Page 1 of 14 12311 ... LastLast
Results 1 to 10 of 139

Thread: Đọc và suy ngẫm

  1. #1
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default Đọc và suy ngẫm

    Tôi chỉ là Ashkenazy! Hay quốc nạn loạn chức danh, học vị

    26/06/2009 05:31 (GMT + 7)

    "Bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền... đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm?"
    Tôi chỉ là Ashkenazy

    Tôi xin được bắt đầu bài viết này bằng một câu chuyện có thật xảy ra ở TP Hồ Chí Minh vào năm 1995. Chuyện như sau: Trong một chuyến đi bằng đường hàng không, do trục trặc, nghệ sỹ Piano lớn của thời đại chúng ta là Vladimir Ashkenazy đã phải dừng lại ở TP HCM hai ngày.

    Tất nhiên một nghệ sỹ lớn như Ashkenazy khó lòng mà không bị phát hiện ra trong thế giới nhiều thông tin này. Và ông đã được mời tổ chức một buổi hoà nhạc nho nhỏ cho những người hâm mộ. Với sự khiêm tốn vốn có ở những người vĩ đại, ông chỉ muốn biểu diễn ở phòng nhỏ trong Nhạc viện TPHCM và chủ yếu dành cho một công chúng hẹp, trong giới nhà nghề. Việc này tất nhiên được nhạc viện thành phố chú ý ngay và họ muốn biến chuyến thăm bất đắc dĩ này quảng cáo thêm cho uy tín của nhạc viện.

    Người lãnh đạo nhạc viện lúc đó là một giáo sư, tiến sỹ, nghệ sỹ nhân dân đã dẫn đầu một nhóm giáo sư, tiến sỹ của nhạc viện TPHCM đón tiếp Ashkenazy.

    Trong buổi tiếp, sau khi trân trọng giới thiệu với Ashkenazy từng thành viên của ta với đầy đủ chức danh, học vị, thì việc mà phía ta muốn hỏi ông ta, để đưa vào programe (tờ in chương trình) và giới thiệu khi biểu diễn là: Ashkenazy là gì? Thạc sỹ, tiến sỹ, giáo sư hay là gì gì hơn thế nữa ? Và câu trả lời là: Tôi chỉ là Ashkenazy.

    Tưởng khách không hiểu. Chủ lại hỏi lại và gợi ý thêm cho dễ hiểu hơn: chắc một nghệ sỹ lớn như ông thì phải có tham gia giảng dạy, vậy khi đó chức danh và học vị của ông là gì? Câu trả lời vẫn không thay đổi: Tôi chỉ là Ashkenazy.

    Ô hay! Lạ cái ông này, cỡ như ông ta ít nhất cũng phải có một chức danh gì chứ? hay ông ta giấu? Và cuộc gặng hỏi vẫn tiếp tục. Tuy vậy, truy mãi, cuối cùng, dù đông người, ta đã phải chịu thua một mình ông, vì câu trả lời vẫn chỉ có thế, dù đã được pha thêm chút khó chịu: Tôi chỉ là Ashkenazy!


    Người đứng giữa cầm quyển sách là Ashkenazy - ông không
    nhìn vào ống kính. (Ảnh do tác giả cung cấp).

    Cách giới thiệu một cuộc hoà nhạc ngày nay và cái tên cha sinh mẹ đẻ

    Trên thế giới thì hàng trăm năm nay, khi giới thiệu một buổi biểu diễn nhạc chuyên nghiệp (hoặc in trên bìa CD) chỉ đơn giản như sau, ví dụ:

    1/Về tác giả : Sonate số 2, giọng Si giáng thứ của F.Chopin.

    2/Về biểu diễn: Piano : V.Ashkenazy

    Cách đây khoảng trên hai chục năm, ở Việt Nam ta cũng tương tự như vậy. Nhưng bây giờ thì khác xa rồi, thường họ sẽ giới thiệu theo công thức như sau:

    1/ Về tác giả: Tên tác phẩm, của + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú). + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên tác giả

    2/ Về biểu diễn: Độc tấu + tên nhạc cụ, do + Chức danh (giáo sư, phó giáo sư) + học vị (tiến sỹ, thạc sỹ) + Danh hiệu (nghệ sỹ Nhân dân, nghệ sỹ ưu tú. Nhà giáo Nhân dân, nhà giáo ưu tú) + Giải thưởng (giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước) + Chức vụ quản lý (Chủ tịch, Giám đốc, Hiệu trưởng, Viện trưởng...) + tên người + biểu diễn

    Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp.
    Ảnh minh họa: ree-scores.com.

    Mời bạn đọc thử lắp những chức danh, danh hiệu này trước những tên tuổi như: Mozart, Beethoven, Chopin ….. hoặc: Karajan, Rubinstein, Horowitz vv… bạn sẽ thấy nó hài hước tới mức nào ngay. Thêm bất cứ cái gì trước những cái tên đó, đều là một sự xúc phạm khó tha thứ. Bản thân nó đã là vàng mười. Sự sâu sắc luôn mộc mạc, giản dị. Ngược lại với sự son phấn loè loẹt, hàng mã.

    Và không chỉ dừng lại ở các cuộc biểu diễn, mà ngay cả trong các cuộc họp hành, hiếu hỷ. Khi mời ai lên phát biểu, người ta cũng luôn luôn phủ đầu làm tối tăm mặt mũi cử toạ bằng một tràng dài các chức danh, học vị, chức vụ quản lý, chức vụ Đảng, cuối cùng mới đến tên người. Điều này dần dần đã thành thói quen, gây sự thiếu thân thiện và tủi phận với những kẻ chỉ có cụt lủn mỗi cái tên cha sinh mẹ đẻ. Họ cảm thấy hẫng như mình thiếu hẳn một cái đuôi.

    Cuộc họp nội bộ ngày xưa thì giản dị: “Mời anh Trí” hay “Mời chị Tuệ” lên phát biểu. Chỉ vỏn vẹn có 3 từ thôi, mà sao thân mật, ấm cúng và hiệu quả biết bao. Còn bây giờ thì phải khoảng trên dưới 30 từ. Cũng theo công thức trên, ta lại cùng nghép thử, ví dụ:

    Xin kính mời + chức danh + học vị + toàn bộ danh hiệu đã được phong + toàn bộ giải thưởng đã được tặng + toàn bộ chức vụ quản lý, chức vụ Đảng đang có + Ông(Bà) + họ tên đầy đủ + lên phát biểu.

    Mời bạn tham khảo thêm tên và tước hiệu của cụ Phan Thanh Giản (1796-1867) một đại thần triều Nguyễn phong kiến như sau: Hiệp biện Đại học sỹ, lãnh Lễ bộ thượng thư, kiêm quản Hộ bộ ấn triện, sung Kinh diên giảng quan, sung Cơ mật viện đại thần, kiêm Quốc tử giám sự vụ, kiêm quản Văn thần phò mã đô uý, Phan Thanh Giản, tự Tĩnh Bá, hiệu Ước Phu. (50 từ)

    Ôi, nếu cụ sống lại và đến dự một cuộc họp nội bộ của chúng ta ngày nay, và được ta giới thiệu cụ với đầy đủ chức danh như trên, thì chắc cụ rất hãnh diện. Vì lũ con cháu chúng ta sao mà giống thời các cụ thế! tiếp nối được truyền thống cha ông xưa. Và vẫn đang liên tục phát triển.

    Đây là hiện tượng phổ biến trên toàn quốc khoảng hai chục năm nay chứ không chỉ riêng ở một đơn vị nào, và nó vẫn còn đang phát triển theo hướng rườm rà hơn nữa. Tôi sợ với đà này, một ngày nào đó, ngay trong gia đình, bố mẹ, con cái, vợ chồng… hoặc bạn bè gặp nhau ngoài phố, khi gọi nhau cũng phải kèm theo những danh hiệu rườm rà đã kể trên thì thực là rồ dại.

    Vậy bạn đọc nghĩ sao về những hiện tượng này? Bản chất của những hiện tượng này là gì?

    Một cuộc chạy đua chức danh trên toàn quốc “trồng lúa thu hoạch khoai”


    Ta tự hào về chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa (mà hiện nay chỉ có người dân ở một số ít nước được hưởng là: Triều Tiên, Cu ba, Lào và Trung Quốc) mọi người đều bình đẳng. Nhưng thực chất thì người ta đang dựa theo chức quyền để phân chia đẳng cấp, quyền lợi, tất nhiên chức càng cao, bổng lộc càng lớn.

    Lúc sống đã vậy, tận tới lúc chết chôn ở đâu cũng có tiêu chuẩn dựa theo chức tước. Vì thế cả xã hội đều trọng chức quyền. Mà muốn có chức quyền thì cần có bằng cấp, cộng thêm danh hiệu Đảng viên, là người ta có thể tiến thân, có thể trở thành lực lượng lãnh đạo với nhiều bổng lộc mà không cần phải có thực lực.

    Đó là nguyên nhân sâu xa đã và đang dẫn đến việc nhiều kẻ cơ hội đổ xô đi săn bằng cấp bằng mọi giá. Đua bằng cấp, chức danh chứ không đua tài năng. Bởi đua tài năng, cuộc đua dưới ánh mặt trời, thì khó hơn nhiều, dễ lộ chân tướng và dễ bị thua. Bao nhiêu sức lực, thời gian và tiền bạc đáng ra để tập trung làm chuyên môn, làm nghề thì lại bị phung phí vào các cuộc đua tranh lấy bằng cấp. Nhìn vào con đường để trở thành thạc sỹ, tiến sỹ hiện nay ở nước ta đã bị biến chất. Nhiều người có lòng tự trọng không khỏi ngại ngùng và muốn lánh xa.

    Bản thân bằng cấp và chức danh chân chính, lương thiện thì rất có ích cho xã hội. Trước kia, số giáo sư, tiến sĩ ở ta không nhiều, nhưng đó là những tên tuổi như: Đào Duy Anh, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Mạnh Tường... Còn ngày nay thì đúng là “Ta tự hào đi lên. Ôi Việt Nam” giáo sư nhiều đến mức có thể “ra ngõ gặp giáo sư”. Với thực trạng này thì nền học thuật của nước nhà có nguy cơ trở thành hữu danh, vô thực.

    Trong lĩnh vực biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp, để chơi đàn, hát, làm được concert thì khó quá, muốn thế phải rèn luyện hàng ngày, phải hy sinh rất nhiều mà lại không oai bằng rẽ ngang đi làm tiến sỹ, đơn giản hơn, chóng được thăng chức với nhiều bổng lộc hơn.

    Kết quả là: mục đích cuối cùng và duy nhất của âm nhạc là tiếng đàn, tiếng hát, những buổi concert và viết những tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp thì dần dần không còn ai làm, thay vào đó là rất nhiều tiến sỹ âm nhạc ra đời. Có được cái bằng tiến sỹ, phần lớn không ai chơi đàn và hát nữa. Tiền của nhân dân bỏ ra đào tạo họ để mang lại tiếng đàn tiếng hát cho đời đã trở thành vô ích vì sai mục đích. Trồng lúa thì lại thu hoạch khoai!

    Hướng dẫn làm luận văn tiến sỹ chéo ngành chéo nghề

    Ở hầu hết các trung tâm đào tạo đại học của Việt Nam trên toàn quốc hiện nay, để có được chức danh thạc sỹ, tiến sỹ, phải có người hướng dẫn viết luận văn, luận án. Đó là các giáo sư, phó giáo sư. Nhưng để đào tạo ra càng nhiều, càng nhanh và để “phổ cập” học vị thạc sỹ, tiến sỹ, người ta đã sử dụng các giáo sư hoặc phó giáo sư nghề này, hướng dẫn luận văn cho các thạc sỹ, tiến sỹ nghề khác.

    Tuy cùng là một ngành, nhưng càng lên cao, càng phải chuyên sâu, và cùng một ngành nhưng rất nhiều nghề hoàn toàn khác nhau. Ví dụ như trong ngành thể thao thì môn cờ tướng với bắn súng hoặc đấm bốc, không hề có liên quan đến nhau. Hoặc trong ngành điện ảnh thì nghề viết kịch bản và nghề tạo khói lửa, cũng không hề có liên quan. Nghề nào cũng vậy. Nên dù biện minh rằng, đó là “hướng dẫn phương pháp luận” thì cũng chỉ là ngụy biện, và không thể chấp nhận được.
    Thử tưởng tượng trong cùng ngành y. Giáo sư chuyên nghề phụ khoa lại đi hướng dẫn luận văn cho tiến sỹ chuyên nghề nha khoa thì có được không? Bởi vì hai bộ phận này của cơ thể chúng ta là hoàn toàn khác nhau, có những chức năng hoàn toàn khác nhau. Vậy mà chéo ngành chéo nghề vẫn vô tư hướng dẫn đã trở thành bình thường từ lâu.

    Vậy xin hỏi cấp trên có biết vấn đề này không? Với những sự hướng dẫn như vậy, những bản luận văn đó có giá trị gì không? Và trong việc này liệu có thể tránh được tiêu cực không? Có được cái bằng cấp ấy, có đáng tự hào để mời mọi người đi khao “rửa bằng” không? Có lẽ sự “rửa bằng” nghĩa đen lại chính xác hơn vì nó vốn không được sạch sẽ cho lắm.

    Theo chúng tôi, cấp bộ hãy cho dừng ngay kiểu hướng dẫn trái ngành trái nghề như hiện nay ở hầu hết các cơ sở đào tạo trên cả nước. Và cho rà soát lại tất cả các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã có. Nếu không phải do người hướng dẫn có cùng chuyên môn thì cho thu hồi lại, và các luận văn đó phải được làm lại, với sự hướng dẫn của các giáo sư cùng chuyên ngành và công khai việc này trong giới chuyên ngành.

    Các danh hiệu, giải thưởng, câu chuyện cười ra nước mắt
    Vườn hoa chỉ có 2 loại hoa


    Hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, làm nên tên tuổi riêng của mìnhẢnh minh họa: byond.com.
    Định kỳ một hai năm gì đó, ta có những đợt phong tặng danh hiệu nghệ sỹ ưu tú, nghệ sỹ Nhân dân và trao tặng các giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Việc này không phải do người Việt Nam ta nghĩ ra, mà do chúng ta học tập từ Liên Xô cũ. Họ phong nghệ sỹ Công Huân, nghệ sỹ Nhân dân, giải Xtalin, giải Lê Nin về văn học nghệ thuật ( ví dụ Giao Hưởng số 11 của Shotstakovich được giải Xtalin năm 1953 vv…).

    Sau khi Liên Xô tan vỡ, họ đã bỏ thói quen đã có từ hàng chục năm này. Rất nhiều cách tổ chức dập theo kiểu Liên Xô cũ như: nền kinh tế có kế hoạch, hành chính bao cấp, phân phối theo tem phiếu v.v… ta đã bỏ. Nhưng không hiểu vì sao cái thói quen trao những danh hiệu và giải thưởng văn học nghệ thuật học từ họ thì ta lại vẫn duy trì, bởi nó là một phần đồng bộ trong tư duy cấu thành chế độ bao cấp, cơ chế xin cho?

    Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh bằng máu và nước mắt một quy luật là: những chính sách dập khuôn theo ngoại bang sớm muộn rồi cũng gây những hậu quả xấu, thậm chí là những thảm hoạ dân tộc.

    Về việc phong danh hiệu nghệ sỹ, hãy để chính những nghệ sỹ, bằng tài năng, họ làm nên tên tuổi riêng của mình (như Ashkenazy) thì nó mới có giá trị thực, bền lâu và duy nhất. Không ai có thể ghen tỵ với ai được, vì không ai giống ai. Hàng ngàn nghệ sỹ tài năng, thì sẽ có hàng ngàn cái tên khác nhau, có giá trị khác nhau, giống như vườn hoa với muôn hoa, muôn màu khoe sắc, chứ không phải chỉ có 2 loại hoa ưu tú và nhân dân.

    Mà muốn được hưởng các danh hiệu này, phải làm đơn xin, cùng sự “vận động” để được phong (ban) tặng từ trên xuống. Trong hoàn cảnh đất nước ta tệ nạn xã hội tràn lan. Khó có thể tránh khỏi nhiều sự tiêu cực trong sự ban tặng danh hiệu, nếu vẫn giữ kiểu cơ chế ban phát như cũ.
    Về việc trao giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, đây cũng là một kiểu cơ chế xin cho với những thành phần Ban giám khảo hoàn toàn được chỉ định từ trên, với những tiêu chí chấm giải tuỳ hứng. Người xin trao giải cũng phải làm đơn và “vận động”.

    Riêng trong ngành nhạc đã xảy ra những câu chuyện cười ra nước mắt xung quanh việc trao giải thưởng này. Điển hình là trong đợt đua tranh phong tặng năm 2006 (đây nên là đợt phong tặng cuối cùng) cả nước đều biết tới những chuyện “đồng nghiệp tương tàn” mà báo chí gọi là “cơn địa chấn trong làng nhạc”. Nếu ta lại cứ tiếp tục trao giải thì không ai có thể khẳng định rằng những cơn “địa chấn” sẽ không trở thành “động đất”!

    Nói tóm lại: Nhà nước ta nên bỏ lối tư duy kiểu dập theo Liên Xô cũ này!

    6. Kết


    Hãy để cho mọi người đánh giá tài năng và giá trị con người qua công việc. Dù anh có độn vào trước cái tên của anh hàng trăm danh vị đi nữa mà sản phẩm anh làm ra cho xã hội không có, hoặc tồi, hoặc có hại, thì khác nào gỗ mục được sơn son thếp vàng?

    Một xã hội lành mạnh và có tương lai, là một xã hội biết tôn trọng những tài năng và những giá trị thực, bất kể họ có hay không có bằng cấp danh vị cao, tiền của nhiều, chức tước lớn.
    Đối với người làm nghề nhạc chuyên nghiệp, thì đó là tiếng đàn, tiếng hát của người biểu diễn và tác phẩm của người sáng tác. Anh hãy tự hào về điều đó, và hãy gắn nó với cái tên cha sinh mẹ đẻ, chứ không phải là những thứ bằng cấp, danh hiệu (mà ở nước ta hiện nay của rởm nhiều hơn thật) và chức vụ quản lý anh đang có, đó chỉ là những thứ son phấn nhất thời.

    Bảng giá trị tưởng như là chân lý đơn giản và hiển nhiên này lại đang bị lật ngược. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền. Nó đang làm tê liệt trí tuệ Việt Nam. Phải chăng nó là một trong ba loại giặc đang đe doạ sự tồn vong của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã nói, đó là: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm? Với tiềm năng trí tuệ thế này, rồi dân tộc Việt Nam ta sẽ đi đến đâu? “Một dân tộc dốt, là một dân tộc yếu” (Hồ Chí Minh)

    Là một người hoạt động trong nghề nhạc, tôi thấy cần phải viết bài này chỉ vì trách nhiệm công dân, với mong muốn nền học thuật nước nhà - nhất là âm nhạc - ngày càng trở nên lành mạnh và thực chất hơn. Tôi không nhằm vào bất cứ ai và cũng mong đừng ai giật mình bởi tôi luôn luôn kính trọng sâu sắc những giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ chân chính. Tuy không nhiều, nhưng họ có lương tri và trình độ chuyên môn thực sự. Tôi chắc rằng những người này sẽ ủng hộ những ý kiến trên của tôi.

    Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói tử tế bây giờ lại trở nên hài hước. Tuy vậy - dù chỉ nhỏ bé như con Dã Tràng - tôi vẫn muốn nói rằng: Đừng sợ thay đổi vì chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân, hãy nghĩ tới một tương lai tốt hơn cho tất cả. Đừng sợ ánh sáng, sợ thuốc đắng và sự thật.

    Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu Kiều của : [Giáo sư, tiến sỹ] Nguyễn Du (xin tạ tội với bậc tiền nhân vì sự xúc phạm này) :

    “Mượn màu son phấn đánh lừa con đen”


    Chữ “Con đen” ở đây được hiểu là những người dân bình thường.

    Đặng Hữu Phúc

    Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/vn/thongt...317/index.aspx
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  2. #2
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Bài viết đầu tiên mà nbc sưa tầm và giới thiệu trong topic này có lẽ là một bài viết khá dài. Với không ít người có thể nói là quá dài, và cũng không ít trong số ấy sẽ không có đủ kiên nhẫn để đọc hết nó.

    Không biết có quá lời không nếu nhận định: tình hình chung có lẽ là vậy. Thời gian thì có hạn, một ngày chỉ có 24 giờ với biết bao nhiêu công việc cần phải làm, bao nhiêu thứ cần phải biết... Dài thế thì đọc làm sao cho hết chữ được! Đọc rồi không biết có "nên cơm cháo gì không?"

    Hẳn là sẽ có những suy nghĩ ấy.

    Cuộc sống luôn trôi chảy. Trong cuộc đời mình, mỗi chúng ta như người lữ hành đi trên chặng đường dài, đôi lúc cũng cần phải dừng lại nghỉ ngơi, ngoái đầu xem đoạn đường đời mình đã trải được bao xa; ngước tới xem còn bao nhiêu chặng sẽ phải vượt qua. Và khi ấy, hẳn cũng cần phải triêm nghiệm, suy ngẫm về mình, về đời.

    Hy vọng rằng "mảng" này cũng sẽ có những "khách hàng" riêng.
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  3. #3
    Sinh viên năm nhất banglangtim's Avatar
    Join Date
    14/01/08
    Location
    TP HCM
    Tuổi
    32
    Posts
    28

    Default

    Banglangtim thì nhận thấy ranh giới giữa cái gọi là "Bệnh thành tích, cơ hội, trọng bằng cấp, trọng chức quyền" và cái gọi là "chức danh chân chính, lương thiện thì rất có ích cho xã hội" thật hết sức mỏng manh.

    Có thể trong một con người cùng tồn tại cả hai yếu tố này, quan trọng ở chỗ động cơ thực sự đưa họ đi đến mục tiêu là gì thôi. Bây giờ, những người học xong và tiếp tục học lên nữa để "lấy cái bằng tiến sĩ " nhằm "xin việc cho dễ" và thỏa mãn danh vọng thì nhiều chứ chắc không được mấy người nghiên cứu khoa học bằng cả niềm đam mê của mình.

    Tất nhiên là có những người như thế nhưng chắc chắn thành phần này sẽ ít hơn, nên chúng ta mới phát sinh ra căn bệnh gọi là bệnh thành tích! Và chúng ta cũng không thể nào phủ nhận sự đóng góp của những tài năng và giá trị thực của xã hội được. Chẳng hạn câu chuyện về gia đình của cố giáo sư Nguyễn Lân, người cha của 8 người con đều là giáo sư, tiến sĩ ,những nhà khoa học xuất sắc của Việt Nam và đương nhiên là họ đóng góp rât lớn cho sự phát triển của xã hội. Vậy đâu gọi là bệnh thành tích, đâu là giá trị thực của xã hội nhỉ?
    Hãy nhìn về phía mặt trời và bóng tối sẽ khuất sau lưng anh.

  4. #4
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Kẻ sĩ thời nay: có hèn và khiếp nhược?

    Bùi Hoàng Tám thực hiện


    Nhà văn, nhà báo Phan Quang

    1. Thời gian gần đây, câu hỏi về khí phách trí thức mà ngày xưa gọi là chất “Sĩ phu Bắc Hà” được đặt ra trên không ít phương tiện thông tin đại chúng và mỗi người có một câu trả lời khác nhau. Có người cho rằng không ít trí thức thời nay “xu thời và khiếp nhược” nhưng cũng có rất nhiều người cho rằng đó chỉ là số rất ít còn đa số vẫn giữ đươc phẩm tiết. Có cả ý kiến cho rằng trí thức thời nay cơ hội được núp dưới cái bóng của câu thành ngữ: “Một điều nhịn là chín điều lành”… Chúng tôi đã làm cuộc đối thoại với nhà văn, nhà báo Phan Quang, Nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam đồng thời cũng là một trong số những trí thức trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, xung quanh câu hỏi: Trí thức thời nay hèn hay không?

    Ông Phan Quang nói:

    Nhận định về tầng lớp tinh hoa của đất nước mà nói rằng hèn thì theo tôi là không nên và không đúng với bản chất. Bất cứ một dân tộc nào cũng có những nhược điểm “cố hữu” của mình. Gần đây, có nhiều cuốn sách của các tác giả là người chính nước đó đã viết về tính xấu của dân tộc họ. Ví dụ như người Trung Quốc có cuốn Người Trung Quốc xấu xí chẳng hạn. Rồi người Pháp cũng có những nhận định rất chính xác về các nhược điểm của trí thức Pháp là nói hay mà hành động không phải lúc nào cũng hay như nói…

    Nếu nói về những tính xấu của trí thức Việt Nam, ông sẽ nói về điều gì?


    Tôi nghĩ cũng không ít đâu. Chẳng hạn, chúng ta đều có dịp nghe giai thoại khá phổ biến: một người Việt Nam thì giỏi hơn một người Nhật, hai người Việt Nam bằng hai người Nhật, và ba người Việt Nam thì kém ba người Nhật. Giai thoại đó đủ nói lên cái tính thiếu hợp tác, kém đoàn kết, thậm chí hay ghen ghét, kèn cựa nhau.

    Thưa ông, đúng là tính cách mỗi dân tộc đều có những ưu điểm và cả những nhược điểm nhưng có thể nói khí phách của “sĩ phu” luôn là niềm tự hào của truyền thống dân tộc…?

    Đúng. Người trí thức cần phải có khí phách. Trí thức Việt Nam có khí phách. Tôi nghĩ nên gọi “sĩ phu Việt Nam”. Bởi nói sĩ phu Bắc Hà thì còn phải nói đến Hào khí Đồng Nai, đến Khí tiết Ngũ Quảng… Tổ tiên ta rất coi trọng khí phách. Cụ Chu Văn An dâng Thất trảm sớ. Cụ Mạc Đĩnh Chi dám nói thời [gian] đi sứ Bắc triều. Cụ Phan Đình Phùng phản đối Tôn Thất Thuyết ngay tại Triều đình. Cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Thăng Long thất thủ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”… Đó là những phẩm chất cao thượng thể hiện khí phách sĩ phu Việt Nam. Thái Văn Lung, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Tố, Dương Quảng Hàm, Trần Đại Nghĩa… cũng đầy nghĩa khí.

    Một Giáo sư rất được coi trọng về phẩm tiết, về sự thẳng thắn, trung thực thì cho rằng trí thức thời nay ít khí phách, hay nói cách khác là hèn và ông cũng không loại trừ mình có những lúc như thế?

    Mỗi người đều có quyền có thái độ của mình đối với chính mình. Tôi rất khâm phục những vị có học hàm, học vị cao vì sự học là gian nan, vất vả lắm, sự học tạo nên tri thức của con người. Tuy nhiên không phải ai có học hàm, học vị cao đều là những trí thức đầy đủ, đúng với ý nghĩa của hai từ ấy. Có thực học và có hư học. Hư học không phải chỉ là bằng giả, học giả mà là suốt đời học những điều “hư”, không mấy lợi ích cho đất nước, cho nhân dân. Những người này thời nay không ít. Và có lẽ tại hư học cho nên họ không dám nói và nhất là không có gì nhiều của riêng mình để mà nói. Còn trí thức đích thực thì không hèn, không thể hèn, không được hèn.

    Là trí thức, chẳng mấy ai không yêu nước


    Ông nghĩ gì về nhận định của TS Chu Hảo: “Trí thức phải là người có năng lực phê phán và hướng dẫn xã hội”?

    Trí thức trước hết là công dân cho nên cần phải dấn thân vào đời sống xã hội với tư cách công dân. Dấn thân theo cách nào lại là vấn đề khác. Một nhà khoa học không nhất thiết phải lúc nào cũng phải góp ý về chủ trương, chính sách cụ thể hay trả lời báo chí về thời sự. Họ dấn thân vào những công trình nghiên cứu khoa học của họ và khi đất nước cần điều gì hợp với khả năng của họ, họ sẽ cống hiến hết mình. Tôi nghĩ trí thức không nhất thiết lúc nào phải phát biểu quan điểm chính trị của mình một cách ồn ào. Họ có cách thể hiện riêng, bằng chính các công trình khoa học của họ, bằng thái độ của họ đối với cuộc sống.

    Nhưng nếu cả đời chỉ chăm chú với những công trình nghiên cứu khoa học mà không quan tâm đến những biến động của đời sống xã hội, “mũ ni che tai” phải chăng cũng là sự chạy trốn?

    Tôi không nói là cả đời trùm chăn. Khi cần thiết, họ sẽ tỏ thái độ vì là trí thức, chẳng mấy ai không có lòng yêu nước. Người trí thức phải có năng lực phê phán, đồng thời cũng phải là người nhiệt thành biểu dương cái hay, cái tốt. Trí thức phải là mẫu mực của xã hội.

    Trách nhiệm thuộc về những ai có… trách nhiệm


    Tất nhiên “đất nước” và “thể chế” là hai khái niệm nhưng trong trường hợp này xin được đồng nhất. Xin hỏi ông, họ yêu đất nước nhưng đất nước có thực lòng yêu họ không?

    Điều này tôi đã có dịp phát biểu trong một cuộc hội thảo về kinh tế trí thức và toàn cầu hóa. Không thể phủ nhận thời gian qua, chính sách của nhà nước ta đối với nhân tài còn nhiều bất cập. Tôi đã từng nghe một nhà trí thức nay đã quá cố nói rằng “Khi trí thức tin Đảng thì trí thức không thật sự được Đảng tin dùng, nay Đảng cần đến trí thức thì trí thức không phải ai cũng thật tin ở Đảng”. Dĩ nhiên đó là câu nói phẫn, mang tính cực đoan nhưng rất đáng được lãnh đạo lắng nghe.

    Thưa ông, đặt vấn đề trí thức với Đảng tức là “hai trong một” vì rất nhiều trí thức lớn là đảng viên. Nhưng nếu như trong trí thức có xuất hiện tư tưởng khiếp nhược, hèn, cơ hội, chưa tin tưởng… thì đó là điều đáng thất vọng và ai phải chịu trách nhiệm?

    Nếu có những biểu hiện đó thì đương nhiên là Đảng nhận sứ mệnh lãnh đạo đất nước thì Đảng phải chịu trách nhiệm mọi vấn đề. Nói cụ thể hơn, đường lối của Đảng đối với trí thức nhìn chung nhất quán, những yếu kém, bất cập đang được khắc phục dần. Nếu thực tế chưa làm được như đường lối đã đề ra thì trách nhiệm trước hết thuộc về những ai giữ trách nhiệm lãnh đạo.

    Trách nhiệm đương nhiên là quan trọng nhưng quan trọng hơn là làm thế nào để người thực tài có thể được trọng dụng?

    Theo tôi, chính sách trọng dụng nhân tài không nằm ngoài ba mặt. Thứ nhất, đưa những người có thực tài vào những vị trí xứng đáng, tạo điều kiện tối thiểu về khoa học và đời sống để họ yên tâm làm việc. Sử dụng nhân tài phải đúng như chính sách đã ban hành: Không phân biệt người đó là Đảng viên hay là người ngoài Đảng. Thứ hai, kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai. Thứ ba, các cơ quan đầu não quốc gia phải là tấm gương quy tụ những người có thực tài của đất nước. Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực.

    Nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời


    Thưa ông, Nghị quyết TW 7 về công tác trí thức ban hành đã khá lâu, ông cảm nhận con đường đi vào đời sống của Nghị quyết này như thế nào?

    Để những chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống luôn là con đường gian nan, cần rất nhiều công sức, thời gian và nhất là điều kiện để chủ trương trở thành hiện thực – yếu tố quyết định sự thành công của chủ trương, chính sách. Theo tôi, sau nửa năm ban hành, không biết Nghị quyết này đã ngấm vào chiều sâu thế nào chứ hiện nay dường như có vẻ lặng lẽ. Hay là tại môi trường xã hội bây giờ đang nổi lên nhiều bức xúc về kinh tế, đời sống? Hay tại mảnh đất tiếp nhận là đội ngũ trí thức chưa sẵn sàng? Hay tại trí thức có làm, làm nhiều song ít muốn nói về mình? Hay tại nó ra đời ở thời điểm chưa phù hợp? Rất nhiều câu hỏi mà tôi chưa tìm ra câu trả lời.

    Ông có nghĩ rằng việc chuẩn bị chưa chu đáo?


    Không. Đây là nghị quyết được chuẩn bị rất kỹ trong một thời gian khá dài, được nhiều trí thức có tên tuổi đóng góp ý kiến và theo tôi nội dung tương đối hoàn chỉnh. Tôi nói tương đối vì chẳng bao giờ có một nghị quyết, một chủ trương đầy đủ và đúng đắn về tất cả mọi vấn đề, hoàn thiện 100%. Tại sao nó chưa nhận được sự đón nhận như mong đợi? Một câu hỏi nữa phải tìm câu trả lời

    Hay còn tâm trạng hoài nghi, thưa ông?

    Có thể lắm. Tâm trạng trí thức gần đây không ít người dè dặt với những chủ trương, chính sách mới ban hành. Không phải họ hoài nghi mọi thứ mà do kinh nghiệm, nhiều người e bước đầu vồ vập quá, đến khi đi vào cuộc sống lại không được như kỳ vọng thì vỡ mộng nên phần nào còn dè dặt chăng. Tuy nhiên, nếu Nghị quyết đúng, đáp ứng đầy đủ đòi hỏi của đời sống xã hội (tất nhiên là tương đối) thì sớm muộn, nó cũng sẽ đi vào cuộc sống. Trước mắt đành chờ đợi vậy. Cũng cần nói thêm: Nghị quyết có sức sống bền lâu cho nên sự thành bại của nó cũng phải có quá trình. Đây không phải là một cuộc vận động kịp thời như quyên góp, làm từ thiện chống bão, chống lụt chẳng hạn mà có thể đánh giá ngay kết quả đạt được lớn hay nhỏ. Nửa năm chưa đủ thời gian để khẳng định, chỉ vừa đủ để nói lên một điều gì đó có tính cảnh báo xu hướng mà thôi.

    Nghề nhiều đam mê nhưng không ít bạc bẽo


    Trở lại với quan niệm về trí thức. Theo ông, nhà báo có phải là trí thức?


    Có lẽ phải phân định rõ nhà báo và nghề báo. Nhà báo làm nghề báo, là nghề hoạt động trên lĩnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, tinh thần, nghĩa là nghề báo mang tính trí thức và đòi hỏi hàm lượng trí thức. Nhưng không phải nhà báo nào cũng là trí thức. Nói cách khác, hoạt động báo chí là hoạt động trí thức còn ai làm nghề ấy có phải là trí thức không thì còn tùy thuộc nhiều điều kiện khác nữa.

    Ông Hữu Thọ trả lời phỏng vấn trên NB&CL chúng tôi dịp Tết vừa qua về báo chí có nói năm 2008 là năm tổn thất nặng nề. Ông có đồng ý với nhận định này?

    Trong Lễ trao giải báo chí quốc gia năm 2008, trong khi giao lưu với phóng viên truyền hình, tôi có phát biểu nghề báo có nhiều đam mê nhưng cũng lắm chán chường, không chỉ chán chường mà có khi còn bạc bẽo. Vui cũng nhiều mà buồn cũng không ít. Chuyện cũ qua rồi, buồn lắm chứ, nhắc lại chỉ để nhắc lại và hy vọng chuyện buồn ấy mang lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm. Riêng tôi vẫn nghĩ, nên có cách xử lý khác những gì đã diễn ra năm 2008. Tự ta làm khó cho ta. Hy vọng rằng sau này mọi việc sẽ được xử lý thấu tình, đạt lý và có lợi cho sự nghiệp chung, cho đất nước hơn.

    Xin cám ơn ông!



    GS VS Phạm Song, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế – Chủ tịch Tổng hội Y – Dược Việt Nam

    2 – GS VS Phạm Song (nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế – Chủ tịch Tổng hội Y – Dược Việt Nam):

    Sĩ phu càng không được hèn


    Đã là trí thức thì không được hèn. Không có khí tiết, không là trí thức. Không dám nói lên sự thật, không phải là trí thức. Không trung thực, không phải là trí thức. Không dám bảo vệ chân lý, không phải là trí thức… Nói tóm lại, trí thức phải là người vừa có trí dục, vừa có đức dục. Trí thức nói chung đã phải có những phẩm chất đó thì Sĩ phu Bắc Hà yêu cầu còn phải cao hơn nữa.
    Có người nói trí thức ta hiện nay có biểu hiện xu thời, cơ hội, khiếp nhược…. Tôi không thấy có sự khiếp nhược của trí thức hiện nay. Ví dụ những người như GS Hoàng Tụy, GS Hồ Ngọc Đại, Nhà văn Nguyên Ngọc, Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung… Họ dám nói lên sự thật, dám phản đối quyết liệt những gì họ cho là sai trái. Những nhà khoa học khác, họ không nói hoặc chưa nói vì chưa có một diễn đàn thuận lợi cho trí thức lên tiếng và lỗi này thuộc về công tác tổ chức.



    TS Chu Hảo

    3 – TS Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ):

    Không ít trí thức phải náu mình

    Có người nói trí thức của ta tùy thời, có người nói là cơ hội, có người nói nặng hơn là hèn. Theo tôi, ở một mức độ nào đó thì những điều trên đều có. Đó là dấu hiệu khá dài của những phương thức sinh hoạt nặng nề nên để bảo trọng, để không bị loại ra khỏi cuộc chơi, không còn phương tiện sinh sống nên không ít trí thức phải náu mình.

    Trong không khí dồn nén thì khó có thể có được một tầng lớp trí thức có đủ dũng cảm và nhân cách.

    Tuy nhiên, trừ một số giữ được nhân cách, phẩm hạnh, còn nhiều người tự nhận mình là trí thức, là sĩ phu cũng không đủ dũng cảm để vượt qua những trở ngại tinh thần đó. Do vậy hơn lúc nào hết, đây là thời kỳ cần phải xây dựng một cơ chế dân chủ đảm bảo tự do tư tưởng và độc lập sáng tạo thì mới có thể xây dựng được một tầng lớp trí thức đúng nghĩa với vai trò tinh hoa của dân tộc.



    Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:

    4 – Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình:

    Nhiều trí thức luôn giữ được phẩm tiết của mình

    Đúng là không ít trí thức ở thời điểm này hay thời điểm khác có biểu hiện xu thời, a dua nhưng cũng rất nhiều trí thức luôn giữ được phẩm tiết của mình. Trí thức Việt Nam chưa đạt tới độ tinh hoa không phải do không có trình độ hay không biết tự trọng. Nguyên nhân có thể là do khâu đào tạo, bồi dưỡng và một nguyên nhân quan trọng nữa là do cách nhìn nhận, đánh giá, sử dụng trí thức nhiều lúc, nhiều nơi chưa đúng và chưa đầy đủ.

    5 – Nguyên Phó thủ tướng – Nguyên Chủ tịch Hội Phát triển nguồn Nhân lực và Nhân tài Việt Nam Đoàn Duy Thành:


    Theo hiểu biết của tôi thì kẻ sĩ ngày xưa cũng chia làm ba loại. Loại không biết (và không cần biết) chữ thời. Họ hành động để thể hiện chí khí của mình với đời. Loại thứ hai là những người trùm chăn chờ thời nhưng thời không đến, có người vì thế lâm vào bất mãn… Loại thứ ba là những sĩ phu biết chọn chúa mà thờ, chọn thời mà hành động.



    Nhà báo Hữu Thọ

    6 – Nhà báo Hữu Thọ:

    Trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý

    Đúng là trong giới trí thức hiện nay cũng có người hèn, không chỉ hèn đâu còn xu nịnh và cơ hội. Nhưng thời nào cũng có kẻ cơ hội, xu nịnh, hèn hạ… song thời nào cũng có những tinh hoa. Nói cả tầng lớp trí thức hèn, theo tôi là nói quá lời. Cứ nghe những cuộc tranh luận ở Mặt trận Tổ quốc, ở Quốc hội, trên các diễn đàn báo chí… thì đâu có phải họ không dám nói.

    Đối với khí tiết bảo vệ chân lý, thái độ “trùm chăn”, “mũ ni che tai”, “an phận thủ thường”, trước hết là nó cũng có nguồn gốc sâu xa của người Việt. Đó là bệnh xuê xoa, “năm bỏ làm ba, chín bỏ làm mười”, cái tính “an phận thủ thường” rồi “một điều nhịn là chín điều lành”…

    Thứ hai, trách nhiệm bảo vệ chân lý của trí thức là phải có tố chất phản biện lại các nhà quản lý, tức là những người lãnh đạo, cầm quyền nhưng lại phải phân biệt rất rõ phản biện với phản bác.

    Năm 1947, Bác Hồ gửi thư cho trí thức Nam bộ, Người đã dùng 4 chữ “Phò chính – Trừ tà”. Chống cái sai nhưng phải phò cái đúng. Cái gì sai thì phản đối, cái gì đúng thì ủng hộ, cái gì thiếu thì bổ sung… trên tinh thần đó thì mới là phản biện. Có ý kiến khác nhau là bình thường.

    Tôn trọng ý kiến khác mình là văn hóa cầm quyền cao nhất của người lãnh đạo.

    Tôi nghĩ rằng người trí thức phải có khí tiết bảo vệ chân lý, lẽ phải theo phương hướng “Phò chính – Trừ tà” mà Bác Hồ đã nêu lên. Nhiều trí thức đã từng hi sinh tính mạng của mình để bảo vệ chính nghĩa của dân tộc. Phải biết tự bảo vệ chính mình để phụng sự đất nước. Trong phản biện thì nên trung thực, thẳng thắn nhưng nên khiêm tốn. Với đặc tính sự thiếu hoàn thiện của nhận thức cho nên cũng nên nghĩ rằng không phải ý kiến nào cũng hoàn hảo, cho nên cũng cần biết lắng nghe.

    Nguồn: http://trannhuong.com
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  5. #5
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Quyền lực, lý luận và… bánh rán

    Quan niệm coi trọng tình cảm hơn lý lẽ đã khiến người Việt không ưa kiện cáo, nhưng lại sa đà vào những cuộc đôi co vặt triền miên. Xưa nay, người Việt thường có xu hướng tìm kiếm cái cốt lõi đời sống, cái tâm thế sinh tồn đằng sau những vấn đề phức tạp để giải quyết cái “căn nguyên của mọi căn nguyên” thay vì đối mặt với chính những vấn đề nan giải....

    Lý lẽ của ông chủ

    Trong dân gian Việt Nam có câu chuyện vui kể về một ông quan đi ăn cỗ bị tên hầu ăn hết món ngon nên dọc đường về nhà ông ta dở lý lẽ đạo đức ra hành tên hầu. Tên hầu đi trước ngựa thì ông quát “Láo! Sao mày dám đi trước tao?”. Tên hầu đi ngang ông cũng cáu: “Thằng này hỗn thật! Mày lại dám sánh ngang với ông à?!”. Tên hầu vội lùi lại đi sau ngựa, ông càng cáu: “Thằng mất dạy! Ông là tù hay sao mà mày áp giải ông?”.

    Tên hầu ức đến phát khóc nhưng vẫn cố nén giận từ tốn hỏi chủ: “Con đi kiểu gì ông cũng nói, con biết làm thê nào cho ông vừa lòng?”. Lúc ấy, ông chủ mới nói toạc cội nguồn những lý lẽ của ông, rằng: “Tại sao lúc nãy mày ăn tranh cái bánh rán của tao?”
    Câu trả lời của ông quan bộc lộ cái tâm thế của ông trong lúc đó, cái tâm thế đã đẻ ra những lý lẽ đưa tên hầu vào ngõ cụt. Thực chất của những lý sự mà ông quan đã đưa ra là ông ta đã luôn thay đổi hệ quy chiếu để liên tiếp đặt tên hầu vào vào vị thế của kẻ có tội.

    Khi tên hầu đi trước, thì ông đặt quan hệ hai người vào hệ quy chiếu đạo đức để phê phán nó không nhường bước chủ. Khi nó đi ngang ông, ông lại đặt quan hệ hai người vào hệ quy chiếu quyền lực để cho rằng tên hầu dám tự coi mình bằng vai bằng lứa với ông. Khi tên hầu đi sau lưng ông, ông lại đặt quan hệ của ông với nó vào hệ quy chiếu hình sự để kết tội nó coi ông là tội phạm.

    Ảnh: amthuc365.vn

    Ở đây, quyền lực đã tham dự vào lý luận trong vai trò xoay đảo các chuẩn mực, các hệ toạ độ để xem xét hành vi. Không có lý lẽ nào cãi lại được ông quan vì ông nắm quyền quy định luật chơi!
    Trong cảnh huống lý luận trở thành bình phong để che đậy và triển khai tâm thế thì mọi đối thoại trong bình diện lý luận là những lỗ lực vô bổ. Dù tên hầu có tìm ra lý lẽ sắc sảo để bác bỏ sự qui tội đầy suy diễn của chủ thì anh ta cũng chỉ đưa mình dấn sâu vào tình thế bế tắc, vì mọi lý lẽ sắc sảo của anh ta đều củng cố và tăng cường cái ý tưởng xấu về anh ta trong tâm thức ông chủ, làm bùng lên ngọn lửa tâm thế tức giận.

    Và xét trên bình diện lý luận thì chân lý của anh ta cũng sẽ bắt gặp quyền phủ quyết của ông chủ bởi một siêu lý là: “Mày lại dám dạy khôn ông ư?”, hoặc trắng trợn hơn: ”Ông sai đấy, thì đã làm sao? Mày định đem lý sự để chống lại ông phỏng?”
    Vậy là, trong thân phận kẻ tôi tớ thì dù tên hầu có dùng lý luận xác lập được cho mình một chỗ đứng hợp đạo lý trong không gian thực, thì chính hành vi lý luận đúng đắn đó lại là sự vi phạm luật chơi sâu sắc hơn trong không gian quyền lực. ở đây, cuộc đối thoại không phải là cuộc thẩm vấn trong toà án có luật pháp thẩm định, cũng không phải là cuộc đấu trí trong cuộc chơi có luật chơi bảo đảm công bằng, mà là một cuộc xua đuổi, truy kích của người trên với kẻ dưới, một cách triển khai quyền lực, một hình thức phát lộ tâm thế.

    Tâm thế chi phối cách nhìn, cách nhìn tạo ra lập luận và lập luận lại luôn luôn biến hóa khôn lường nhờ quyền lực luôn luôn đứng cao hơn các chuẩn mực thành văn hoặc bất thành văn. Đó là tấn bi kịch hài lý luận mà tên hầu đã bị ông quan đẩy vào. Cái trớ trêu ở chỗ khi tên hầu chân thành suy nghĩ về đạo lý và đối chiếu những chuẩn mực đạo lý với hành xử của mình thì ông quan kia lại chỉ nghĩ về cái bánh rán mà thôi!

    Hội giả trang của ý chí và quyền lực


    Lý luận kiểu ông quan trong câu truyện trên đây tiêu biểu cho cơ chế hoạt động lý luận trong các xã hội phương Đông - nơi dường như các hoạt động lý luận có xu hướng vượt thoát khỏi những hình tướng ổn định của luật chơi khoa học để vong thân trong những hội giả trang của ý chí và quyền lực. Và như vậy, lý luận khó có thể là chỗ dựa của người dân để đòi quyền sống hay công lý.

    Vì muốn phân biệt đúng sai trong các cuộc tranh cãi nơi tòa án hay trên công luận, thì điều tiên quyết là chuẩn mực xem xét vấn đề phải rõ ràng và ổn định. Nhưng trong xã hội trọng tình, cảm tính và linh hoạt như xã hội Việt Nam thì các chuẩn mực xem xét mọi vấn đề phần lớn tùy thuộc vào con người cụ thể trong bối cảnh cụ thể.

    Nhưng dù trong xã hội Việt Nam cho con người lý luận có lắc lư chảo đảo đến đâu thì cái quan niệm “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” vẫn là một quan niệm ổn định, giống như hòn bi dưới đáy con lật đật. Trong Truyện Kiều có hai phiên tòa quan trọng thì cả hai đều xử theo tình. Trong phiên tòa thứ nhất xử vụ Thúy Kiều bỏ lầu xanh chung sống bất hợp pháp với Thúc Sinh, viên quan mặt sắt đen sì đã tuyên án trị tội Kiều rồi, vậy mà khi thấy Kiều quả thực có tài, người đại diện pháp luật “mặt sắt đen sì” này không ngần ngại phán quyết ngược lại, tha bổng cho Kiều và tuyên bố một luật chơi văn hóa cao hơn luật pháp:

    Đã đưa đến trước cửa công
    Ngoài thì là lý song trong là tình

    Ở phiên tòa thư báo ân báo oán, “chính danh thủ phạm” Hoạn Thư lại được bà lớn Kiều tha bổng cũng chỉ vì Hoạn Thư kể lể chút tình đã giành cho bà lớn.

    Chính cái quan niệm coi trọng tình cảm hơn lý lẽ đã khiến người Việt Nam không ưa kiện cáo, nhưng lại sa đà vào những cuộc đôi co vặt triền miên. Câu thành ngữ "kiến kiện củ khoai" chẳng phải và bằng chứng về tâm lý hoài nghi công lý của của cả một cộng đồng đó sao? Cái tính ghét kiện cáo, hơn ghét bất công, ghét kẻ la làng hơn ghét kẻ cắp vẫn là một căn bệnh trầm kha trong tâm lý người Việt chúng ta hôm nay mặc dù chúng ta đã có rất nhiều cố gắng trong việc xây dung một xã hội pháp quyền.

    Khi thấy dân tình kiện tụng các quan hay khuyên “Sao hai bên không ngồi lại với nhau đi?”. Lời khuyên chân tình đó bộc lộ một quan niệm đầy tính tương đối về chân lý, theo đó, những mâu thuẫn khiến người ta đưa nhau đến tụng đình không phải là những mâu thuẫn về định hướng tư tưởng có liên quan đến số phận của cả một cộng đồng, không phải là những chiến lược khoa học kỹ thuật có thể đưa đất nước lùi lại cả trăm năm…mà chỉ là mâu thuẫn giữa hai cá nhân vì những ấm ức liên quan đến quyền lợi hay danh dự nào đó có thể thu xếp được!

    Cái quan niệm đơn giản và dung tục đó khiến người ta cư xử với những vụ kiện lớn vì đại nghĩa, những kiến nghị lớn vì quốc kế dân sinh…một cách vô trách nhiệm. Những người kiên quyết kiện Vedan và các công ty hủy hoại môi trường như Vedan vì họ muốn có một môi trường sống lành mạnh cho hàng triệu con người, muốn các công ty vào đầu tư ở Việt Nam phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định về môi trường của Việt Nam.

    Những mục đích cao cả này xuất phát từ sự am hiểu về khoa học và tường tận về pháp lý, muốn thuyết phục họ rút đơn hay bác bỏ đơn của họ phải có sự đối thoại khoa học và pháp lý sòng phẳng, nghiêm chỉnh, không thể hòa giải theo lối khuyên nguyên đơn ngồi lại với bị đơn để thỏa thuận những điều kiện gì đó, trong khi vấn đề môi trường đe dọa quốc kế dân sinh trong những đơn từ kiến nghị kia vẫn con nguyên đấy!

    Nghĩa là, không thể phớt lờ khía cạnh khoa học và pháp lý của vấn đề, đem quyền lực ra đẻ xoay đảo chuẩn mực, thay đổi luật chơi theo kiểu ý chí luận, đánh bùn sang ao.
    Ảnh: byu.edu

    Chiếc bánh rán và siêu giải quyết
    Xưa nay, người Việt chúng ta thường có xu hướng tìm kiếm cái cốt lõi đời sống, cái tâm thế sinh tồn đằng sau những vấn đề phức tạp để giải quyết cái “căn nguyên của mọi căn nguyên” thay vì đối mặt với chính những vấn đề nan giải. Chúng ta hay nói, “rốt cục là”, “cốt tuý vấn đề là” , “thực chất là...”, “chung quy là....” chính là chúng ta đang làm cái thao tác giải mã của ông quan khi nói ra vấn đề cái bánh rán trong bữa tiệc kia.

    Chiếc bánh rán tung ra như một siêu giải quyết, đập tan mọi lý lẽ, xóa hết mọi ngụy biện, tên hầu dù đúng đến mấy cũng phải cúi đầu. Đó là dùng bản lĩnh hành động, "dằn mặt" để giải quyết sự bế tắc nan giải của bài toán lý luận mà lịch sử xã hội đặt ra.
    Người ta vẫn nói rằng những bế tắc của lý luận chỉ có thể giải quyết bằng hành động lịch sử hành động trong đời sống xã hội là như vậy đó! Triết lý với cây búa đập vỡ các thần tượng của Nietzsche hay tư tưởng nói rằng “Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí” của K.Marx tuy khác nhau về bản chất nhưng có cùng một định hướng ứng xử theo lối siêu giải quyết.

    Ta cần hiểu siêu giải quyết trong các tư tưởng của họ là siêu giải quyết trong phạm vi toàn xã hội và ở cấp độ những nhiệm vụ lịch sử của môt thời kỳ. Nếu áp dụng máy móc tư tưởng đó vào các việc cụ thể trong đời sống thì chỉ dẫm đến sự can thiệp thô bạo vào lô gích đặc thù cuả một lĩnh vực, đánh tráo vấn đề, xí xoá vô nguyên tắc dẫn đến những hành vi bạo lực vi phạm luật pháp và luật chơi, tương tự như người chơi cờ bị chiếu tướng, không gỡ được nước chiếu bí thì quay sang tát tai đối thủ hay cầm cả bàn cờ đập lên đầu anh ta.
    Tình trạng đơn giản hoá, đánh tráo vấn đề, đánh tráo chuẩn mực, đánh tráo nhiệm vụ đẫn đến đảo ngược công tội, lẫn lộn trắng đen là một hiện tượng khá phổ biến hiện nay, mà cơ chế ở chiều sâu của tâm thức là thói tuỳ tiện manh mún và thực dụng trong nhận định suy tư và lý luận. Lẽ ra phải bắt kẻ cắp thì lại kết tội kẻ la làng là gây ồn, lễ ra phải xem xét phân minh rành rọt là rõ đúng sai trong các quan hệ mâu thuẫn thì lại kêu gọi đoàn kết, bỏ qua....

    Hậu quả của tâm thức ngại lý luận, sợ lý luận, lười lý luận, dùng các hành vi phi lý luận để phủ quyết bản thân hoạt động lý luận sẽ dẫn xã hội đến tình trạng hỗn loạn u mê trong tầng tầng ngộ nhận chân thành và nguỵ biện.

    Đỗ Minh Tuấn

    * Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

    Nguồn: http://tuanvietnam.net

    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  6. #6
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Quote Originally Posted by nbc View Post

    Lý lẽ của ông chủ

    Trong dân gian Việt Nam có câu chuyện vui kể về một ông quan đi ăn cỗ bị tên hầu ăn hết món ngon nên dọc đường về nhà ông ta dở lý lẽ đạo đức ra hành tên hầu. Tên hầu đi trước ngựa thì ông quát “Láo! Sao mày dám đi trước tao?”. Tên hầu đi ngang ông cũng cáu: “Thằng này hỗn thật! Mày lại dám sánh ngang với ông à?!”. Tên hầu vội lùi lại đi sau ngựa, ông càng cáu: “Thằng mất dạy! Ông là tù hay sao mà mày áp giải ông?”.

    Tên hầu ức đến phát khóc nhưng vẫn cố nén giận từ tốn hỏi chủ: “Con đi kiểu gì ông cũng nói, con biết làm thê nào cho ông vừa lòng?”. Lúc ấy, ông chủ mới nói toạc cội nguồn những lý lẽ của ông, rằng: “Tại sao lúc nãy mày ăn tranh cái bánh rán của tao?”

    Câu trả lời của ông quan bộc lộ cái tâm thế của ông trong lúc đó, cái tâm thế đã đẻ ra những lý lẽ đưa tên hầu vào ngõ cụt. Thực chất của những lý sự mà ông quan đã đưa ra là ông ta đã luôn thay đổi hệ quy chiếu để liên tiếp đặt tên hầu vào vào vị thế của kẻ có tội.

    Ngẫm lại câu chuyện dân gian này, nbc thấy trong quá trình hỏi đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp, nếu không cẩn thận người giảng viên cũng rất dễ sa vào tâm thế của ông quan kia: liên tục thay đổi hệ quy chiếu để chất vấn SV, song có thể không phải để tìm ra chân tướng của sự việc, mà để chứng minh rằng mình (GV) đúng, và SV sai.

    Điều này thật tệ hại (cho cả GV và SV), cần phải có đủ "tâm" và "trí" để không sa vào tình trạng ấy.
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  7. #7
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Giáo dục để thành nhân

    Bằng một định nghĩa đơn giản đến bất ngờ nhưng hết sức xác đáng về sự trưởng thành: “Khả năng liên hệ một cách phù hợp với những thực tiễn khác ngoài thực tiễn của cá nhân mình”, Giáo dục vì cuộc sống mở ra cho các nhà giáo, các bậc cha mẹ, các nhà hoạt động xã hội nhận diện cái làm nên sự trưởng thành của một con người không nằm đâu khác ngoài chính bản thân con người...


    Đề kiểm tra học kỳ II môn giáo dục công dân lớp 10 ở một trường THPT có các câu hỏi trắc nghiệm như thế này: câu 3: Lương tâm tồn tại ở mấy trạng thái?; câu 7: Yêu đương quá sớm là điều nên tránh thứ mấy trong tình yêu?; câu 12: Nuôi dưỡng và giáo dục con cái là chức năng thứ mấy của gia đình?

    Đây là đoạn mở đầu của chuyên đề “Môn giáo dục công dân trong trường phổ thông: Khó, khô và... khổ” đăng trên tuần báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 21-09, ra ngày 31-5-2009. Những người được hỏi đều cho biết đã bật cười dù không vui chút nào khi đọc qua đoạn văn trên.

    Có điều gì không nghiêm túc trong đề kiểm tra này? Thật ra cách ra đề là rất nghiêm túc, nhưng ai cũng bật cười vì từ cách ra đề ấy, thiên hạ nhận ra rằng các môn đạo đức, giáo dục công dân, vốn phải là những môn học của cảm xúc, của trải nghiệm, nhưng hiện nay lại được giảng dạy răm rắp trong nhà trường theo đúng kiểu lý thuyết của một hệ thống khái niệm. Chuyện này giống hệt như thay vì cho con trẻ leo lên yên để tập chạy xe đạp, người lớn lại kỳ công giảng giải cho chúng học thuyết về sự cân bằng!

    Nhưng căn bệnh nô lệ kiến thức nào chỉ có ở nước ta! Đọc Giáo dục vì cuộc sống (*), chúng ta sẽ thấy hiện ra một câu chuyện toàn cầu, khi nhân loại thường đánh đồng giữa trí khôn và kiến thức, độc tôn lối giảng dạy lý thuyết đi kèm với việc xem nhẹ những kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống, chăm bẳm đào tạo những năng lực kỹ thuật mà đánh mất các giá trị tinh thần... Các nền giáo dục hiện đang bị điều khiển bởi ước muốn của các bậc cha mẹ.

    Người lớn muốn con cái sau này làm gì? Bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, nhà lãnh đạo, nhà khoa học, hoặc sẽ làm vợ của những nhân vật kể trên? “Bởi vì đa số các bậc cha mẹ muốn con mình có được thuận lợi về vật chất, nên hệ thống giáo dục hiện đại được triển khai chủ yếu dựa theo mục tiêu này. Rất ít quan tâm, nếu không muốn nói là không có sự quan tâm, được dành cho việc giúp học sinh sinh viên thành nhân”.

    Hai chữ thành nhân, theo cách tác giả J. Donald Walters trình bày trong sách, đòi hỏi “thực hành một hệ thống giáo dục chuẩn bị cho trẻ em có bản lĩnh đối đầu với những thử thách của cuộc sống, chứ không chỉ giúp trẻ có được việc làm hoặc thực hiện những đeo đuổi về mặt trí tuệ”, và “toàn bộ cuộc sống là giáo dục, một nền giáo dục không chỉ giới hạn trong những năm tháng đến trường”. Đó cũng chính là mục đích của tác phẩm được các chuyên gia giáo dục của Mỹ đánh giá là “hiện tượng sư phạm hiếm có” này.

    Bằng một định nghĩa đơn giản đến bất ngờ nhưng hết sức xác đáng về sự trưởng thành: “Khả năng liên hệ một cách phù hợp với những thực tiễn khác ngoài thực tiễn của cá nhân mình”, Giáo dục vì cuộc sống mở ra cho các nhà giáo, các bậc cha mẹ, các nhà hoạt động xã hội nhận diện cái làm nên sự trưởng thành của một con người không nằm đâu khác ngoài chính bản thân con người, với bốn công cụ: năng lượng thể chất và sự tự kiềm chế bản thân (1), sự bình ổn cảm xúc và tình cảm mở rộng (2), sức mạnh năng động và sự kiên trì của ý chí (3), trí tuệ sáng suốt và thực tế (4).

    Sự phát triển của một con người phụ thuộc vào sự phát triển toàn vẹn và hoàn thiện của cả “công thức” bốn mặt trên, không được bóp méo hay thổi phồng một mặt nào. Và bằng cách chỉ ra các giai đoạn trưởng thành của trẻ với những năm tháng đặt nền móng, những năm phát triển tình cảm, ý chí, tư duy, Giáo dục vì cuộc sống bàn đến chương trình học trong nhà trường, gợi ý về việc nhân bản hóa cách giảng dạy từ toán, lịch sử đến cả ngoại ngữ. Cuốn sách đề xuất mô hình những ngôi trường mang tên Ananda, theo tiếng Phạn, đó là niềm vui.

    Giáo dục vì cuộc sống còn là một cuộc đối thoại về nghệ thuật sống dành cho mọi người, xứng đáng xếp chung ngăn sách với Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường, Hành trình nội tại của Osho, dù đó không phải là mục đích chính của tác giả - một nhà giáo, nhà văn, nhà thuyết giảng, nhà hoạt động xã hội, nhà soạn nhạc, và một nhiếp ảnh gia, trong tác phẩm này.

    DUYÊN TRƯỜNG

    (*) Giáo dục vì cuộc sống - chuẩn bị cho trẻ em bản lĩnh để đối đầu với những thách thức trong cuộc sống. J.Donald Walters, Hà Hải Châu dịch, NXB Trẻ, 2009.


    Nguồn: TuoiTre Online
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  8. #8
    Sinh viên năm hai boulder's Avatar
    Join Date
    14/03/07
    Posts
    46

    Default

    Chào thầy,

    Em thấy những bài báo thầy sưu tầm có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống hiện nay, là một trong những thách thức rất lớn và nỗi trăn trở của những trí thức thực thụ của xã hội. Nhưng liệu những thách thức ấy, những trăn trở ấy có phải tự nhiên mà nó phát sinh hay không? hay là do chính con người chúng ta tạo nên một cách cố ý và vô tình?

    1. Về thực tại của cái danh, học vị, học hàm, chức vụ chính quyền, chức vụ về Đảng thì đều do xã hội ta tạo nên cả. Hiện nay, đúng như những bài báo đã nói, khi giới thiệu một người là phải giới thiệu đầy đủ tất cả các chức danh, học vị, học hàm và chờ đến dài cái cổ mới nghe thấy cái tên. Tuy nhiên, việc giới thiệu này có khi nào là bắt buộc không? có khi nào là không cần không?
    + Theo em thấy là hầu hết hiện nay khi giới thiệu đều dùng đến nó và hình như điều đó là bắt buộc thì phải. Nếu không giới thiệu thì người ta sẽ không biết người được giới thiệu là ai cả, học hành ra sao, có quyền lực gì không? Và một điều quan trọng hơn với những người được giới thiệu là thấy rất oai thì đúng hơn.
    + Và một lý do nữa là khi giới thiệu đều là lính hết, nếu giới thiệu sếp mình mà chỉ giới thiệu cụt ngủn cái tên không thì có mà "hết đường sống" rồi ấy chứ.
    Thế này chính là do xã hội ta đã quá trọng chức quyền, bằng cấp nên phải làm như thế thôi thầy ạ. Thử hỏi, nếu trong một hội đồng bảo vệ đề tài khoa học này nọ, khi giới thiệu cụt ngủn cái tên không thì sao nhỉ? Thì lập tức những người không biết sẽ nói ngay rằng: "ông này chẳng có tiến sĩ, giáo sư gì hết mà cũng ngồi đây bảo vệ, không biết trình độ của ổng tới đâu đây". Hoặc là đơn giản hơn, khi giới thiệu một thầy hiệu trưởng đứng lên phát biểu, có ai dám giới thiệu là thầy ... gì đó không? hay là phải giới thiệu đầy đủ là GS. TS. Bí thư Đảng ủy nhà trường ....sẽ có vài lời phát biểu với chúng ta??? ---> Cho nên vô hình trung, đôi lúc chúng ta cũng là những người tạo ra cái thói quen đó phải không thầy?

    2. Về chữ DANH, xã hội hiện tại của chúng ta là một xã hội trọng danh dự, trọng bằng cấp mà.
    + Nếu một người đủ trình độ, kinh nghiệm và bản lĩnh để làm lãnh đạo mà không có bằng TS, thử hỏi có được cơ cấu làm lãnh đạo hay không? Ngược lại, nếu muốn bổ nhiệm một vị trí từ cấp trưởng khoa trở lên, trưởng phòng trở lên trong cơ chế hành chính sự nghiệp nhà nước. Có thể không cần bằng TS nhưng nếu không có Đảng thì PA25 cũng không chấp nhận đâu. Đó âu cũng là đặc trưng của chế độ XHCN.
    + Thêm một ví dụ nữa, khi một người viết một bài báo để đăng lên tạp chí khoa học có danh tiếng. Cho là chất lượng bài viết rất tốt, nếu giả sử tác giả bài viết đó chỉ để mỗi họ tên và cơ quan công tác, liệu bài viết đó được đăng hay là phải chờ một thời gian khá dài mới có phản hồi từ Ban biên tập. Ngược lại, nếu để tên tác giả là TS hoặc GS.TS ... thử xem thế nào?
    + Và bằng cấp thì sao, nếu như không có bằng đại học chính quy, bằng cao học, bằng TS thì đừng có mơ sẽ có một việc làm tốt trong các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước. Em thấy như FPT rất hay, làm việc theo kiểu của Microsoft, không quan tâm đến bằng cấp, nếu phỏng vấn ok và làm việc có hiệu quả thì thu nhận và có lương cao. Sau một thời gian nếu thi level lên được thì tăng lương và không quy định bất kỳ một thời gian cụ thể nào. Nếu ai muốn làm lãnh đạo thì phấn đấu đến một mức level nào đó sẽ làm được. Đấy là cái dở của nhà nước.
    ---> Thử hỏi, nếu như chúng ta làm việc trong môi trường nhà nước mà muốn phấn đấu cho sự nghiệp thì phải làm sao? Thì phải có bằng cấp, có Đảng, có nằm trong quy hoạch. Không gì khác ngoài cải Danh, hư là thực mà thực là hư.

    PS. Thưa thầy, còn nhiều điều em muốn viết nữa, những cái nhức nhối của riêng bản thân và những cái đã từng chiêm nghiệm của bản thân. Hẹn ở lần khác ạ. Em cũng còn nhỏ tuổi, chiêm nghiệm cuộc đời chưa nhiều, nếu có quan điểm nào sai lệch thì mong thầy uốn nắn giúp ạ. Tks in advance.
    Let's share to be shared!

  9. #9
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Bài viết sau đây được thực hiện từ năm 2006, nhưng có lẽ cho đến thời điểm này, tình hình cũng chẳng sáng sửa hơn được bao nhiêu, mà có khi còn "tối" thêm vì đầu tư làm đường mới vẫn diễn ra khá đều đặn, nhưng phân bổ nguồn vốn cho công tác bảo trì đường xá thì không tăng theo kịp với tốc độ kia.

    Thiếu kinh phí bảo trì đường bộ: Căn bênh không thuốc chữa?

    08:34' PM - Thứ tư, 01/03/2006

    Năm nay kinh phí cho bảo trì đường bộ chỉ đáp ứng được gần 50% nhu cầu.

    Những năm trước, kinh phí cấp cũng rất thấp và những năm tới đây có lẽ tình hình cũng không khá hơn.

    Bao năm qua, các giải pháp đề ra để giải quyết nguồn tài chính ổn định và lâu dàicho bảo trì đường bộ, đều không khả thi.

    Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án "Nhu cầu vốn cho công tác quản lý bảo trì đường bộ". Theo Đề án này, với toàn hệ thống trên 17.000 km quốc lộ các loại, nhu cầu kinh phí cho 1 năm công tác quản lý và bảo trì là 2.962 tỉ đồng (Tính từ 2004 về trước là 2.062 tỉ đồng/năm.

    Từ 2005, các đường mới được cải tạo nâng cấp, xây dựng mới trong đó có gần 1.000km đường Hồ Chí Minh, sẽ đến chu kì phải sửa chữa định kì, kinh phí tăng lên là 900 tỉ đồng/năm).

    Mặc dù ghi nhận nhu cầu vốn cho bảo trì đường bộ là như vậy, nhưng năm 2005, tổng nguồn vốn kế hoạch được cấp, kể cả bổ sung cho bảo trì đường bộ là 1.001,625 tỉ đồng. Số kinh phí này chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu thực tế.

    Để đảm bảo giao thông, Cục ĐBVN tập trung giải quyết các nhu cầu đột xuất cấp bách như khắc phục các điểm đen, cầu yếu, hậu quả bão lũ, bảo đảm ATGT. Dù vậy, khối lượng đã thực hiện cũng vượt so với kế hoạch vốn trên 40 tỉ đồng.

    Năm 2006, theo thông báo kế hoạch vốn của Bộ Tài chính và Bộ GTVT vừa công bố, kinh phí cho quản lý, bảo trì đường bộ được phân bổ 1.671,46 tỉ đồng.

    Theo ông Đoàn Văn Tiến - Phó cục trưởng Cục ĐBVN thì Cục phải trả trên 300 tỉ đồng nợ khối lượng các đơn vị đã thực hiện từ 2004 về trước, tổng kinh phí còn lại cho năm kế hoạch 2006 chỉ còn 1.300 tỉ đồng cũng chưa đáp ứng được 50% nhu cầu bảo trì đường bộ.

    2005 và 2006 còn là 2 năm kinh phí được cấp lớn nhất. Theo báo cáo của Cục ĐBVN trong Đề án "Nhu cầu vốn cho công tác quản lý bảo trì đường bộ" trình Thủ tướng Chính phủ, thì thực tế qua các năm từ 1993-2002, nguồn vốn sửa chữa đường bộ được cấp quá thấp.

    Nếu trừ nguồn kinh phí duy tu sửa chữa thường xuyên hàng năm, số kinh phí còn lại cho công tác sửa chữa định kì (gồm sửa chữa vừa và sửa chữa lớn) chỉ thực hiện được khối lượng rất thấp so với khối lượng cần được sửa chữa theo chu kì.

    Năm cao nhất (năm 2001) chỉ đạt 17,7% khối lượng cần được sửa chữa. Năm thấp nhất (năm 2000) chỉ đạt 12% khối lượng cần sửa chữa theo chu kì. Đó là chưa tính phần khối lượng xây dựng cơ bản.

    Các đơn vị sửa chữa và bảo dưỡng đường bộ cho biết: Sửa chữa định kì, theo quy trình thì cứ định kì 5 năm/lần tiến hành sửa chữa vừa và 15 năm/lần sửa chữa lớn đường loại bêtông nhựa; hoặc 4 năm/lần sửa chữa vừa và 12 năm/lần sửa chữa lớn loại đường đá nhựa thấm nhập v.v... Song nhiều tuyến quốc lộ quan trọng cũng phải đến 2-3 chu kì mới có thể sửa chữa định kì một lần.

    Tuyến QL21 từ ngày đầu tư xây dựng mới đến vừa qua là trên 30 năm mới có thể tiến hành sửa chữa lớn, mà cũng chỉ triển khai được trên một phần tuyến đường.

    Công tác bảo dưỡng thường xuyên cũng chỉ có thể đảm bảo những hạng mục cốt tử nhất là vá lấp ổ gà, khơi thông cống rãnh, phát quang mở rộng tầm nhìn, sơn lại vạch sơn, bổ sung cọc tiêu biển báo.

    Trong khi Tiêu chuẩn kĩ thuật bảo dưỡng thường xuyên đường bộ 22 TCN 306-03, Định mức bảo dưỡng thường xuyên đường bộ quy định rất cụ thể tới 33 hạng mục công việc (đối với đường bê tông nhựa 7 mét).

    Không có đủ tiền dành cho bảo trì đường bộ có nghĩa là công tác bảo trì đường không được thực hiện kịp thời, không đúng chu kì, khiến cho việc đi lại kém thuận lợi, kém an toàn và làm cho đường chóng hư hỏng xuống cấp.

    Thiếu tiền cho bảo trì đường còn có nghĩa là chồng chất thêm gánh nặng cho việc đầu tư xây dựng mới, vốn đã rất khó khăn do đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn.

    Nói về vốn cho bảo trì đường bộ, thì đa số các nước trên thế giới đều không sao có đủ tiền cho công tác này nếu chỉ trông vào ngân sách Nhà nước cấp hàng năm.

    Thêm nữa, là nguồn chi ngân sách luôn không ổn định vì phải phụ thuộc vào thu ngân sách hàng năm. Đa số các nước đã đi đến giải pháp chung là thành lập Quỹ bảo trì đường bộ.

    Quỹ này có thể tập hợp nhiều nguồn thu: Phí sử dụng đường bộ, phí đường bộ thu qua giá xăng dầu, thu qua giá săm lốp, thu từ trông giữ xe, từ đấu thầu quyền thu phí đường bộ v.v... tuỳ theo chính sách cụ thể của từng quốc gia. Mục đích của quỹ là sử dụng chi riêng cho bảo trì đường bộ, nhằm đảm bảo nguồn tài chính ổn định và lâu dài cho công tác quản lý, bảo trì đường bộ.

    Vì hệ thống đường bộ được coi là một tài sản khổng lồ có sinh lãi. Việc đầu tư đầy đủ cho quản lý và bảo trì được coi là một công việc kinh doanh nhằm bảo toàn vốn và sinh lời, nên được tính toán khoa học và thực hiện tốt.

    Trên thế giới hiện có khoảng trên bảy chục quốc gia đã thành lập Quỹ này. CHDCND Lào, năm 2003 vừa qua cũng đã đưa vào vận hành Quỹ bảo trì đường bộ. VN từ những năm 1996 đã đặt vấn đề sớm thành lập Quỹ bảo trì đường bộ. Từ đó đến nay, vấn đề được nhắc lại 2-3 lần nữa.

    Song theo Cục ĐBVN, cả năm 2005 việc thành lập Quỹ này không được bàn thảo đến và không biết là VN bao giờ sẽ thành lập, thậm chí có thành lập Quỹ này nữa hay không.

    Trong khi đó, một số kế hoạch tìm nguồn vốn cho bảo trì đường bộ như nhượng quyền thu phí các quốc lộ, đã không thực hiện được, và đường bộ vẫn tiếp tục hết năm này đến năm khác thiếu trầm trọng kinh phí bảo trì.
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  10. #10
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Nguyên Phó Thủ tướng chỉ ra khuyết điểm công tác cán bộ

    Cập nhật lúc 06:36, Thứ Tư, 12/08/2009 (GMT+7)
    ,
    Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh chỉ ra những khuyết điểm trong công tác cán bộ: quan niệm không rõ về tranh luận dân chủ, không tôn trọng người trẻ, coi nhẹ chuyên gia, không ưa những người có tài trội hơn mình, thiên vị với người thân, thành kiến, gạt bỏ những người có quan niệm, ý kiến trái với mình...

    "Đức" thể hiện ở dân chủ

    Lịch sử chứng minh rằng: Ở mọi thời đại, mọi quốc gia dân tộc, nếu không có những nhân tài - người vừa có đức vừa có tài ở tầm quốc gia và ở cơ sở - thì không có sự phát triển, không có tiến bộ xã hội. Không có những nhân tài ở tầm quốc gia nắm trọng trách lãnh đạo, quản lý nhà nước, thì đất nước dậm chân tại chỗ, hoặc thụt lùi, sa sút. Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài là nội dung quan trọng nhất trong công tác cán bộ của Đảng, của từng đảng bộ, từng cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành.


    Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh (trái) giờ giải lao một phiên họp của Đoàn chủ tịch UBTƯMTTQVN. Ảnh: VA
    Thế nào là đức? Theo tôi, đức hiểu theo hai phạm trù: Đạo đức của người công dân và đạo đức của người lãnh đạo. Đạo đức của công dân, con người Việt Nam được thể hiện ở phẩm chất giàu lòng nhân ái “thương người như thể thương thân”, sống trong sáng, làm điều thiện...

    Đạo đức của người lãnh đạo không chỉ bao gồm đạo đức công dân, mà còn phải bao gồm cả đạo đức của người lãnh đạo - đạo đức cách mạng.


    Điều đó thể hiện trước hết ở trung thành với lý tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Trung thành nhưng không thụ động, giáo điều, bảo thủ, trì trệ, né tránh khó khăn, ngại những thay đổi tiến bộ có lợi cho cách mạng, cho Đảng, cho dân. Như vậy, nội dung đức của người cán bộ, người lãnh đạo có thay đổi, có khác nhau trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau. Đức còn phải thể hiện ở trung thực, dân chủ trong công tác cán bộ và trong công tác lãnh đạo.


    Thế nào là tài? Theo tôi, tài phải hiểu theo yêu cầu của vị trí công tác. Cán bộ chuyên môn, thực hành cần giỏi về kỹ thuật, kỹ năng. Cán bộ lãnh đạo chính trị, tham mưu, tư vấn ở cấp đề ra đường lối, chính sách ở loại công việc về lao động trí óc cần có năng lực tư duy, tổng hợp, năng lực khái quát, trừu tượng hóa.


    Trong một người, đức và tài không tách biệt mà hòa quyện chặt chẽ. Tuy nhiên, không ít người đức mỏng hơn tài hoặc ngược lại. Nhưng đã lựa chọn người làm cán bộ lãnh đạo, quản lý thì phải có đức, tài tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Nếu không, sẽ hỏng cả cán bộ và thiệt hại cho Đảng, cho dân.


    Thiếu đức, kém tài, bố trí lãnh đạo làm gì?


    Nếu thiếu đức và kém tài thì sao gọi được là cán bộ lãnh đạo, bố trí vào vị trí lãnh đạo để làm gì? Hiện tượng chảy máu chất xám đang nhắc nhở chúng ta về việc trọng dụng người có đức, có tài. Đồng thời, nguy cơ tụt hậu xa hơn, cả về kinh tế và xã hội, cũng nhắc nhở chúng ta, nhắc nhở Đảng ta về vấn đề cốt tử này.


    Trong việc phát hiện và bồi dưỡng, sử dụng nhân tài ở nước ta thời gian qua không ít khuyết điểm. Có nhiều nguyên nhân, trong đó các nguyên nhân chủ quan cần đặc biệt chú ý đến:


    Nguyên nhân về nhận thức, quan niệm không đúng, không đầy đủ về đức và tài, về người có đức, người có tài trong các thời kỳ lịch sử khác nhau; định kiến, thành kiến về thành phần giai cấp, thành phần xuất thân, về cơ cấu thành phần địa phương trong cơ quan lãnh đạo, quan niệm máy móc, khắt khe về lối sống, cách sinh hoạt của cá nhân; quan niệm không rõ về giữ gìn đoàn kết nội bộ và thảo luận, tranh luận dân chủ, thẳng thắn trong tổ chức; không tôn trọng người còn trẻ chưa có kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý; chú trọng cán bộ lãnh đạo, quản lý, coi nhẹ chuyên gia, cán bộ nghiên cứu, coi trọng kinh nghiệm hơn tri thức khoa học...

    Nguyên nhân về tư tưởng của những cán bộ trong cơ quan lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị như: đố kỵ, kèn cựa, không ưa những người có tài trội hơn mình, thiên vị với người thân, thành kiến, gạt bỏ những người có quan niệm, ý kiến trái với mình... Những biểu hiện về nhận thức và về tư tưởng thường có quan hệ chặt chẽ với nhau.

    Những yếu kém, khuyết điểm tạo một thực trạng nghịch lý là lực lượng cán bộ của Đảng và Nhà nước ta rất phong phú, nhân tài không ít mà trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý lại thiếu hụt cán bộ tài năng.

    Từ nhận thức và tư tưởng không đúng, không rõ dẫn đến những sai lệch về phương pháp: Lựa chọn để phát hiện cán bộ một cách hình thức qua phiếu tín nhiệm trong khi chưa chuẩn bị tốt về tư tưởng cho những người được hỏi ý kiến và bỏ phiếu, cán bộ lãnh đạo không tìm hiểu kỹ lưỡng qua tiếp xúc trực tiếp, thu hẹp nguồn đối tượng lựa chọn vào những cán bộ đã ở cơ quan lãnh đạo, quản lý kế cận; thiếu phương pháp khoa học và tinh thần dân chủ trong việc nhận xét, đánh giá hiệu quả công tác, chế độ trách nhiệm và thẩm quyền giữa tập thể và cá nhân không rõ, làm cho khó thấy rõ người giỏi; áp dụng máy móc tiêu chuẩn về trình độ học vấn, bằng cấp, qua trường lớp quy định...

    Những yếu kém, khuyết điểm về nhận thức, tư tưởng và phương pháp đã hạn chế kết quả phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng những người có đức, có tài trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tạo một thực trạng nghịch lý là lực lượng cán bộ của Đảng và Nhà nước ta rất phong phú, nhân tài không ít mà trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý lại thiếu hụt cán bộ tài năng. Điều này dẫn đến nguy cơ làm giảm khả năng cạnh tranh và kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.

    Trong cơ chế phát hiện người có đức, có tài, không nên thu hẹp đối tượng phát hiện chỉ trong phạm vi những cán bộ đã và đang công tác ở vị trí chức vụ gần sát với yêu cầu sử dụng đề bạt. Cần mở rộng nguồn phát hiện, tới những cán bộ xuất sắc, có triển vọng ở cấp dưới nữa, và rất coi trọng phát hiện trong những cán bộ, chuyên viên nghiên cứu giỏi.

    Phát hiện nhân tài cần có quan điểm đúng về thành phần giai cấp, thành phần xuất thân, không định kiến, không máy móc, cứng nhắc, ấu trĩ.

    Cần đặc biệt nhấn mạnh khả năng và trách nhiệm của bí thư cấp ủy, của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phát hiện, giới thiệu nhân tài. Theo quan niệm của tôi, một trong những điểm thể hiện trách nhiệm và tài năng của bí thư đảng, của người đứng đầu cơ quan là thấy được, phát hiện được và giới thiệu được nhân tài - cán bộ giỏi, đức độ để làm cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước.


    Lập hội đồng tư vấn


    Sau khi có cơ chế phát hiện nhân tài để quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng, cần thành lập một bộ phận tại Ban Tổ chức Trung ương để nghiên cứu, theo dõi sâu việc thực hiện các quy định trong cơ chế.


    Cần cân nhắc kỹ việc thành lập Hội đồng tuyển chọn người có đức, có tài để bố trí vào các cơ quan lãnh đạo quản lý của Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Đây là Hội đồng tư vấn hay Hội đồng có thẩm quyền quyết định tuyển chọn?


    Ở một vài nước, Hội đồng tuyển chọn nhân tài có quyền hạn rất lớn, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu nhà nước (tổng thống hoặc thủ tướng). Theo thể chế quản lý cán bộ ở nước ta hiện nay, hình thức này không phù hợp.


    Nên lập những Hội đồng tư vấn tuyển chọn cán bộ tài năng, giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng hoặc Ban Tổ chức Trung ương xem xét, thẩm định những trường hợp cụ thể. Chỉ nên lập những Hội đồng tư vấn này khi cần thiết, không phải là cơ quan tư vấn thường xuyên.


    Thành phần các Hội đồng này là những cán bộ có uy tín, có hiểu biết rộng, không nên có thành viên là lãnh đạo đương chức của cơ quan, tổ chức cần tuyển chọn cán bộ.


    Nguyễn Khánh

    Ủy viên Đoàn chủ tịch UBTƯMTTQVN
    Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng

    Nguồn: VietNamNET
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

Page 1 of 14 12311 ... LastLast

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •