sẽ bằng tốc độ thiết kế - và cũng chưa nói đến vận tốc thực của dòng xe trên đường). [B]Như vậy, tốc độ thiết kế là giá trị giới hạn dưới, là giá trị nhỏ nhất để khi thiết kế tất cả các xe đều chạy được với vận tốc lớn hơn hoặc bằng vận tốc này.



OK! mình hoàn toàn đồng ý với becon: [I]"khi giao đồ án, các thầy không nói đó là tốc độ tối đa hay tối thiểu, vấn đề là tụi mình sẽ nghĩ thế nào thôi, và hiểu tốc độ thiết kế dùng để làm gì"

Vấn đề các bạn đang trao đổi rất thú vị: quan điểm về tốc độ thiết kế.
Theo nbc đây là vấn đề tối quan trọng cần làm rõ ngay từ những bước lựa chọn đầu tiên, là tiền đề để tính toán các chỉ tiêu kỹ thuật của một tuyến đường. Một con đường sẽ có hình hài ra sao? Sử dụng các giải pháp kỹ thuật và công trình ở mức nào? Dùng nguồn vốn đầu tư ra sao? Hàng loạt các vẫn đề sau này diễn ra trong quá trình khai thác hàng chục năm của tuyến đường, hàng tăm tỉ, thậm chí hàng ngàn tỉ, chục ngàn tỉ đồng chi phí khai thác; vấn đề tai nạn giao thông trên đường...cũng từ đây mà ra.

Vì vậy, phải xác định rất rõ vấn đề tốc độ thiết kế là gì?

Xin được dẫn ra đây khái niệm về tốc độ thiết kế theo TCVN 4054:2005 để làm rõ hơn phần nào vấn đề này.

http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i1363_TocDoTK.JPG

Tốc độ thiết kế đường xác định trong các Tiêu chuẩn thiết kế dựa vào cấp thiết kế của tuyến, điều kiện địa hình, lưu lượng xe thiết kế, đó là những căn cứ hợp pháp. Trước đây, cũng có thể có chuyện giao đồ án các GV giao luôn tốc độ thiết kế, song hiện nay vấn đề này đã hoàn toàn khác. Tốc độ thiết kế là chỉ tiêu kỹ thuật đầu tiên, do chính Chủ nhiệm đồ án đề xuất chiếu theo Tiêu chuẩn thiết kế và các căn cứ cụ thể của đồ án. Xin các bạn hết sức lưu tâm.

tdh
20/09/07, 11:56 AM
Thưa Thầy nbc, sau khi đọc đoạn trích trong TCVN 4054:2005 do Thầy gửi lên thì em có một số nhận xét cá nhân sau, không biết đã rõ ràng và chính xác chưa, mong Thầy góp ý:

- Theo tiêu chuẩn thì tốc độ thiếu kế là tốc độ dùng để thiết kế các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu của đường trong trường hợp khó khăn, còn tốc độ lưu hành thì tùy điều kiện thực tế của đường do cơ quan quản lý đường quy định (Trích tiêu chuẩn), Vậy tốc độ thiết kế là tốc độ là tốc độ an toàn ứng với điều kiện bất lợi nhất cho đường và phương tiện tham gia giao thông?
- Thực tế thì cơ quan quản lý đường thường cho phép đi tốc độ thấp hơn tốc độ thiết kế để tăng hệ số an toàn cho các phương tiện tham gia giao thông? Có trường hợp nào cho đi tốc độ vượt quá tốc độ thiết kế không?
- Theo em thấy thường khi thiết kế người ta thường kể đến hệ số an toàn, vậy ứng với tốc độ thiết kế, hợp pháp là theo TCVN, vậy chẳng lẽ không có hệ số an toàn nào? Khi đi vượt quá tốc độ đó thì sẽ nguy hiểm chăng ? (Tốc độ thiết kế là ngưỡng min hay max, hệ số an toàn kể đến ở đây là gì? )

Thực sự sau khi đọc bài bàn về vận tốc thiết kế này em đang hiểu ở mức độ trung bình thấp, mong Thầy giúp em có thêm một số ví dụ để làm sáng tỏ vấn đề này hơn !

Chúc Thầy sức khỏe !

1792810
21/09/07, 08:00 AM
Theo cách hiểu của mình thì vận tốc thiết kế (Vtk) cho 1 con đường là vận tốc tối đa 1 xe ô tô có thể đạt được trên con đường đó trong điều kiện thời tiết, ma sát bánh xe với mặt đường bình thường.

Như vậy Vtk được chọn dựa trên đặc tính kĩ thuật của ô tô, điều kiện địa hình, thời tiết, … Vtk được chọn tương ứng với mỗi cấp hạng đường. Vtk thường có trong TCTK.

Các yếu tố hình học giới hạn của con đường là các yếu tố được chọn sao cho khi xe chạy an toàn với Vtk trong điều kiện bình thường. Các tính toán này được trình bày cụ thể trong các sách giáo khoa về thiết kế đường. Các giá trị giới hạn này chỉ thiết kế cho trường hợp địa hình khó khăn nhất. Câu trong TCVN 4054:2005: “Tốc độ thiết kế là tốc độ được dùng để tính toán các chỉ tiêu kĩ thuật chủ yếu của đường trong trường hợp khó khăn” là có ý như vậy.

Ví dụ trường hợp sau: ứng với Vtk =80km/h, bán kính đường cong tối thiểu cho đường núi là 250 m nhưng trong qúa trình thiết kế nếu có thể nên thiết kế > 250m. Trong trường hợp không, ta chọn giá trị cuối cùng là 250m, nhưng không thể thấp hơn.

Trong quá trình vận hành khai thác, cơ quan quản lý chọn tốc độ lưu hành phụ thuộc vào tình trạng thực tế của con đường, phụ thuộc vào thời tíêt, các thông số kĩ thuật thực tế của đường,…

1792810
21/09/07, 08:18 AM
Bạn Expressway.

Hiểu 1 cách đơn giản, đường cao tốc (ĐCT) là đường ô tô có những đặc tính kĩ thuật vượt trội so với đường bộ thông thường, đảm bảo cho phương tiện tham gia giao thông vận hành an toàn với vận tốc lớn, đáp ứng nhu cầu trao đổi về kinh tế, văn hóa, chính trị giữa các vùng, thành phố. Các thông số kĩ thuật của ĐCT do mỗi nước nghiên cứu đưa ra qui định phù hợp với điều kiện trong nước và tiêu chuẩn chung thế giới. Từ các thông số đó, các chuyên gia trong lĩnh vực giao thông mới nghiên cứu sâu các biện pháp, qui định cụ thể khi thiết kế và thi công (ban hành thành tiêu chuẩn) để đảm bảo những thông số kĩ thuật đó. Ví dụ để xe chạy an toàn với Vtk=120 km/h thì phải đảm bảo bán kính cong tối thiểu bao nhiêu? Có được thiết kế siêu cao hay không? Độ dốc dọc tối đa thế nào? Giao cùng mức hay khác mức? .v.v.

Vậy vấn đề mà Expressway muốn đem ra thảo luận là gì? Nếu là góp ý, thảo luận hoàn thiện TCTK đường cao tốc ở VN, bạn có thể chọn cụ thể hơn? Ví dụ: Khi nào thì quyết định xây dựng đường cao tốc? Vận tốc thiết kế chọn cho đường cao tốc VN là bao nhiêu là tối ưu? Bao nhiêu làn xe? Chiều rộng mỗi làn xe bao nhiêu? Kết cấu áo đường nào hợp lý nhất? Vật liệu sử dụng cho kết cấu mặt khả thi nhất ở VN ? .v.v.

Các thống kê bạn đưa ra rất bổ ích nhưng mới dừng ở những thống kê và so sánh. Nếu không phải bí mật, bạn có thể chia sẻ cùng mọi người những hướng nghiên cứu của bạn trong thời gian sắp tới về ĐCT để mọi người cùng tham gia thảo luận được không?

Mong đuợc trao đổi nhiều hơn!

Expressway
21/09/07, 11:20 AM
Theo cách hiểu của mình thì vận tốc thiết kế (Vtk) cho 1 con đường là vận tốc tối đa 1 xe ô tô có thể đạt được trên con đường đó trong điều kiện thời tiết, ma sát bánh xe với mặt đường bình thường.

Như vậy Vtk được chọn dựa trên đặc tính kĩ thuật của ô tô, điều kiện địa hình, thời tiết, … Vtk được chọn tương ứng với mỗi cấp hạng đường. Vtk thường có trong TCTK.

Các yếu tố hình học giới hạn của con đường là các yếu tố được chọn sao cho khi xe chạy an toàn với Vtk trong điều kiện bình thường. Các tính toán này được trình bày cụ thể trong các sách giáo khoa về thiết kế đường. Các giá trị giới hạn này chỉ thiết kế cho trường hợp địa hình khó khăn nhất. Câu trong TCVN 4054:2005: “Tốc độ thiết kế là tốc độ được dùng để tính toán các chỉ tiêu kĩ thuật chủ yếu của đường trong trường hợp khó khăn” là có ý như vậy.

Ví dụ trường hợp sau: ứng với Vtk =80km/h, bán kính đường cong tối thiểu cho đường núi là 250 m nhưng trong qúa trình thiết kế nếu có thể nên thiết kế > 250m. Trong trường hợp không, ta chọn giá trị cuối cùng là 250m, nhưng không thể thấp hơn.

Trong quá trình vận hành khai thác, cơ quan quản lý chọn tốc độ lưu hành phụ thuộc vào tình trạng thực tế của con đường, phụ thuộc vào thời tíêt, các thông số kĩ thuật thực tế của đường,…


1792810: "Theo cách hiểu của mình thì vận tốc thiết kế (Vtk) cho 1 con đường là vận tốc tối đa 1 xe ô tô có thể đạt được trên con đường đó trong điều kiện thời tiết, ma sát bánh xe với mặt đường bình thường". Mình bổ sung thêm ý này nữa "với một người lái xe bình thường".

Expressway
21/09/07, 08:25 PM
Ở chuyên mục này, mình sẽ cùng theo với các bạn trong nội dung của Đồ án thiết kế đường 1của khóa 04X3 nhé! Chúng ta sẽ lần lượt trao đổi về các vấn đề: Các chỉ tiêu Kỹ thuật trong thiết kế đường; Thiết kế tuyến trên Bình đồ, tuyến trên mặt cắt dọc (thiết kế trắc dọc), mặt cắt ngang,.. như theo đúng trình tự nội dung đồ án thiết kế đường 1 của các bạn đấy! Ngoài ra chúng ta sẽ mở rộng để bàn thêm cho đường cao tốc, chẳng hạn thiết kế tổng hợp tuyến đường cao tốc, vấn đề phân tích hình phối cảnh tuyến đường (điều này rất quan trọng khi thiết kế đường cao tốc...), bàn về thiết kế tuyến Clothoid, rồi cũng bàn thêm về mỹ học đường oto nữa (cách nhìn con đường theo quan điểm mỹ học - kiến trúc) và nhiều vấn đề khác xung quanh đường cao tốc! OK?
Thời gian tới mình cũng hơi bận rộn (năm cuối rồi mà) nên không có điều kiện ngồi đánh máy để viết bài, gửi bài được (thây mất thời gian quá) nhưng bạn tdh sẽ giúp mình làm chuyện này! Các bạn có đồng ý phát triển chuyên mục này cho những mục đích đấy không ạ?
Thân! Expressway

nbc
21/09/07, 11:10 PM
Theo cách hiểu của mình thì vận tốc thiết kế (Vtk) cho 1 con đường là vận tốc tối đa 1 xe ô tô có thể đạt được trên con đường đó trong điều kiện thời tiết, ma sát bánh xe với mặt đường bình thường.


Quan điểm này về tốc độ thiết kế (Vtk) của bạn 1792810 tương tự như quan điểm trong Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô TCVN 4054:1985.

Theo tiêu chuẩn này, khái niệm tốc độ tính toán là "tốc độ lớn nhất của xe đơn chiếc có thể chạy an toàn trong điều kiện bình thường do sức bám bánh xe ô tô trên mặt đường (mặt đường ở trạng thái khô ráo hoặc ẩm sạch)".

Sau 13 năm áp dụng tiêu chuẩn này (đến năm 1998), có một số vấn đề đã được tổng kết trong thực tiễn thiết kế và khai thác đường:

1. Xe đơn chiếc ở đây là loại xe nào? Trong dòng xe lưu thông trên đường có nhiều loại ô tô rất khác nhau, được phân làm các nhóm chính:

- Xe con (dưới 9 chỗ ngồi).
- Xe tải nhẹ.
- Xe tải trung.
- Xe tải nặng.
- Xe buýt (khách) nhỏ.
- Xe buýt (khách) vừa.
- Xe buýt (khách) lớn.
- Xe sơ-mi rơ-moóc.
- Xe kéo moóc.

Vậy người thiết kế sẽ chọn loại xe nào để thiết kế các yếu tố của đường? Một khó khăn cho người KS thiết kế và thẩm định dự án.

2. Tốc độ tính toán là tốc độ tối đa mà xe đơn chiếc có thể đạt được trong điều kiện bình thường; vậy trong điều kiện "không bình thường" tốc độ này sẽ là bao nhiêu?

3. Rất nhiều đồ án thiết kế đã chọn tốc độ tính toán là 60, 80 km/h, song rất nhiều đoạn tuyến người kỹ sư thiết kế đã thiết kế tuyến có tốc độ tính toán chỉ đạt 15 - 20 km/h (do không có quy định về tốc độ tối thiểu). Hệ số an toàn (Kat) trong trường hợp này là cực kỳ nhỏ.
Ví dụ: Kat=20/60=0,33 hoặc Kat=20/80=0,25. Theo quan điểm đánh giá mức độ an toàn giao thông của đường bằng hệ số an toàn thì những đoạn có tốc độ thay đổi đột ngột như trên được liệt vào loại rất nguy hiểm.
Thực tế là hiện nay chúng ta hiện vẫn đang phải sử dụng nhiều đoạn tuyến Quốc lộ có Kat như trên do những sản phẩm thiết kế theo TCVN 4054:1985 để lại. Việc không có quy định một giới hạn cận dưới của tốc độ tính toán ở đây góp phần là làm cho người kỹ sư thiết kế đường dễ tùy tiện trong những đồ án của mình.

Expressway
28/09/07, 04:52 PM
Ngoài Tốc độ xe thiết kế ra, chúng ta cũng cần phải kể đến một số căn cứ khác không kém phần quan trọng để thiết kế đường oto và đường oto cao tốc nói riêng, đó là: Giới hạn kiến trúc và phạm vi sử dụng đất; lưu lượng giao thông; năng lực thông hành; loại hình xe thiết kế...mỗi căn cứ như vậy, có rất nhiều vấn đề mà ta phải bàn về Nó. Trước khi thiết kế đường oto nếu các bạn hiểu được các căn cứ để thiết kế là một điều rất tốt. Không biết các bạn khóa 04X3 đã bắt tay vào làm Đồ án thiết kế đường chưa, mà không thấy bàn nhiều ở chuyên mục này nhỉ?

GTHN
28/07/08, 10:54 AM
Có bạn nào có cắt ngang đại diện của đường cao tốc không cho mình xin với " Đường cao tốc rộng khoảng 57m thì tốt nhất"

SmallBird
02/10/08, 04:37 PM
Theo mình được biết thì ở Việt Nam hiện nay số lượng đường cao tốc chỉ đếm trên đầu ngón tay (gần như là chưa có) bởi vì yêu cầu của một tuyến đường cao tốc thật sự đó là các nút giao phải là nút giao khác mức và chỉ cho phép xe vào đường tại một số điểm nhất định. Chỉ với yêu cầu này thôi thì các tuyến đường được gọi là "cao tốc" hiện nay vẫn chưa đáp ứng được. Ngoài ra vấn đề về tốc độ tối thiểu trên đường cũng chưa được chú ý đúng mức, nhất là trong vấn đề khai thác.
Và một vấn đề nữa cũng cần phải quan tâm đó là ý thức giao thông của dân mình!
Do vậy theo mình thì trong việc thiết kế một tuyến đường cao tốc chuẩn đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuât thì cũng cần phải có phương án khai thác sao cho phù hợp với điệu kiện Việt Nam. Có như thế mới phát huy được công năng của đường cao tốc và góp phần phát triển kinh tế nhước nhà.
--> đây là một bài toán khó đấy.

thienlong_gtk45
02/10/08, 11:13 PM
Em đang làm đề tài:"Nghiên cứu kích thước hình học của đường sắt cao tốc".Lên mạng mấy ngày hôm nay rồi mà vẫn chưa tìm được tài liệu viết về chuyên đề này.Hic.Em cũng biết ở nước ta,so với Đường Bộ thì Đường Sắt kém phát triển hơn nên có lẽ tài liệu cũng ít hơn.Anh chị,thầy cô nào có tìa liệu thì giúp em với,em đang học lớp ĐS_Trường GT.Thanks mọi người nhìu.

thienlong_gtk45
02/10/08, 11:16 PM
Em tìm mãi nhưng trang của trường không có chuyên mục nào dành cho Đường Sắt cả nên em đành vào chuyên mục của Đường Bộ.Mong mọi người thông cảm.

thienlong_gtk45
02/10/08, 11:20 PM
Em chào thầy nbc,em đang làm chuyên đề:"Nghiên cứu kích thước hình học của đường sắt cao tốc" nhưng tìm tài liệu về nó khó quá,hầu như là không có.Hic.Thầy có thể giúp em được không ạ?Em cảm ơn thầy.

nbc
03/10/08, 12:02 AM
Em chào thầy nbc,em đang làm chuyên đề:"Nghiên cứu kích thước hình học của đường sắt cao tốc" nhưng tìm tài liệu về nó khó quá,hầu như là không có.Hic.Thầy có thể giúp em được không ạ?Em cảm ơn thầy.

Buồn thật, nbc lại mới chỉ nghiên cứu về đường bộ nên đường sắt quả là chưa có nhiều khái niệm. Chắc sau ngày hôm nay cũng thử lục lọi, học hỏi thêm 1 chút xem sao.

Nếu có tài liệu gì về đường sắt (cao tốc), chắc chắn nbc sẽ chia sẻ ngay với bạn.

cut_ca_cut_kit
07/11/08, 12:30 AM
Em chào thầy NBC. Em đang làm nghiên cứu về thiết kế tuyến clothoid. thày có thể giới thiệu cho em một số nguồn tài liệu về vấn đề này không ạ. Em rất mong nhận đc sự giúp dỡ của thầy

nganphoansi
10/10/11, 05:30 PM
Trước tiên xin được bàn về khái niệm đối với đường ô tô cao tốc. Luật Giao thông đường bộ Việt Nam trong phần giải thích từ ngữ (Điều 3) định nghĩa “Đường cao tốc là đường chỉ dành cho xe cơ giới chạy với tốc độ cao, có giải phân cách chia đường cho xe chạy theo hai chiều ngược nhau riêng biệt và không giao cắt cùng mức với các đường khác”. Do vậy, nhiều người vẫn nghĩ đơn giản đường ô tô cao tốc được xây dựng để cho ô tô chạy với tốc độ cao thì phải có tốc độ thiết kế cao hơn các loại đường khác hay chí ít thì cũng phải trên 100 km/h vì đường cấp III đã có tốc độ thiết kế là 80km/h. Chính vì cách nghĩ đó mà cách đây vài năm, khi bàn về đoạn tuyến Cam Lộ - Túy Loan để nối thông đường Hồ Chí Minh trước mắt và sẽ là cao tốc trong tương lai , nhiều người vẫn cho rằng không thể lựa chọn hướng tuyến của đoạn này đi qua Nam Đông, đèo Mũi Trâu, đèo Đê Bay vì như vậy sẽ có những đoạn chỉ thỏa mãn tốc độ thiết kế 80 hoặc thấp hơn là 60 km/h. Những người này đặt câu hỏi: “ Làm đường cao tốc mà chỉ đạt tốc độ thiết kế 60 km/h, không bằng tốc độ thiết kế của quốc lộ 1 hiện nay đã là 80 km/h, thì xây dựng mà làm gì? (!)”. Thế nhưng theo chúng tôi, định nghĩa của Luật giao thông đường bộ “chạy với tốc độ cao” cần được hiểu là tốc độ lữ hành trong quá trình vận tải đạt được cao, tức là thời gian chạy xe trên đường ô tô cao tốc sẽ được rút ngắn đáng kể so với chạy xe trên các đường ô tô thông thường khác, còn tốc độ thiết kế đối với đường ô tô cao tốc chỉ là một trong nhiều tiêu chí cần được chú ý chứ không phải là tiêu chí duy nhất, quyết định đến việc nâng cao tốc độ lữ hành, rút ngắn thời gian vận tải. Chính vì vậy mà Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô cao tốc TCVN 5729 - 1997 định nghĩa: “Đường cao tốc là đường chuyên dùng cho ô tô chạy với các đặc điểm sau: tách riêng hai chiều (mỗi chiều phải có tối thiểu hai làn xe); mỗi chiều đều có bố trí làn dừng xe khẩn cấp; trên đường có bố trí đầy đủ các lọai trang thiết bị, các cơ sở phục vụ cho việc đảm bảo giao thông liên tục, an toàn, tiện nghi và chỉ cho xe ra vào ở các điểm nhất định”. Theo khái niệm này thì tốc độ cao không phải là tiêu chí quan trọng của đường ô tô cao tốc mà tiêu chí tách riêng hai chiều xe chạy, đảm bảo giao thông liên tục và chỉ cho xe ra vào ở những điểm nhất định mới là những tiêu chí cơ bản và quan trọng nhất của đường ô tô cao tốc. Cũng theo Tiêu chuẩn nói trên thì đối với đường ô tô cao tốc loại A (được tiêu chuẩn chú thích bằng tiếng Anh là Freeway) có các cấp tốc độ thiết kế 80, 100 và 120 km/h, yêu cầu giao cắt khác mức với các đường khác là bắt buộc còn đối với đường cao tốc loại B (được tiêu chuẩn chú thích là Expressway) có các cấp tốc độ thiết kế 60, 80 và 100 km/h là không bắt buộc (trừ chỗ giao với đường sắt, đường ống).
Cả hai định nghĩa về đường ô tô cao tốc của Luật giao thông đường bộ[ và của TCVN 5729 - 1997 đều mới chỉ chú trọng về yêu cầu kỹ thuật mà chưa làm rõ chức năng phục vụ vận tải của hệ thống đường ô tô cao tốc. Mặc dầu quan niệm về đường ô tô cao tốc ở mỗi nước có những sự khác biệt nhau ít nhiều nhưng đều có chung một mục tiêu là làm đường ô tô cao tốc là để phục vụ vận tải đường dài bằng ô tô sao cho thời gian chạy xe được rút ngằn so với chạy xe trên đường ô tô thông thường. Yêu cầu kỹ thuật “tách riêng hai chiều xe chạy, đảm bảo giao thông liên tục và chỉ cho xe ra vào ở những điểm nhất định” chính là để đáp ứng mục tiêu rút ngắn thời gian chạy xe đối với vận tải đường dài bằng ô tô, loại phương tiện vận tải có nhiều lợi thế trong việc đáp ứng nhu cầu vận tải “dor to dor” nhưng thời gian hành trình thường kéo dài và khó đảm bảo do các trở ngại, vật cản, tránh, vượt v.v. trên đường làm cho tốc độ lữ hành bị hạn chế.
Xuất phát từ mục tiêu rút ngắn thời gian vận tải ô tô đường dài, một đoạn đường ô tô cao tốc đầu tiên trên thế giới được xây dựng thử nghiệm vào năm 1921 ở nước Đức. Đoạn thử nghiệm này có tên là AVUS, nằm ở phía Tây Nam thành phố Béc lin, có chiều dài 9km. Nhưng tuyến cao tốc được xây dựng và đưa vào khai thác đầu tiên trên thế giới vào năm 1924 lại là ở Ý. Đó là tuyến cao tốc dài 77km nối thành phố Milano và Lacs. Thuật ngữ chỉ đường cao tốc ở Ý là Autostrada. Năm 1929, thuật ngữ chỉ đường ô tô cao tốc ở Đức là Autobahn lần đầu tiên được R. Otzen sử dụng và thuật ngữ này được người Đức dùng cho đến ngày nay. Autobahn là từ ghép từ hai từ Auto (có nghĩa là ô tô) và Bahn (có nghĩa là một dải băng liên tục không bị ngắt quãng, không có vật cản). Cách dùng thuật ngữ này trong tiếng Đức tương tự như cách gọi đường sắt là Eisenbahn ( Eisen nghĩa là sắt), đường tàu điện bánh sắt trong thành phố là Strassenbahn (Strasse có nghĩa là đường phố), đường sắt nhẹ đô thị là S - Bahn (S là viết tắt của từ schnel, có nghĩa là nhanh), đường một chiều là Einbahnstrasse (Ein nghĩa là một) v.v. Đến năm 1932, con đường ô tô cao tốc đầu tiên được thông xe đưa vào sử dụng ở nước Đức là con đường cao tốc 4 làn xe nối 2 thành phố Bonn và Cô lô nhơ (Koeln). Giải phân cách giữa được thể hiện bằng các vạch kẻ liền và tốc độ thiết kế là 120 km/h, mặc dầu lúc bấy giờ, tốc độ thực tế đạt được của ô tô còn thấp hơn nhiều.
Đến nay, khi đường ô tô cao tốc được nhiều nước trên thế giới xây dựng và khai thác thì quan niệm đối với loại đường này đã có những khác biệt ít nhiều và do đó, thuật ngữ và định nghĩa để chỉ loại đường này cũng không thống nhất. Ví dụ như nước Mỹ thì hệ thống Freeway được coi là hệ thống đường ô tô cao tốc có chức năng phục vụ vận tải đường dài giống như hệ thống Autobahn của Đức, và thuật ngữ Freeway (có khi dùng cả thuật ngữ Highway) chứa đựng nội dung tương tự như thuật ngữ Autobahn, còn Expressway ở Mỹ không tạo thành mạng hay hệ thống của liên bang mà chỉ phục vụ vận tải giữa hai thành phố nhất định có nhu cầu vận tải lớn. Về mặt yêu cầu kỹ thuật, Expressway không khắt khe như Freeway, nghĩa là vẫn có thể tổ chức giao cắt cùng mức, cưỡng bức bằng hệ thống đèn tín hiệu. Có thể coi Expressway của Mỹ tương tự như đường ô tô cao tốc loại B theo TCVN 5729 - 1997. Còn nước Pháp gọi đường ô tô cao tốc là autoroute theo cách dịch từ tiếng Ý autostrada ra tiếng Pháp và do đó, về mặt kỹ thuật cũng như tổ chức giao thông, Autostrada của Ý, Bồ đào nha, Thụy sĩ, Ba lan, Ru ma ni, Li băng hay Autobahn của Đức, Áo, Freeway của Anh, Mỹ, autoroute của Pháp, ...khá giống nhau. Trong khi đó, ở Trung Quốc và Nhật Bản thì đường ô tô cao tốc được gọi là “cao tốc công lộ”. Biển báo hiệu của hệ thống này ở Trung Quốc ngoài tiếng Trung Quốc còn có cả tiếng Anh và được dịch là Expressway nhưng về mặt tính chất kỹ thuật cũng như tổ chức giao thông lại giống như Freeway của Mỹ, Anh, hay Autobahn của Đức, Áo. Các chuyên gia của Trung Quốc cho biết là nếu dùng thuật ngữ Freeway thì người sử dụng của họ lại quan niệm đó là đường không thu phí(!?). Ngoài ra còn một số nước khác dùng thuật ngữ khác để chỉ đường ô tô cao tốc và theo đó, các đặc trưng kỹ thuật cũng có ít nhiều thay đổi theo. Úc, Canada, Niu Di Lân dùng thuật ngữ Highway để chỉ đường ô tô cao tốc (ở Mỹ cũng dùng cả thuật ngữ này), một số nước khác dùng các thuật ngữ như motorway (Brê ta nhơ) autopista (Tây Ban Nha) rodovia (Bra xin) dalnice ( Séc, Slovakia) autoput (Nam Tư cũ), autosnelweg (Bỉ), otoyol (Thổ Nhĩ Kỳ) v.v. Vì những lí do này nên đã không thể thống kê được toàn thế giới hiện nay có bao nhiêu ki lô mét đường cao tốc, mà chỉ có từng quốc gia thống kê được con số này theo quan niệm riêng của từng quốc gia đó.
Trong một vài thập kỷ gần đây còn xuất hiện thêm khái niệm đường ô tô cao tốc đô thị, hay còn gọi là đường cao tốc thành phố để giải quyết vấn đề giao thông ở các thành phố lớn, đông dân và số lượng ô tô ngày càng tăng lên. Do phải xây dựng trong khu vực đông dân cư, mật độ giao thông lớn nên cự li giữa các điểm bố trí cho xe ra vào đối với đường cao tốc thành phố ngắn hơn nhiều so với đường ô tô cao tốc thông thường. Mặt khác, do quĩ đất bị hạn chế, chi phí giải phóng mặt bằng lớn nên các giải pháp công trình như cầu cạn, đường trên cao, hầm chui được sử dụng cũng nhiều hơn.
Tuy khác biệt nhau ít nhiều về quan niệm, về cách gọi và do đó có khác biệt nhau về tiêu chuẩn hình học, yêu cầu kỹ thuật nhưng tất cả đều chung một mục tiêu là làm đường ô tô cao tốc(trừ đường cao tốc đô thị) là để phục vụ vận tải đường dài bằng ô tô sao cho thời gian chạy xe được rút ngắn so với chạy xe trên đường ô tô thông thường như đã phân tích ở trên.

Cũng do quan niệm về kỹ thuật và mục tiêu vận tải có khác biệt nhau, điều kiện các mặt về xây dựng khác nhau nên giá thành xây dựng đường ô tô cao tốc của mỗi nước cũng khác nhau. Theo báo cáo thường niên được đăng trên các báo và công bố trên truyền hình của các nước châu Âu thì suất đầu tư bình quân cho một ki lô mét đường ô tô cao tốc (trong đó đường ô tô cao tốc 4 hoặc 6 làn xe có 2 làn đỗ khẩn cấp chiếm tỉ lệ chủ yếu, chi phí tính bình quân cho một ki lô mét kể cả các công trình trên đường như cầu vượt sông, cầu cạn, cầu sàn đạo, hầm ... và kể cả giải phóng mặt bằng và các chi phi khác như lập dự án, khảo sát thiết kế, giám sát, trang thiết bị trên đường cao tốc v.v.) ớ CHLB Đức là 6,7 triệu EUR/km, ở Hung ga ri là 8,2 triệu EUR/km, ở Bồ Đào Nha là 7,5 triệu EUR/km, còn ở Áo, nơi đang bị châu Âu phê phán là có suất đầu tư đối với đường ô tô cao tốc là đắt nhất châu Âu là 10,2 triệu EUR. Các chuyên gia của Áo thì cho rằng suất đầu tư đối với đường ô tô cao tốc là không thể đem ra để so sánh được. Họ lập luận rằng đường ô tô cao tốc ở Áo chịu chi phí đầu tư cho các trang bị và phụ kiện nhằm bảo vệ môi trường, chống ồn cho khu dân cư hai bên và đảm bảo an toàn cao hơn nhiều so với các nước châu Âu khác do yêu cầu đối với 2 vấn đề này ở Áo khắt khe hơn cũng như chi phí nhân công ở Áo cũng cao hơn. Mặt khác, nhiều đoạn cao tốc ở Áo phải đi dưới mặt đất cũng làm cho suất đầu tư tăng lên. Ví dụ như đoạn đi ngầm dưới một con phố ỏ thủ đô Viên có giá thành lên tới 35 triệu EUR/km hoặc đoạn chui qua sông Đa Nuýp vòng qua thủ đô Viên có giá thành lên tới 106 triệu EUR/km vì hầm đi dưới đất cho đường ô tô cao tốc ở khu vực đô thị đắt hơn nhiều hầm xuyên núi. trong khi đó thì một số đoạn khác ở vùng đồng bằng hay cao nguyên thì giá thành chỉ có 5,7 triệu EUR/km. Đầu năm 2008, Trung Quốc khánh thành đường ô tô cao tốc Nam Ninh - Bằng Tường có tiêu chuẩn mặt cắt ngang mỗi chiều gồm 2 làn xe và một làn đỗ khẩn cấp, tức là đường ô tô cao tốc hoàn chỉnh 4 làn xe. Theo công bố thì giá thành xây dựng đường ô tô cao tốc này chỉ là 2,8 triệu USD/Km.

Như đã trình bày ở các mục trên đây, tuy cùng chung một mục tiêu là để rút ngắn thời gian vận tải ô tô đường dài nhưng mỗi quốc gia có những quan niệm khác biệt nhau ít nhiều đối với đường ô tô cao tốc. Các đặc trưng, các tiêu chí được xác định từ các quan niệm này để xây dựng đường ô tô cao tốc không những có ảnh hưởng quyết định đến chi phí đầu tư xây dựng mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác vận tải cũng như chi phí bảo trì sau này. Thực tế của hoạt động xây dựng một số đoạn tuyến cao tốc vừa qua của chúng ta đã bước đầu thể hiện rõ dần những ảnh hưởng này. Đang tồn tại một nghịch lí là chúng ta thiết kế, xây dựng các tuyến đường bộ nói chung và các tuyến cao tốc nói riêng với tiêu chuẩn kỹ thuật, nhất là tiêu chuẩn về kích thước hình học, cấp tốc độ thiết kế khá cao, khá sang so với các nước nhưng lại cho phép chạy xe với tốc độ thấp hơn nhiều so với họ. Các ví dụ về đường ô tô cao tốc của Đức, Nhật Bản ... nêu dưới đây sẽ cho chúng ta thấy rõ thêm về vấn đề này.
Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện luật Xây dựng về quản lý chất lượng công trình xây dựng số 209/2004/NĐ-CP ban hành ngày 16 tháng 12 năm 2004 đã phân loại đường ô tô cao tốc các loại là một trong ba loại hình của công trình giao thông đường bộ (bao gồm: đường ô tô cao tốc các loại; đường ô tô, đường trong đô thị; đường nông thôn).Vì thế nên việc nghiên cứu, trao đổi để thống nhất quan niệm và các tiêu chí đối với việc xây dựng đường ô tô cao tốc , điều kiện cụ thể của Việt Nam cần được đặt ra và chúng cần được quy định hay nói cách khác là xác định rõ công năng , tính năng của loại công trình này trong Quy chuẩn xây dựng Việt Nam để công bố bắt buộc áp dụng cũng như làm cơ sở để soát xét bổ sung sửa đổi tiêu chuẩn TCVN 5729 - 1997.
Như trên đã phân tích, mặc dù đã có định nghĩa về đường ô tô cao tốc trong luật Giao thông đường bộ Việt Nam cũng như trong các tiêu chuẩn TCVN 5729-1991 và TCVN5729-1997 nhưng các định nghĩa này chỉ mới đề cập chủ yếu đến tính chất kỹ thuật của con đường nhằm đạt được tốc độ thiết kế cao. Yêu cầu cơ bản nhất quyết định các tính chất của con đường là công năng, hay nói cách khác là chức năng phục vụ vận tải của công trình đường ô tô cao tốc. Yêu cầu này vẫn chưa được xác định và qui định rõ trong các định nghĩa nói trên. Thuật ngữ “đường ô tô cao tốc” mà chúng ta đang sử dụng có nguồn gốc từ thuật ngữ của Trung Quốc “cao tốc công lộ” ( là thuật ngữ duy nhất trên thế giới dùng tốc độ để chỉ loại đường ô tô này) chỉ biểu đạt được khái niệm đường có tốc độ cao do yếu tố kỹ thuật của con đường mà không lột tả được công năng sử dụng cho ô tô chạy liên tục, không có xung đột trên đường để rút ngắn thời gian vận tải như thuật ngữ tiếng Ý “autostrada”, tiếng Đức “Autobahn”, tiếng Anh “freeway”, tiếng Pháp “autoroute” hay thuật ngữ của các nước khác như đã nêu ở phần 1. Có lẽ do thuật ngữ “đường ô tô cao tốc” được dùng phổ biến và chính thức trong các văn bản của nước ta nên nhiều người vẫn quan niệm không đầy đủ rằng yêu cầu quan trọng và cơ bản nhất của đường ô tô cao tốc là phải được xây dựng với tốc độ thiết kế cao hơn hẳn so với đường ô tô thông thường. Do quan niệm này nên các yêu cầu kỹ thuật, những yêu cầu thường góp phần làm tăng giá thành công trình, liên quan đến tốc độ thiết kế như yếu tố hình học của tuyến, số lượng làn xe, cường độ nền mặt đường, độ bằng phẳng ..., rất được coi trọng nhưng yêu cầu cơ bản nhất để đáp ứng chức năng phục vụ vận tải là yêu cầu tổ chức giao thông đối với toàn mạng, toàn hệ thống vận tải đường bộ, trong đó tất nhiên bao gồm cả đoạn tuyến cao tốc sẽ được xây dựng, lại ít được quan tâm, trừ yếu tố không giao cắt cùng mức với các đường khác. Yếu tố này nhiều khi bị lạm dụng và được coi như là giải pháp duy nhất để tổ chức giao thông liên tục cho con đường. Do vậy, định nghĩa đường ô tô cao tốc trước hết phải xuất phát từ công năng, chức năng của chúng là đáp ứng yêu cầu vận tải đường dài bằng ô tô sao cho thời gian chạy xe được rút ngắn tối đa so với chạy xe trên đường ô tô thông thường. Phải coi yêu cầu công năng, chức năng nói trên là yêu cầu cơ bản của lọai hình vận tải và loại hình công trình giao thông đường bộ đặc biệt này. Các yêu cầu về tính năng sẽ được xác định để đáp ứng yêu cầu công năng đó. Tiêu chí tốc độ cao không phải là tiêu chí cơ bản, lại càng không phải là tiêu chí quan trọng nhất mà chỉ là một trong nhiều tiêu chí của các yêu cầu về tính năng cần đạt được nhằm đáp ứng yêu cầu công năng đó.

Các yêu cầu về tính năng của đường ô tô cao tốc để đáp ứng yêu cầu về công năng bao gồm tốc độ thiết kế, các thông số của mặt cắt ngang bao gồm bề rộng làn xe, làn đỗ khẩn cấp, số lượng làn xe ..., điểm khống chế ra vào, các nút giao, yêu cầu về nền, mặt đường, biển thông tin, biển báo hiệu, ...
Trước hết là yêu cầu về tốc độ thiết kế. Mặc dầu tiêu chí tốc độ cao không phải là tiêu chí cơ bản nhưng cũng là một tiêu chí rất quan trọng. Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô cao tốc của Canada qui định tối thiểu là 100km/h, tối đa là 130km/h. Tiêu chuẩn kỹ thuật công trình đường bộ của Trung Quốc (JTG B01 - 2003) là 60, 80, 100 và 120 km/h. Qui chuẩn kết cấu đường bộ (Road structure Ordinance) của Nhật Bản qui định tốc độ thiết kế của đường cao tốc ngoài đô thị gồm 4 cấp là 60, 80, 100, 120km/h (trong điều kiện khó khăn có tốc độ thiết kế tương ứng với các cấp này là 50, 60, 80, 100), còn đường cao tốc đô thị gồm 2 cấp là 60 và 80km/h (trong điều kiện khó khăn là 50, thậm chí là 40, và 60km/h. Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô của Malaysia qui định tốc độ thiết kế đối với đường ô tô cao tốc ngoài đô thị cho vùng đồng bằng là 120km/h, vùng đồi là 100km/h, vùng núi là 80km/h, đối với đường cao tốc đô thị là 100, 80, 60km/h tùy thuộc vào mật độ tập trung dân cư, nhà cửa công trình và nhất là mức độ khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng. Tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô của Đức qui định tốc độ thiết kế đối với đường ô tô cao tốc ngoài đô thị (Autobahn) tối thiểu là 80km/h (trong điều kiện địa hình khó khăn là 70km/h), tối đa là 110km/h, còn đối với đường ô tô cao tốc đô thị (Stadtautobahn) là 70km/h (trong điều kiện khó khăn là 60km/h) và 100km/h. Xin được nói thêm là mặc dầu tốc độ thiết kế đối với Autobahn ngoài đô thị ở Đức chỉ là 70km/h, 80km/h hoặc tối đa là 110km/h nhưng trên Autobahn của nước Đức có thể chạy xe với tốc độ không hạn chế trừ khi trên bảng thông tin điện tử xuất hiện các con số màu đỏ yêu cầu hạn chế tốc độ do thời tiết, do đang sửa chữa, do ùn tắc, tai nạn ở phía trước ... Đây cũng là một ví dụ rất điển hình cho thấy sự khác biệt rất cơ bản giữa tốc độ thiết kế và tốc độ được phép chạy xe đối với đường ô tô. Tốc độ thiết kế là yếu tố đầu vào để lựa chọn các thông số hình học, độ nhám và độ bằng phẳng của mặt đường... sao cho trên những đoạn tuyến có điều kiện địa hình khó khăn và kể cả khi xuất hiện thêm những điều kiện xấu nhất thông thường khác (tất nhiên là không kể điều kiện mật độ, chủng loại tham gia giao thông hay các rủi ro bất thường...) việc chạy xe không vượt quá tốc độ thiết kế ở những đoạn đó vẫn đảm bảo an toàn. Tốc độ thiết kế được lựa chọn càng cao thì giá thành xây dựng càng cao, nhất là trong điều kiện địa hình, địa chất phức tạp và khó khăn của vùng đồi núi hoặc tốn kém trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng. Chính vì vậy mà tốc độ thiết kế đường ô tô cao tốc của Đức chỉ giới hạn tối đa đến 110km/h mặc dầu địa hình của nước Đức khá bằng phẳng, ít có đèo dốc hiểm trở, còn ở Nhật, nơi có địa hình bao gồm cả đồng bằng, ven biển và cả vùng đồi núi hiểm trở tương tự như nước ta thì tốc độ thiết kế tối thiểu đối với đường ô tô cao tốc được qui định khá bé, chỉ còn 50 hoặc thậm chí 40km/h. Do vậy, việc nghiên cứu để đưa ra con số tốc độ thiết kế đường ô tô cao tốc sao cho phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của Việt Nam là việc cần được khẩn trương tiến hành và thống nhất. Việc qui định tốc độ thiết kế đối với đường ô tô cao tốc loaị A là 80, 100, 120 km/h của TCVN 5729 - 1997 là chưa có cơ sở và có thể là còn cao, gây nên tốn kém trong đầu tư xây dựng, nhất là đối với điều kiện địa hình khó khăn và phức tạp của nước ta.
Vấn đề thứ hai thuộc về tính năng là các thông số hình học của mặt cắt ngang tiêu biểu bao gồm số lượng làn xe, bề rộng của các làn xe và làn đỗ khẩn cấp, bề rộng của giải phân cách giữa và giải an toàn. Theo qui định của Bộ Giao thông liên bang của nước Đức được thể hiện trong qui chuẩn đường ô tô, phần qui định về mặt cắt ngang mang kí hiệu RAS - Q96 (Richtlinien fuer die Anlage von Strassen, Teil: Querschnitte) ban hành năm 1996 thì mặt cắt ngang của đường ô tô cao tốc liên bang cần được chọn trên cơ sở 2 loại mặt cắt ngang điển hình là RQ35,5 cho 6 làn xe và RQ29,5 cho 4 làn xe, còn của đường ô tô cao tốc liên vùng có chức năng kết nối loại II là RQ26 và của cao tốc đô thị là RQ33. Mặt cắt ngang điển hình RQ33,5 có thể dùng cho đường có 8 làn xe bằng cách mở rộng phần mặt đường thêm mỗi bên 3,75m. Trong khi đó, tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô của Ca na đa qui định bề rộng của làn xe phụ thuộc vào tốc độ thiết kế. Với tốc độ thiết kế dưới 100km/h thì bề rộng mỗi làn xe là 3,5m và từ 100km/h trở lên là 3,7m. Tiêu chuẩn kỹ thuật công trình đường bộ của Trung Quốc JTG B01 - 2003qui định bề rộng làn xe đường ô tô cao tốc là 3,75m, trừ cấp tốc độ 60 km/h là 3,5m. Trong tiêu chuẩn này Trung Quốc cũng qui định các mặt cắt điển hình của đường ô tô cao tốc, ví dụ với tốc độ thiết kế 120km/h, đường có 8 làn xe thì tổng bề rộng là 45m (trong trường hợp khó khăn tối thiểu là 42m), hoặc tốc độ thiết kế 100km/h, đường có 6 làn xe là 33,5m (có cùng bề rộng như mặt cắt điển hình RQ33,5 của Đức) v.v.

Còn bề rộng làn theo qui chuẩn của Nhật Bản đối với đường ô tô cao tốc ngoài đô thị chỉ là 3,5m, thậm chí chỉ là 3,25m đối với cấp 4 thuộc miền núi, còn cao tốc đô thị cấp 1 có bề rộng làn xe là 3,5m và cấp 2 là 3,25m. Làn đỗ khẩn cấp theo qui chuẩn của Nhật lớn nhất cũng chỉ là 2,5m. Với các qui định như vậy, mặt cắt điển hình của đường ô tô cao tốc của Nhật Bản nói chung có bề rộng tổng cộng khá nhỏ so với tiêu chuẩn của các nước khác, kể cả so với TCVN 5729 - 1997 của Việt Nam. Theo TCVN 5729 - 1997 thì với 4 làn xe, bề rộng tiêu chuẩn của nền đường ô tô cao tốc tương ứng với các cấp tốc độ khác nhau thay đổi từ 22m đến 27,5m, trong khi đó, theo qui chuẩn Nhật Bản thì bề rộng này chỉ duy nhất là 20m đối với cao tốc ngoài đô thị và 19m đối với cao tốc đô thị , trong đó các giải an toàn và giải phân cách thường qui định có bề rộng lớn hơn so với TCVN 5729 - 1997. Cũng cần lưu ý thêm là số lượng làn xe trên các tuyến cao tốc chủ đạo phục vụ vận tải ô tô đường dài của các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản v.v. chủ yếu gồm 4 làn xe và một số tuyến có 6 làn xe. Các đoạn tuyến có trên 6 làn xe thường chỉ là những đoạn tuyến cục bộ để bố trí tách nhập làn.
Qua các số liệu về bố trí mặt cắt ngang đường ô tô cao tốc của một số quốc gia nêu trên có thể thấy rằng qui định về bề rộng làn xe, bề rộng làn đỗ khẩn cấp và các thông số khác đối với mặt cắt ngang đường ô tô cao tốc theo TCVN 5729 - 1997 cần được nghiên cứu và qui định lại sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện địa hình của nước ta nhằm giảm giá thành xây dựng.

Vấn đề thứ ba liên quan đến tính năng kỹ thuật nhưng cũng liên quan mật thiết đến vấn đề tổ chức giao thông trên đường ô tô cao tốc là việc bố trí các điểm kết nối ra vào đường cao tốc và các nút giao liên thông. Trong hệ thống đường ô tô cao tốc của các nước như Anh, Mỹ, Đức... và bên cạnh ta là của Trung Quốc thì các điểm kết nối này thường có mấy loại sau đây:
- Kết nối có cả đường ra và đường vào với một tuyến đường bộ thông thường, trong đó đường vào có dạng chữ S, đường ra có dạng cung tròn, hoặc ngược lại, đường vào có dạng cung tròn, đường ra có dạng chữ S, hoặc là cả đường ra và đường vào cùng có dạng chữ S . Tuyến đường bộ thông thường sẽ vượt qua đường cao tốc bằng cầu vượt hoặc hầm chui nếu đó là một ngã tư. Tại các điểm ra vào này sẽ bố trí các trạm thu phí
- Kết nối dạng kép với hai hay nhiều tuyến đường bộ thông thường khi các tuyến
đường bộ thông thường này khá gần nhau
- Kết hợp bố trí điểm kết nối ra vào nói trên với điểm nghỉ dọc tuyến
- Kết nối chỉ có đường ra hoặc chỉ có đường vào với một tuyến đường bộ thông
thường
Còn các nút giao liên thông dạng Trompet , dạng hoa thị hoàn chỉnh ) hoặc các dạng tương tự khác tất nhiên cũng chính là các điểm kết nối ra vào đường cao tốc nhưng có yêu cầu cao hơn và chỉ dùng để chỉ các nút giao giữa đường cao tốc với đường cao tốc. Các nút giao liên thông này có yêu cầu về chức năng, tính năng kỹ thuật cao hơn nhiều so với các điểm kết nối ra vào thông thường và do vậy yêu cầu chiếm dụng đất và giá thành xây dựng cũng cao hơn. Tại các nút giao liên thông này cũng không nên bố trí các trạm thu phí. Tiêu chuẩn TCVN 5729 - 1997 và một số đoạn tuyến cao tốc đã và đang được thiết kế, xây dựng vừa qua ở nước ta đã ít chú trọng đến sự khác biệt này. Các nút giao liên thông có tính năng và qui mô của nút giao giữa đường cao tốc với đường cao tốc bị lạm dụng (mặc dầu chỉ là giao cắt giữa đường cao tốc với các tuyến đường bộ không phải là cao tốc), được bố trí quá nhiều và quá gần nhau.

Còn có một nguyên nhân quan trọng khác liên quan là quan niệm chưa đúng về đường ô tô cao tốc của người dân, kể cả các chính quyền địa phương có đường cao tốc sẽ đi qua. Đó là mong muốn có khu dân cư, khu công nghiệp ... càng bám sát đường cao tốc bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu theo kiểu ‘tâm lí mặt tiền”!. Họ chưa thực sự hiểu được chức năng và tính chất của đường ô tô cao tốc như đã phân tích ở trên. Họ quan niệm đường ô tô cao tốc cũng giống như đường ô tô thông thường, khác chăng là có tốc độ chạy xe cao nên họ mong muốn đường ô tô này phải đi qua các khu dân cư, khu công nghiệp . Tệ hại hơn là họ muốn từ các khu dân cư, khu công nghiệp này, các phương tiện giao thông có thể “kết nối ngay tại chỗ” với đường cao tốc (!?)

Trong khi đó, việc nghiên cứu bố trí các điểm ra vào tương đối đơn giản như đã trình bày ở trên để kết nối với mạng đường hiện có để tổ chức giao thông nhằm thỏa mãn yêu cầu về công năng của đường cao tốc lại chưa được chú trọng. Do tập trung các điểm ra vào ở các nút giao liên thông kiểu này nên một lụy hệ nữa kéo theo là phải xây dựng thêm các đường nối, đường gom. Kết quả là suất đầu tư tính cho một ki lô mét xây dựng để phục vụ vận tải bằng đường cao tốc trở nên khá cao. Tiêu chuẩn TCVN 5729 - 1997 đã đề cập đến vấn đề này ở mục 7 với tiêu đề: “Thiết kế chỗ giao nhau trên đường cao tốc và các chỗ ra vào đường cao tốc” với 16 điều qui định. Tuy nhiên, chỗ ra vào đường cao tốc trong các qui định này đều gắn liền với các nút giao liên thông. Cần tách bạch và chuẩn xác lại hai khái niệm chỗ ra, vào và nút giao liên thông không chỉ trong tiêu chuẩn thiết kế mà cả trong qui định về biển chỉ dẫn. Các chỗ ra, vào đường cao tốc được xây dựng là để thực hiện chức năng kết nối hệ thống đường bộ thông thường với hệ thống đường ô tô cao tốc. Các chỗ ra vào này không nhất thiết phải là nút giao liên thông hay phải bố trí tại nút giao liên thông. Còn các lọai nút giao liên thông là để kết nối đường cao tốc với đường cao tốc.

Vấn đề thứ tư là việc bố trí chiếu sáng vào ban đêm trên đường ô tô cao tốc. Tùy theo điều kiện và kết quả nghiên cứu của từng quốc gia mà qui định về chiếu sáng trên đường ô tô cao tốc của từng nước cũng rất khác nhau. Các nước như Đức, Hoa kỳ... qui định về nguyên tắc chỉ bố trí chiếu sáng vào ban đêm cho đường cao tốc đô thị, còn đường cao tốc ngoài đô thị thì chỉ bố trí ở những chỗ ra, vào và đường hầm . Ảnh 1 dưới đây được chụp trên đường cao tốc liên bang số 5 của nước Mỹ ngay cửa ngõ của thành phố Los Angeles và cho thấy hệ thống chiếu sáng ngay tại những vị trí như thế này cũng được bố trí rất ít. Một số nước khác như Anh, Pháp... thì qui định thêm việc chiếu sáng cho tất cả các nút giao liên thông. Cũng có một vài nước như Bỉ, Lúc - xăm - bua, Tiểu Vương quốc Ả Rập hay Thổ Nhĩ Kỳ thì hầu như tất cả đường ô tô cao tốc đều được chiếu sáng vào ban đêm. Tuy vậy, với xu thế tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chi phí bảo trì và giảm thiểu hiệu ứng ánh sáng nhân tạo làm ô nhiễm môi trường tự nhiên, đến nay, những quốc gia này cũng bắt đầu cắt bớt hệ thống chiếu sáng này [18]. Điều 10.5 của TCVN 5729 - 1997 đã qui định khá chi tiết đối với đường ô tô cao tốc ngoài đô thị. Các qui định này tương đối phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của nước ta nhưng chưa có qui định đối với đường cao tốc đô thị. Tuy vậy, vẫn có những quan điểm cho rằng đường ô tô cao tốc phải được chiếu sáng toàn bộ để đảm bảo an toàn cho xe chạy tốc độ cao. Qui định về chiếu sáng đối với đường ô tô cao tốc trong và ngoài đô thị của Việt Nam cũng cần được nghiên cứu, thống nhất trên cơ sở đảm bảo an toàn giao thông nhưng phải tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí đầu tư ban đầu và chi phí bảo trì khai thác. Các qui định này phải được đưa vào Qui chuẩn Xây dựng Việt Nam để bắt buộc tuân thủ vì TCVN 5729 - 1997 chỉ là tiêu chuẩn mang tính chất tự nguyện áp dụng.

sannb
12/04/12, 09:58 PM
Mình cũng đang nghiên cứu về vấn đề này.
Cám ơn, bài viết rất hữu ích.