Page 2 of 14 FirstFirst 123412 ... LastLast
Results 11 to 20 of 139

Thread: Đọc và suy ngẫm

  1. #11
    G.Viên Khoa
    Join Date
    13/03/07
    Posts
    685

    Default

    Tản mạn về mảnh bằng Ph.D

    Những năm gần đây có khá nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Mỹ và nhiều nước khác, bằng nhiều con đường khác nhau. Người có học bổng, chức trợ giảng (teaching assistant - TA), hoặc trợ nghiên cứu (research assistant - RA), người thì du học tự túc. Tôi không nhớ chính xác là đã đọc ở đâu đó rằng có hơn nghìn du học sinh mỗi năm sang Mỹ. Nhiều người trong số họ theo học tiến sĩ (Ph.D).

    Thông tin về làm thế nào để xin học bổng, TA, RA, xin thư giới thiệu, cách viết dự định cá nhân (personal statement), vân vân đầy rẫy trên các mailing lists trên Internet.

    Thế nhưng, một số câu hỏi quan trọng mà tôi ít thấy sinh viên hỏi là: "tại sao lại học Ph.D?", "có đáng bỏ thời gian học Ph.D hay không?", "làm thế nào để đánh giá mảnh bằng Ph.D?", "tôi có đủ khả năng để học Ph.D hay không?", "học Ph.D xong rồi làm gì?", vân vân.

    Có lẽ ta cần một luận án ... Ph.D để trả lời phần nào thỏa đáng các câu hỏi trên. Cũng có lẽ có ai đó trong các ngành giáo dục hay tâm lý học đã làm rồi. Về mặt kinh tế thì một người bạn cho tôi biết đã có cả mớ công trình nghiên cứu về “cái giá của giáo dục” (returns to education).

    Trong bài viết này, tôi thử lạm bàn lan man xung quanh các câu hỏi trên. Bài viết hoàn toàn không mang tính hàn lâm (academic), nghĩa là sẽ không có các con số thống kê, bảng phân tích, để ủng hộ một (vài) luận điểm nào đó. Sẽ không có tham khảo đến các nguồn thông tin tín cẩn và các thứ tương tự. Tác giả chỉ dựa trên các kinh nghiệm, quan sát, và suy nghĩ cá nhân, sau gần chục năm học và "hành nghề" Ph.D ở Mỹ.



    Tôi chắc là một cá nhân khác trong hoàn cảnh của tôi sẽ có không ít ý kiến bất đồng. Tôi cũng không có tham vọng nói hết được những cóp nhặt kinh nghiệm của mình. Ngoài ra, tôi sẽ nhấn mạnh nhiều hơn mặt trái của việc học Ph.D.

    Ðiều tôi hy vọng là qua bài viết này, tôi có thể giúp cho các sinh viên (cùng gia đình) sẽ và đang học Ph.D ít nhiều chuẩn bị tinh thần cho đoạn đường chông gai nhưng thú vị này; hy vọng chỉ ra được một góc nhìn khác về Ph.D so với quan niệm chung của xã hội.



    1. Ph.D là gì ?


    Trước hết ta hãy thử bàn về mảnh bằng Ph.D từ cái nhìn hàn lâm. Ph.D là viết tắt của chữ Doctor of Philosophy. Học bậc Ph.D, cao nhất trong các học bậc, đầu tiên xuất hiện ở Ðức, sau đó được Mỹ và nhiều nước phương tây khác sử dụng. Bằng Ph.D đầu tiên của Mỹ xuất hiện khoảng cuối thế kỷ 19. (Ơ Y' cho đến những năm 1980 mới có bằng Ph.D.)

    Từ Ph.D có gốc latin là Philosophiae Doctor. Chữ doctor nghĩa là "thầy" (teacher), và "chuyên gia", "chức trách" (authority). Chữ philosophy (triết học) có nguồn gốc từ thời trung cổ (medieval) ở Châu Ảu, khi mà các trường đại học có bốn chuyên khoa (faculty) chính: thần học (theology), luật học (law), y học (medicine), và triết học (philosophy). Philosophy ở đây dùng để chỉ các ngành học không dẫn đến một nghề nghiệp thực tế nhất định của thời đó như người của nhà thờ, luật sư, và bác sĩ.

    Ðến nay thì không phải Ph.D nào cũng liên quan đến philosophy, cho dù lấy theo nghĩa bóng nhất của từ này. Tuy nhiên chữ doctor vẫn mang đầy đủ ý nghĩa của nó. Ở phương Tây, trong nghi thức giao tiếp người ta gọi một người có bằng Ph.D là doctor. Hầu hết các trường đại học đều đòi hỏi toàn bộ giảng viên và các giáo sư có bằng Ph.D. Ða số các nhà nghiên cứu ở các phòng nghiên cứu chuyên nghiệp đều có bằng Ph.D.

    Tuy vậy, điều ngược lại không đúng: không phải tất cả các Ph.D đều có thể làm giảng viên, giáo sư, hay nghiên cứu viên. Có những Ph.D thậm chí chẳng bằng một kỹ sư thông thường. Cũng có khá nhiều Ph.D, sau khi "hành nghề" một thời gian thì lên chức, hoặc chuyển sang làm salesman hoặc làm quản lý, vân vân. Ta sẽ quay lại đề tài này sau.

    Cái nhìn hiện đại của Ph.D như sau. Ðể hoàn tất Ph.D, sinh viên phải đạt được hai mục tiêu chính: (a) hoàn toàn tinh thông một ngành (hoặc phân ngành) nào đó, và (b) góp phần mở rộng khối kiến thức của nhân loại về ngành đó.

    Mục tiêu (b) là cái lõi để phân biệt bậc Ph.D với các bậc học khác. Ph.D không phải là cái bằng "nhai lại": đọc nhiều, thi lấy điểm cao là xong. Một Ph.D đúng nghĩa phải có một vài công trình và ý tưởng nghiên cứu của riêng mình (originality).

    Về mặt lý thuyết thì là thế. Thực tế ra sao?



    2. "Nghề" Ph.D: đoạn trường cũng lắm chông gai


    Ở Mỹ, là sinh viên sau đại học (graduate student) cũng là một nghề. (Tôi không dùng từ "nghiên cứu sinh" vì không phải graduate student nào cũng làm nghiên cứu thực thụ, nhất là các sinh viên đang học thạc sĩ.) Các graduate students thường làm TA hoặc RA, với mức lương khoảng 900USD đến 1200USD một tháng (sau thuế), tiền học được bao. Sống tằn tiện thì mức lương này vừa đủ một người sống. Thường thì các gradudate students sống chui rúc trong một căn hộ nhỏ bé nào đó (dĩ nhiên là có ngoại lệ, đa phần do may mắn), hầu hết thời gian dùng ở các phòng lab (phòng thí nghiệm hoặc phòng máy tính) và thư viện. Tối về đến nhà là lăn ra ngủ để rồi sáng mài mèo con lại hớn hở bút chì bánh mì lên đường.

    Kể chuyện cuộc sống gradudate students thì có lẽ cần một tiểu thuyết vài trăm trang. Ðiều tôi muốn đề cập là: trong hoàn cảnh làm việc căng thẳng như vậy, một sinh viên thông thường thỉnh thoảng sẽ phải tự đặt câu hỏi "có đáng không?" Nhất là khi công việc học tập và nghiên cứu không trôi chảy. Mà kể cả khi nó hoàn toàn trôi chảy, tính về các mặt kinh tế, tinh thần, thời gian, và ... philosophy, câu hỏi trên vẫn hoàn toàn hợp lệ.

    Về mặt kinh tế thì lương trung bình của Ph.D ra trường có nhỉnh hơn thạc sĩ (M.S) và bậc đại học (B.S) một chút, nhưng sự khác biệt này không khỏa lấp được lỗ lã cho thu nhập đã mất trong khoảng thời gian làm Ph.D: trung bình từ 4 đến 5 năm. Tính tổng số USD kiếm được cho mỗi giờ học tập thì Ph.D là hạng bét (tính tương đối theo từng ngành học).

    Về mặt tinh thần thì làm việc căng thẳng và cật lực trong một thời gian dài trong một môi trường cạnh tranh tương đối công bằng nhưng khắc nghiệt (!) hoàn toàn có thể ảnh hưởng xấu đến tâm lý cá nhân. Ðiều này đặc biệt đúng với sinh viên du học: thiếu thốn các nhu cầu văn hóa và tinh thần cơ bản của quê hương, cơ hội tìm bạn tình hoặc bạn đời bị giảm thiểu (với phái nam), vân vân. Không phải hiếm mà người ta hay thấy bọn Ph.D hơi ... gàn gàn. Công bằng mà nói, gradudate students do thiếu thốn văn hóa hay tìm cách nghiên cứu học hỏi thêm cái này cái khác ngoài ngành của mình (nhạc, thơ, lịch sử, chính trị, triết học, ...), cho nên bọn gàn cũng có thể rất đa tài. Ở Mỹ thì địa vị xã hội của một Ph.D cũng chẳng hơn gì các nghành nghề khác là mấy.

    Yếu tố tinh thần này rất quan trọng. Có không ít các gradudate students cần đến 8, 9 năm mới làm xong Ph.D. Nhiều năm trời "ở mãi kinh kỳ với bút nghiên", ngoảnh đi ngoảnh lại chưa làm được gì ra hồn mà đã ngoài 30. Khi thị trường việc cho Ph.D bị thuyên giảm thì người ta rơi vào cái vực muôn thuở: "về hay ở", "về thì đâm đầu vào đâu?". Nhiều năm làm việc với mức lương vừa đủ sống, các Ph.D mới ra trường hoàn toàn không dành giụm được gì, chưa nói đến việc nợ thẻ tín dụng kha khá. Dù các nhà chức trách đã có kế hoạch đãi ngộ nhân tài, chế độ này vẫn còn xa rời thực tế. Ðầu tư tinh thần và thời gian của một Ph.D quá nhiều để có thể hài lòng với một công việc một vài triệu đồng một tháng. Họ sẽ phải tự hỏi: nếu xưa mình không đi học thì bây giờ cũng có thể đã phây phây lương vài triệu một tháng? Vậy cả chục năm trời bỏ ra công cốc à? Tôi đã nhập nhằng yếu tố tinh thần và kinh tế, nhưng đôi khi ta không tách rời chúng được.

    Một khía cạnh khác của yếu tố tinh thần là sức ép của gia đình và người thân. "Người ta 4 năm đã xong Ph.D, vợ con nhà cửa đàng hoàng, bọn không Ph.D thì cũng giám đốc với trưởng phòng, xây nhà to cửa rộng cho bố cho mẹ; còn mày bây giờ ngoài 30 mà vẫn cứ lông bông tay trắng. Ông chẳng ra ông, thằng chẳng ra thằng".

    Về mặt triết học mà nói thì có đáng học Ph.D không? Câu hỏi này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân sinh viên: đi học Ph.D để làm gì? Ta sẽ quay lại điểm này trong phần tới.

    Bây giờ hãy giả dụ cô/anh Ph.D yêu dấu của ta tìm được một công việc ổn định ở nước ngoài, quyết định ở lại tích lũy tư bản giúp gia đình và tích lũy kinh nghiệm để sau này, cách này hay cách khác, (về) giúp quê hương. Có hai nhánh công việc chính cho một Ph.D mới ra trường: (a) làm việc ở một phòng nghiên cứu chuyên nghiệp nào đó, và (b) một chân giảng viên hoặc giáo sư ở một trường đại học.

    (Hai công việc này có thể chỉ có được sau một vài năm làm postdoc nữa . Ta hãy cứ gộp luôn postdoc vào tổng thời gian cho tiện, mặc dù lương postdoc khá hơn lương gradudate students.)

    Lương bổng và giá trị của vị trí mới phụ thuộc hoàn toàn vào việc người ta đánh giá Ph.D như thế nào. Tôi sẽ bàn về việc này trước. Tôi cũng có ý nói lan man vềđề tài "định trị Ph.D" sau khi đọc một bản tin ở VNExpress thấy trong nước người ta có nói về đánh giá Ph.D loại "giỏi, khá, trung bình" (sau một buổi họp nào đó). Phạm vi "định trị Ph.D" của tôi chủ yếu áp dụng cho các nghành kỹ thuật và khoa học tự nhiên như điện, điện tử, khoa học máy tính, toán, lý, ...

    Khi xưa thì giá trị của một Ph.D mới ra trường tùy thuộc vào giá trị công trình nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp. Sau khi ra trường thì doctor mới sẽ phát triển công trình này thành một vài bài báo đăng ở các tạp chí (journals) và hội nghị (conference) chuyên ngành. Các bài báo này đều được phê bình (reviewed) bởi các chuyên gia đã trưởng thành trong cùng ngành. Các bài báo không đóng góp gì nhiều hoặc vớ vẩn sẽ không được nhận đăng.

    Hiện nay thì áp lực đăng báo (publication) của graduate students khi còn đang học lớn hơn gấp bội. Một công việc kha khá ở một trường đại học hay phòng nghiên cứu danh tiếng thường nhận doctor mới với hơn chục bài báo. Trung bình một giáo sư trẻ mới ra trường trong ngành khoa học máy tính có đến khoảng 3-5 journal papers và cả chục conference papers.

    Dĩ nhiên số lượng là thứ yếu, chất lượng mới quan trọng. Một công trình chất lượng cao sẽ được nhiều người biết đến rất sớm, và có thể nói không ngoa là nó quan trọng hơn cả trăm bài báo dạng ... "bổ củi". (Bổ củi là tính từ dân gian trong giới khoa học Việt Nam để chỉ các bài báo thường thường bậc trung, ai làm mãi rồi cũng xong.)

    Ðối với Ph.D ở Mỹ thì điểm học trung bình khi học Ph.D hầu như không mang ý nghĩa gì cả, ngoại trừ điểm tối thiểu để có thể được tiếp tục học, khoảng chừng 3.3 đến 3.5 trên 4.0, tùy theo trường. Số lượng và chất lượng các bài báo và các công trình nghiên cứu khác (một ứng dụng máy tính chẳng hạn) mới là tiêu chí đánh giá Ph.D. Không có chuyện người ta xếp loại Ph.D trung bình, yếu, giỏi, khá, vân vân. Lý do chính là: làm chuyện này hầu như là vô vọng. Ai có đủ thẩm quyền và thời gian để đánh giá. Kể cả giáo sư hướng dẫn chưa chắc đã biết hết về phân ngành mà sinh viên của mình làm, huống gì người ngoài. Có rất nhiều công trình đăng báo vài năm hoặc vài chục năm sau người ta mới thấy hết giá trị của nó. Cũng có cả tỉ công trình lúc mới đăng thì ai cũng xúm vào khen, nhưng vài năm sau thì lặng tăm.

    Dĩ nhiên có khá nhiều các công trình mà người trong ngành đọc biết ngay là "dỏm" hay "xịn". Nhưng vấn đề chính là không ai có thời gian xếp loại và định trị Ph.D. Ở Mỹ, kinh tế thị trường tương đối công bằng. Ph.D giỏi sẽ được đồng nghiệp biết đến, tìm được việc ở các trường đại học và phòng nghiên cứu danh tiếng, vân vân. Cũng có thể có Ph.D giỏi không tìm được việc, hoặc Ph.D dỏm "lọt lưới" cung cầu. Các trường hợp này đều là ngoại lệ hiếm hoi.

    Lại nói thêm về đăng báo. Ta hãy nhớ mục tiêu (b) của Ph.D: đóng góp vào khối kiến thức của nhân loại. Ph.D mà không có bài báo nào thì có 10 Ph.D cũng hoàn vô nghĩa, theo nghĩa tinh khiết nhất của chữ Ph.D. Chí ít, Ph.D phải chia xẻ các thu lượm và nghiên cứu của mình với đồng nghiệp ở một vài hội nghị và journal danh tiếng nào đó.

    Các nhà xuất bản khoa học ở phương Tây cũng làm kinh tế. Có rất nhiều các hội nghị và journals hạng bét, bài vớ va vớ vẩn cũng đăng vào được. Chỉ có người trong ngành mới biết được hội nghị và journal nào có uy tín. Mà kể cả ở các nơi có uy tín này ta vẫn có thể tìm thấy các bài báo tồi.

    Tóm lại, công việc "định trị Ph.D" hoàn toàn không đơn giản chút nào. Áp lực phải đăng báo đè rất nặng lên vai các gradudate students. Ngược lại, cảm giác công trình của mình được đồng nghiệp công nhận và đánh giá cao cũng rất tuyệt vời!

    Trong 5, 6 năm đầu sau khi ra trường, bất kể công việc là giáo sư hay nghiên cứu viên, áp lực viết báo và xin tiền làm nghiên cứu còn nặng hơn khi còn là sinh viên nữa.

    (Ở đây ta loại trừ các trường hợp người ta chỉ muốn có Ph.D để theo đuổi nghề giảng viên (lecturer) nào đó. Có lẽ phải khẳng định rằng mục tiêu này cũng cao quí như các mục tiêu "cạnh tranh khắc nghiệt" khác.)

    Nếu Ph.D trẻ không khẳng định được mình trong 5, 6 năm đầu tiên này thì thường là sẽ không giữ được công việc của mình. Có lẽ bạn đọc cũng có thể tưởng tượng được áp lực này nặng như thế nào. Các bài báo đều là các công trình sáng tạo mà trước đó chưa có ai làm, chưa có ai nghĩ ra (chí ít là về nguyên tắc). Làm thế nào mà ai đó có thể đảm bảo một năng suất sáng tạo nhất định trong một thời gian dài như vậy? Có đáng bỏ ngần ấy thời gian và công sức cho một mục tiêu mà phần thưởng về cả kinh tế, tinh thần, triết học, sức khỏe đều khá mập mờ?

    3. Tại sao lại học Ph.D? Có nên học Ph.D không?
    Ta thử ghi ra đây một phần nhỏ các lý do:


    a) Bạn bè đều đi nước ngoài học sau đại học.
    b) Ðược xã hội nể trọng, oách ra phết.
    c) Ðể học được kiến thức tiên tiến.
    d) Không rõ lắm. Từ bé học đã giỏi, thì cứ tiếp tục học.
    e) Có lẽ là con đường duy nhất để cải thiện đời sống gia đình và cá nhân.
    f) Ðể mở tầm mắt ra những chân trời mới.
    g) Ðể sau này về làm giáo sư đại học.
    h) Ðể được làm nghiên cứu khoa học.
    i) Ðể thay đổi thế giới quan.
    ......
    z) Tất cả các lý do trên.

    Và z phẩy) Không làm Ph.D thì làm gì?

    Ðối với đa số gradudate students và graduate-students-tương-lai thì câu trả lời là một tập con khá lớn của vài tá câu trả lời mà ai cũng có thể nghĩ ra.

    Ta hãy thử phân tích vài chọn lựa quan trọng nhất.

    Làm Ph.D để mở mang kiến thức. Ðây là một mục tiêu rất quan trọng và mang tính cá nhân. Mark Twain từng nói: "đừng để trường lớp cản trở con đường giáo dục của bạn" (Don't let school get in the way of your education). Trường lớp không phải là con đường duy nhất đến Rome của tri thức. Tuy vậy, trong hoàn cảnh lạc hậu của một nước thế giới thứ ba như Việt Nam ta, thì ra nước ngoài học thêm là con đường hữu lý.

    Câu hỏi chính mà ta nên đặt ra là chỉ nên học M.S thôi, hay là học cả Ph.D. Chỉ về kiến thức mà nói, thì hai năm M.S cũng đủ cho một sinh viên thông minh sau đó tự học. Làm Ph.D cũng đa phần là tự học thôi.

    Làm Ph.D để có một cuộc sống tốt đẹp hơn, được xã hội nể trọng hơn; vì bạn bè ai cũng học Ph.D; có bằng Ph.D rất oách; từ bé đã học giỏi thì cứ tiếp tục học; vân vân.

    Một Ph.D thực thụ sẽ cho bạn biết rằng các lý do loại này đều là sai lầm to lớn! Tôi hoàn toàn không có ý định "giảng đạo" về chọn lựa cá nhân của ai. Tôi cũng không nói động cơ "hám bằng cấp" hay "oai oách" là sai trái. Ðó là chọn lựa của từng cá nhân. Ðiểm tôi muốn nói là các động cơ loại này sẽ không thể giúp sinh viên hoàn thành tốt việc học Ph.D. Việc hay so sánh mình với bạn bè và người khác sẽ tạo nên áp lực tinh thần không thể chịu nổi trong khi học. Yêu thích "tiếng tăm" cũng vậy. "Học giỏi", theo nghĩa ở ta, là thi thố điểm cao và "nhai lại" những gì được dạy, cho nên học giỏi chưa chắc đã liên quan mấy đến khả năng sáng tạo - khả năng sống còn của Ph.D.

    Từ khóa dẫn đến thành công của sinh viên Ph.D phải là “đam mê". Ðam mê học hỏi và sáng tạo trong một phân ngành nhất định! Trừ những người thật sự xuất chúng thì đa số chúng ta sẽ không thể làm thành công Ph.D ở một ngành nào đó chỉ vì "xã hội cần nó", hay "nó kiếm ra tiền".

    Nếu chỉ đam mê học hỏi không thôi thì cũng không đáng bỏ ra ngần ấy thời gian để làm Ph.D. Ta hoàn toàn có thể làm M.S rồi tự đọc, tự học thêm.

    Tất cả các thành quả như chức vụ, danh tiếng, oai oách, vân vân đều phải, và nên, là sản phẩm phụ của quá trình theo đuổi nỗi đam mê sáng tạo và mở mang tri thức này.

    Ðấy là nói về "động lực" học Ph.D. Thế còn "khả năng" thì sao? Quá trình học Ph.D lên xuống như hình sin. Sẽ có bao nhiêu trở ngại kinh tế, tinh thần phải vượt qua. Một trong những trở ngại lớn nhất là: sau một vài thất bại trong nghiên cứu, các sinh viên sẽ phải tự hỏi "ta có đủ khả năng làm Ph.D không nhỉ?"

    Ðam mê và khả năng tạo thành cái vòng luẩn quẩn. Ta có xu hướng đam mê cái mà ta giỏi, và ta thường xuất sắc ở công việc mà ta đam mê. Nhảy vào được cái vòng này là hành trình cá nhân. Có lẽ không ai trả lời thay ta được.

    4. Phụ huynh: xin đừng gây áp lực tâm lý
    Không ít các bậc phụ huynh mà tôi được dịp quan sát đặt rất nhiều kỳ vọng vào con em mình về con đường hàn lâm. Họ đầu tư tiền bạc và thời gian, nuôi niềm hy vọng ngày nào đó sẽ có một "trạng nguyên" vinh quy bái tổ, nở mày nở mặt với hàng xóm láng giềng và bè bạn. Chuyện này có ở tất cả các học bậc, không riêng gì Ph.D. Tuy vậy, áp lực ở Ph.D lớn hơn khá nhiều vì graduate students sẽ phải cạnh tranh với các sinh viên xuất sắc trên toàn thế giới.

    Tôn trọng tri thức và học tập là điều tốt, và bằng cấp là một thước đo tương đối chính xác của tri thức. Nhưng nó không phải là thước đo duy nhất. Ðó là chưa nói đến các câu hỏi như: đạt được tri thức loại gì thì mới được coi là "thành nhân"? Khó mà có thể đo lường xem một Ph.D và một anh đạp xích lô ai có "đóng góp" nhiều hơn cho xã hội, hay ai "hạnh phúc" hơn ai, theo bất kỳ nghĩa nào của các từ này. Có một ranh giới rất bé giữa "tôn trọng tri thức" và "hám bằng cấp".

    Hy vọng tôi đã hay sẽ thuyết phục được bạn rằng Ph.D cũng thượng vàng hạ cám. Một Ph.D về khoa học máy tính chẳng hạn, nếu làm nghiên cứu về một phân ngành chẳng ai quan tâm, đăng vài bài báo ở các chỗ linh tinh, thì sẽ từ từ xa rời dòng chảy chính của tri thức nhân loại. Có không ít Ph.D về khoa học máy tính lập trình không ra hồn, thua hẳn một kỹ sư thông thường, chính là vì lý do này.

    Tôi lại triết lý 3-xu rồi. Ðiều tôi muốn nói là niềm "hy vọng" của các bậc phụ huynh tạo áp lực cực lớn ảnh hưởng đến kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên. Trong khi chọn lựa nghề nghiệp tương lai đáng lẽ nên là chọn lựa cá nhân!

    5. Ðạt được Ph.D chỉ là bước đầu
    Còn khá nhiều điểm khác tôi muốn nói, nhưng bài đã dài. Lấy Ph.D chỉ là bước đầu rất nhỏ của một nghề nghiệp, cũng như bao nhiều nghề nghiệp khác. Có Ph.D có thể đồng nghĩa với những phần thưởng đáng quí về kinh tế và tinh thần về cả mặt xã hội lẫn cá nhân, nhưng bù lại cái giá phải trả về mọi mặt cũng cao không kém. "Nghề" Ph.D chẳng cao quí hơn nhiều nghề khác, mà thời gian và công sức bỏ ra lại nhiều hơn khá nhiều.

    Cuộc sống và các chọn lựa cá nhân lẽ dĩ nhiên là phức tạp. Tôi hy vọng qua bài viết này các bạn trẻ có thể có một cái nhìn và suy nghĩ cẩn trọng hơn trước khi theo đuổi "con đường đau khổ" này. Ta không thể theo nó chỉ vì các ảo tưởng danh tiếng, bằng cấp và tiền bạc. Ðầu tư như vậy không có lãi!

    Một trong những điều kiện cần cho nghề này là khả năng theo đuổi nỗi đam mê nghiên cứu và sáng tạo trong một thời gian dài. Bằng Ph.D chỉ là một bước cỏn con trong hành trình chông gai nhưng thú vị này. Nó hoàn toàn không phải là con đường duy nhất.

    Thứ bảy, 29 tháng 11, 2003.

    NQH.

  2. #12
    Sinh viên năm tư huuthoqt1984's Avatar
    Join Date
    09/01/08
    Posts
    247

    Default

    Quote Originally Posted by nbc View Post
    ...

    Trách nhiệm đương nhiên là quan trọng nhưng quan trọng hơn là làm thế nào để người thực tài có thể được trọng dụng?

    Theo tôi, chính sách trọng dụng nhân tài không nằm ngoài ba mặt. Thứ nhất, đưa những người có thực tài vào những vị trí xứng đáng, tạo điều kiện tối thiểu về khoa học và đời sống để họ yên tâm làm việc. Sử dụng nhân tài phải đúng như chính sách đã ban hành: Không phân biệt người đó là Đảng viên hay là người ngoài Đảng. Thứ hai, kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai. Thứ ba, các cơ quan đầu não quốc gia phải là tấm gương quy tụ những người có thực tài của đất nước. Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực.
    ....

    http://trannhuong.com
    Đọc các bài viết trên Topic này, bản thân tôi thấy tâm đắc với ý kiến trên của nhà văn, nhà báo Phan Quang. Nhưng có lẽ đây chỉ là ý kiến riêng của ông, cũng như một số không nhiều các nhà tri thức khác, và có lẽ đó cũng chỉ là một ý kiến nên chúng ta cũng không nên hy vọng nhiều vào tính thực tiễn của nó.

    "... Không phân biệt người đó là Đảng viên hay là người ngoài Đảng ..."
    Với tình hình, cơ chế như hiện nay thì điều trên có khả năng thực hiện được trong các cơ quan, doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, nước ngoài mà thôi. Đối với cơ quan, ban nghành, doanh nghiệp nhà nước nếu không là Đảng viên thì đừng bao giờ mong được trọng dụng.

    "... kiên quyết đưa những người bất tài ra khỏi những cương vị quá tầm năng lực của họ. Đặc biệt xử lý nghiêm những người học giả, bằng cấp giả, học hàm học vị giả hoặc hư học bất kể họ là con ai, cháu ai..."

    Với cơ chế như nước ta hiện nay, liệu một người đã có chức, có quyền, có địa vị, học vị cao (mặc dù theo năng lực thì không thể) có thể dể dàng bị đuổi khỏi cương vị hay không? Hay sợ vị này có mối liên hệ quá "rắc rối" cuối cùng lại thôi, hòa cả làng?

    " ...Kiên quyết bịt những lối đi tắt, từ đó những kẻ bất tài song khéo xử sự, bằng cách này hoặc bằng cách khác len lỏi lên tới đỉnh cao quyền lực..."

    Bịt lối đi tắt, có lẽ đây là một ý kiến hay. Nhưng không biết ai, cơ quan nào, ...có đủ khả năng để bịt nó đây, hay bịt chổ này lại để trống chổ khác?! Không cần nói ra chắc mọi người cũng đều có thể dể dàng nhận thấy một quy luật hiện nay là:
    Người có (nhiều)tiền thì quyền năng nằm trong tay họ, còn người có quyền thì không thể không nhiều tiền.
    => Như vậy quyền và tiền rất ít khi tách rời nhau.

    P/S: Tôi không biết ở các nơi khác thế nào chứ ở tỉnh tôi, chỉ nói đến ngành Giao Thông có một nguyên tắc chung:
    NGƯỜI CÓ QUYỀN + NGƯỜI CÓ TIỀN = LIÊN DOANH CHIA CHÁC THẶNG DƯ
    Những điều trên là nhìn nhận riêng của bản thân, có thể có người cho rằng tôi bi quan, nhưng không. Tôi vẫn lạc quan bước trên con đường mà tôi đã chọn
    Last edited by huuthoqt1984; 12/08/09 at 10:27 PM.
    "CÓ GÌ ĐẸP TRÊN ĐỜI HƠN THẾ
    NGƯỜI VỚI NGƯỜI, SỐNG ĐỂ THƯƠNG NHAU
    "

  3. #13
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default


    Một nhà máy đường, một trường đại học

    Câu trên đây không phải nói cho có vần có vè mà là phản ánh thực trạng đã và đang diễn ra ở hầu hết các tỉnh, đặc biệt là ở miền Trung. Mang tư duy theo lối “cả nước có gì thì mình có nấy” nên nhiều tỉnh chạy đua để có nhà máy đường trước đây và trường đại học hiện nay.

    Nhà máy đường với kết cục của nó ra sao hẳn mọi người đều biết. Nhà máy đường Quảng Bình thì bán xới hai năm rồi, Nhà máy đường Quảng Nam thì trở thành đống sắt từ bốn vụ mía qua; đến như Quảng Ngãi từng được xem là vựa mía của cả nước mà một nhà máy đường của tỉnh này cũng phải tháo dỡ chuyển lên huyện An Khê tỉnh Gia Lai để “lánh nạn”! Vì sao? Vì tất cả đều chăm chắm vào việc xây nhà máy chứ hoàn toàn không mấy quan tâm đến việc hình thành vùng nguyên liệu bền vững. Khi xây xong nhà máy đường thì cũng là lúc không biết lấy gì ép! Nguyên liệu mới là yếu tố quan trọng nhất để nhà máy đường tồn tại. Rất tiếc là những nhà quản lý các tỉnh lại không quyết liệt với vấn đề mấu chốt này.

    Nếu như 10 năm trước, tỉnh nào cũng rộ lên chuyện xây nhà máy đường thì ba năm qua đã “chuyển hệ” sang xây trường đại học. Các tỉnh miền Trung hiện nay coi như cơ bản đã “phủ sóng” xong hệ thống trường đại học cho “tỉnh nhà”. Tỉnh thì nâng cấp từ trường cao đẳng, tỉnh thì xây hẳn trường đại học “nguyên đai nguyên kiện”. Các trung tâm lớn như Huế, Đà Nẵng hay Quy Nhơn chỉ cách các tỉnh cận kề không đáng là bao, thế nhưng, thay vì tập trung nâng cấp cơ sở vật chất các trường đại học tại các trung tâm này thì Bộ Giáo dục - Đào tạo lại bật đèn xanh để các tỉnh lân cận đua nhau thành lập trường đại học!

    Cũng như xây nhà máy đường, các tỉnh hầu như chỉ chú trọng đến việc xây trường, còn chất lượng đào tạo thì không được quan tâm đúng mức. Các chỉ số từ kỳ tuyển sinh vừa qua đã phản ảnh một thực tế quan ngại về chất lượng “đầu vào” của các trường đại học thuộc các tỉnh lẻ. Đại học Phú Yên có 784 thí sinh dự thi thì chỉ có hơn 1,5% đạt 15 điểm (ba môn), nghĩa là chỉ khoảng trên 10 em! Trường Đại học Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) có 2.418 thí sinh dự thi nhưng chỉ có 232 thí sinh từ 13 điểm trở lên, thiếu 168 chỉ tiêu. Có ngành như tiếng Anh, gần 400 thí sinh dự thi nhưng chỉ có 5 thí sinh đạt điểm sàn! Đại học Quảng Nam, chỉ tiêu 550, số đủ điểm sàn là 274. Để lấp đầy chỗ trống trên đây, các trường gần như mở toang cửa để đón thí sinh nhưng sẽ rất khó khăn. Vì sao? Vì như trên đã đề cập, chất lượng đào tạo mới là điều quyết định sự tồn tại của một trường đại học. Nhiều thí sinh chấp nhận học ngoài công lập ở các trường đại học tại TP.HCM hoặc Hà Nội hơn là học trường công lập mà ở tỉnh lẻ.

    Lấy lý do là tạo điều kiện cho con em trong tỉnh học đại học, song những em khá thì đi nơi khác học, những em muốn học ở quê thì lại không đủ điểm sàn! Hàng ngàn tỉ đồng từ ngân sách nhà nước đã đầu tư vào các trường đại học tỉnh lẻ này chỉ để nhận về một mớ bùng nhùng không lối thoát, trong khi đó, các khu kinh tế rất cần công nhân lành nghề thì tuyển mãi không ra!

    Các trường đại học liệu có “nối gót” các nhà máy đường?
    Trà Sơn


    Nguồn: Thanh Niên Online
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  4. #14
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Năng lực và bằng cấp
    04/09/2009 0:22

    Mới đây, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã dành thời gian trả lời trực tuyến những vấn đề giáo dục nước nhà nhân khai giảng năm học mới. Theo thống kê, có đến 2.500 câu hỏi được gửi đến Bộ trưởng và ông chỉ có thể trả lời 30 câu hỏi "đinh" trong số hàng ngàn câu hỏi kia.

    Phần lớn các câu hỏi đều xoay quanh chủ đề về chất lượng giáo dục kể từ khi Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nhậm chức đến nay cùng với hàng loạt những thay đổi trong quản lý, điều hành hệ thống giáo dục.
    Có lẽ điều mà nhiều người chú ý qua 30 câu trả lời của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân là lời khuyến dụ này: “Các em học sinh cần hiểu rằng năng lực thực sự bước vào đời mới là vốn quý nhất”. Câu này được một vài tờ báo “diễn nôm” ra là “Năng lực thực sự còn hơn cả bằng cấp”.

    Thực ra, câu này không mới nhưng chưa bao giờ cũ cả. Bất cứ một nhà lãnh đạo hay một nhà quản lý nào khi đứng trước đám đông cũng đều đề cập đến chuyện năng lực của thuộc cấp mới là chính yếu, còn bằng cấp chỉ để “tham khảo” mà thôi. Tuy nhiên, giữa “quan niệm” và thực tế dùng người là cả một khoảng cách lớn.

    Nếu chỉ quan tâm đến năng lực thực sự thì sẽ không có chuyện “chạy bằng” một cách ồ ạt như hiện nay. Bất cứ một nhà tuyển dụng nào thuộc hệ thống nhà nước cũng đều “sơ tuyển” trên hồ sơ trước khi phỏng vấn trực tiếp người dự tuyển. Có thể con người cụ thể ấy, vì một lý do nào đó hoặc chưa được đào tạo bài bản, song bằng con đường tự học, họ đã trở thành những tài năng thực sự, tuy nhiên, ngay từ vòng sơ tuyển, họ đã bị loại rồi. Vì vậy, cái “vốn quý nhất” - tức “năng lực thực sự” - của người ấy đã không có cơ may để phát triển. Vậy thì, ai sẽ là người phát hiện và thẩm định “năng lực thực sự” kia?

    Một tiến sĩ tham gia dạy lớp báo chí chưa hẳn đã hay hơn một nhà báo giỏi có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, thế nhưng, khi trả tiền “đứng lớp”, bao giờ ông tiến sĩ cũng được trả nhiều hơn gấp đôi ông nhà báo. Nghịch lý này buộc con người ta phải “chạy” cho bằng được cái tiến sĩ để được “nhận tiền nhiều hơn”. Trong trường hợp này, năng lực thực sự bị đẩy xuống phần phụ, còn bằng cấp ngoi lên đóng vai trò chính. Chúng ta không trách cứ gì những người phấn đấu để có bằng cấp hoặc học hàm, học vị, song tất cả những thứ đó sẽ là phù du nếu như người sở hữu nó chỉ để “giải quyết khâu oai” với đồng nghiệp hoặc kiếm thêm mấy đồng thù lao mỗi khi lên lớp!

    Có thể nói rằng vấn đề bằng cấp và năng lực thực sự hiện đang có một độ vênh rất lớn. Bằng thật nhưng năng lực giả, bi kịch đó đang trĩu vai toàn xã hội chứ không riêng ông Bộ trưởng. Người dân đang cần một sự đổi thay thực sự ở tầm vĩ mô, sửa cả “lỗi hệ thống” mới mong thoát khỏi mớ bùng nhùng hiện nay chứ không chỉ dừng lại ở những lời tuyên bố hay khuyến dụ một cách êm tai dễ nghe.
    Trà Sơn


    Nguồn: Thanh Nien Online
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  5. #15
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Viết nhân khai giảng năm học 2009-2010


    Tôi có cháu gái đằng vợ tên là Thanh Hòa. Từ ngày học mẫu giáo, cháu vốn khoẻ mạnh, cứng cáp và thông minh. Khi cả bọn cùng lứa với kéo nhau lên lớp 1 trường Phan Phù Tiên, quận Thanh Xuân (Hà Nội), Hòa đương nhiên vẫn là đầu đàn, là lớp trưởng.

    Gặp nhau năm Hòa lên lớp 2, vẫn với thành tích học tập tốt, vẫn lớp trưởng, qùa thưởng dịp đó rất to. Vui chuyện, hỏi cháu về nhiệm vụ lớp trưởng, Hòa bẽn lẽn: nào hô các bạn đứng dậy chào thầy cô, nào lo trực nhật, lau bảng, nhắc các bạn giữ trật tự trong lớp... nhiều lắm!

    - Thế khi gặp các bạn ẩu đả, nghịch ngợm, chế diễu nhau ngoái lớp thì làm sao?- Bố Hòa hỏi chen vào.

    -Thì báo cho cô chủ nhiệm biết, ạ.

    - Thế lớp trưởng mắc khuyết điểm, có bạn nào mách cho cô giáo không?

    - Có mà dám!

    Nghe cháu trả lời, cả nhà nhìn nhau, lặng người, cười.

    *

    Phương Hiền, con gái tôi, học lớp 2 trường Friedrich-Reimann-Grundschule. Cô chủ nhiệm là bà giáo R.Lipka.

    Đã vài lần gặp gỡ nên tại buổi họp phụ huynh đầu năm, từ ngoài cửa, bà đã tươi cười chào: “Lần này, ông có ý kiến gì góp cho lớp đây? Chúng ta có một giờ để trò chuyện cơ đấy!”.

    Khi đến lượt trao đổi trực tiếp, tôi hỏi: “Thưa bà, lớp 2A, cháu nào được chọn là lớp trưởng?”(cũng phải nói thêm do khả năng tiếng Đức mà tôi đã dùng từ “lớp trưởng” theo nghĩa hiểu của tiếng Nga, hoặc tiếng Hán Ban trưởng mà người Việt ta lâu nay vẫn hay dùng).

    Thoáng một chút trầm ngâm, bà R.Lipka vui vẻ nói: “Tôi nghĩ là tôi đã hiểu câu hỏi của ông. Vì qua Phương Hiền được biết, ông từng là một đồng nghiệp. Lớp chúng tôi không có học sinh nào được chọn làmObmann hay Chef cả. Ở tuổi cấp một, chúng còn qúa bé để phải chịụ thêm trách nhiệm về hành vi của một bạn khác, dù chỉ là nhắc nhở hoặc để ý rồi trình báo với thầy cô. Nếu phải chịu trách nhiệm thêm về một bạn khác, đứa trẻ dễ ngộ nhận nó có thêm quyền lực và ngược lại đứa bị giám sát sẽ có cảm giác yếm thế, lệ thuộc. Tất nhiên chữ “nếu” chỉ là hãn hữu, nhưng dù 1% chúng tôi cũng không cho phép xảy ra. Tôi nhận thêm lương giáo viên chủ nhiệm để chịu tòan bộ trách nhiệm về họat động của học sinh trong thời gian học tại trường. Trong lớp, mọi em đều được cô giáo phân công trách nhiệm với lớp như nhau”.

    Rồi bà giáo hơi mỉm cười, hỏi: “Theo ông, khi các vị phu huynh đều đóng phần thuế học cho con bằng nhau, ông có chấp nhận khi con ông bạn hàng xóm tự nhiên lại là “trưởng" của con mình không? Tất cả các vị phụ huynh của chúng tôi đều không chấp nhận, họ đòi hỏi sự công bằng. Mới vào lớp 1, lớp 2 mà đã có đứa được là “sỹ quan”, đứa là “lính” ư? Xin ông nhớ rằng, dù có tạo ra được một thủ lĩnh thì chúng ta đã đồng thời tạo ra một loạt những đứa nhút nhát và a dua, phụ thuộc thủ lĩnh. Đấy là chưa kể đứa trẻ - được tin cậy kia có nguy cơ bị nhiễm thêm thói xấu: nhòm ngó, mách lẻo, chỉ điểm... Giai đoạn đầu giáo dục cấp một, giúp hình thành chứ không nên định hình tính cách của trẻ.

    R.Lipka liếc nhìn đồng hồ: “Giải đáp câu hỏi như vậy có đúng ý ông?”.

    Tôi thành thật trả lời rằng rất muốn được nghe bà nói tiếp. Bà cười hiền hậu: “Tất nhiên, đề tài này phải có kết luận! Ông nên biết, khi làm đơn xin tiếp tục nghề dạy tiểu học, tôi đã bảo vệ chính đề tài này tại Hội đồng Phổ thông trung học. Tôi hiểu ngay câu hỏi của ông, vì chính chúng tôi cũng đã qua thời kỳ chuyển hoá Đông- Tây về giáo dục!”.

    *

    Từ năm lớp 5, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm với lớp vẫn nặng nề như thế. Nhưng do học sinh đã lớn lên, cứng cáp hơn, nề nếp sinh hoạt, tư duy đa dạng nên trong tổ chức của lớp có thêm một chức danh là Klassensprecher. (Xin dịch là “Phát ngôn viên của lớp”).

    Vì là chức danh nên nhất định Klassensprecher phải do lớp bầu với đa số tín nhiệm (không cần sự có mặt của các thầy cô).

    Mọi học sinh trong lớp đều có quyền tự ứng cử họặc vận động bè bạn bỏ phiếu cho mình. Klassensprecher là cầu nối chỉ truyền đạt những thông tin được các bạn nhờ chuyển đến thầy cô hoặc ngược lại, không được truyền những thông tin cá nhân không được nhờ. (Nếu vi phạm bị coi là mách lẻo hoặc xâm phạm đời tư!).

    Đề tài “lớp trưởng” tưởng chỉ là một bài học có tính giáo dục, làm thay đổi tư duy bảo thủ của một nhà giáo cổ hủ, giáo điều như tôi.

    Không ngờ, 5 năm sau, khi Phương Hiền vào học lớp 7, tôi lại được chứng kiến sự dân chủ, công bằng và rất giáo dục trong môi trường đào tạo của con mình qua đề tài đó.

    Đây là cảm xúc chính để tôi kể lại câu chuyện cho bạn đọc hôm nay.

    Học kỳ hai của lớp 7B trường trung học chuyên Charles-Darwin-Oberschule (Gymnasium), quận Trung tâm - Berlin.

    Chiều nay, Phương Hiền tỏ ra đăm chiêu, ngồi cắm cúi viết. Thấy con bức xúc, tôi hỏi thì được biết: Jonoar phát ngôn viên lớp 7B phải theo mẹ hồi hương về Cu-ba nên lớp cần bầu một người thay thế. Đã có ứng viên là Magir - một bạn gái da mầu gốc Phi. Magir thành thạo tiếng Pháp - môn ngoại ngữ thứ hai mà nhiều bạn học còn yếu. Magir có năng khiếu bẩm sinh về hoạt động thể dục thể thao. Lời cam kết trước các bạn khi đề nghị bỏ phiếu cho mình của Magir là "Tôi sẽ liên hệ để có sự giúp đỡ của cô giáo dạy tiếng Pháp. Mỗi tuần lớp sẽ có một buổi hội thoại chủ đề Pháp ngữ tại Thư viện quận Trung tâm. Năm nay, trong tuần ngoại khóa, nếu các bạn ở lớp đồng tình, được cô chủ nhiệm chấp nhận, lớp sẽ chọn Paris là địa điểm đi tham quan dã ngoại giáo dục. Tôi xin chuẩn bị đề cương tham quan bằng tiếng Pháp và in gửi trước cho các bạn. Bản thân tôi cam kết sẽ hợp tác với các bạn trong lớp, nâng điểm tóan lên 2,5 để điểm trung bình các môn của tôi trong năm là 2,5. Ngoài ra, về thể dục thể thao, tất nhiên học kỳ này, lớp ta phải có một tờ thông báo nóng hổi WM 2006 tại Đức".

    Đọc tờ rơi cam kết của ứng viên, tôi hỏi con gái:

    - Magir như vậy, Phương Hiền sẽ thế nào?

    - Con thích được thử sức. Trường con chưa có bạn người Việt nào nhận chức danh này. Nhiều bạn trong lớp đề cử con. Chúng nó bảo con cần viết Rede Wahl versprechen (lời cam kết của ứng viên chức danh phát ngôn viên).

    - Tự con đánh gía về mình thế nào?

    - Con tự tin. Con có học lực tốt nên có thể giúp đỡ được nhiều bạn về môn Toán, Đức văn, Điạ lý, Anh văn.

    Còn môn lịch sử, con có thể có thêm sự giúp đỡ của bố để giúp lại các bạn.

    - Hoạt động ngoại khóa?

    - Tất nhiên chọn Paris làm tuần tham quan giáo dục là tuyệt vời. Chính Magir có thể cộng tác với con và các bạn trong nhóm Tây Âu học. Có hai ngày cắm trại dã ngoại, cô giáo rất ủng hộ việc đi chơi mỏ muối Eisenach và thăm nơi Hitler đã cất giấu hàng vạn bức tranh quý của các bảo tàng chúng cướp được trong chiến tranh.

    Ngập ngừng một chút, Phương Hiền thổ lộ thêm một “chi tiết tranh cử” làm tôi bật cười: “Bố ạ, cả lớp con bỏ phiếu kín về món ăn khoái khẩu nhất - 83% phiếu kín khi mở ra ghi là “PHO”. Các bạn sẽ góp tiền, nhờ bố giúp con, nói chú Hoàng chuẩn bị trước, một hai lần vào thứ 7 nào đấy, cả lớp đến ăn. Sẽ rất vui phải không bố?

    Chuyện “lớp trưởng” đã đến đoạn kết. Hình ảnh các ứng viên tổng thống Mỹ dốc hết trí tuệ (kéo theo cả vợ con) để thu phục nhân tâm cử tri Mỹ trong các chiến dịch tranh cử cam go, công bằng cứ hiện lên trong óc tôi.

    Phải chăng chính nền giáo dục của họ ngay từ lớp 1, lớp 2 đã làm lớn dần lên những Merkel, Obama, Bush, Clinton, Schröder... cho đất nước? Lớp 7B của con gái tôi, liệu mai này có ra đời những thủ lĩnh chân chính từ Klassenspecher?

    *

    Cháu gái Thanh Hòa kể cả mẫu giáo - đến nay đã 11 năm làm lớp trưởng. Tôi thầm hỏi tương lai của “lớp trưởng chuyên nghiệp” sẽ ra sao? Có “nghề lớp trưởng” rồi, sẽ giúp cho cháu gái tôi có được lợi thế gì khi các kỳ thi sắp tới?!



    Trần Đình Ngân (Đức)

    Nguồn :Vietnamnet
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  6. #16
    Sinh viên năm ba
    Join Date
    30/08/07
    Location
    DaNang City
    Posts
    143

    Default

    Bài viết của TS. Phan Trung Hiền đăng trên thời báo Kinh Tế Sài Gòn cũng đáng cho chúng ta phải suy ngẫm.
    http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/23252/

  7. #17
    Sinh viên năm nhất kungfu's Avatar
    Join Date
    02/03/08
    Tuổi
    36
    Posts
    30

    Default

    Ồ,đã gần 3 tháng rồi mình mới đọc bài sưu tập của thầy nbc,va rất thích,hi vọng là sẽ có một dịp nào đó trong cuộc sống sau này mình lại có cơ hội trải nghiệm và suy ngẫm thêm về bài học thầy đã gởi.Thầy hãy yên tâm rằng sinh viên cầu đường không bao gờ thiếu những tâm hồn trung thực và lãng mạn.Chuyên mục này sẽ luôn bổ ích.Ngoài ra,trong dịp gặp gỡ cuối năm,thầy phnam có khuyên chúng mình đọc sách của Nguyễn Hiến Lê,mình vẫn chưa đọc,nhưng cũng không quên là sẽ đọc.Các bạn cùng hưởng ứng nhé.Thanks.............

  8. #18
    Commander-in-Chief Ruyubang_do's Avatar
    Join Date
    11/07/07
    Location
    Ibachnania, S.KR
    Posts
    3,907

    Default

    Một nhà máy đường, một trường đại học
    ....
    Hàng ngàn tỉ đồng từ ngân sách nhà nước đã đầu tư vào các trường đại học tỉnh lẻ này chỉ để nhận về một mớ bùng nhùng không lối thoát, trong khi đó, các khu kinh tế rất cần công nhân lành nghề thì tuyển mãi không ra!
    Em phải xin lỗi người đã post bài này nhưng thật sự mà nói: chính người đăng bài và người post tại đây, cả các bạn trước sau và cả chính bản thân : có ai ko mong mình và con mình sau này ko có 1 cái bằng ĐH ?

  9. #19
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Quote Originally Posted by Ruyubang_do View Post
    Em phải xin lỗi người đã post bài này nhưng thật sự mà nói: chính người đăng bài và người post tại đây, cả các bạn trước sau và cả chính bản thân : có ai ko mong mình và con mình sau này ko có 1 cái bằng ĐH ?
    Nay có người nói rằng: lãnh đạo Hà Nội phải có bằng Tiến sỹ mới có đột phá, vậy có phải: cứ phải có bằng tiến sỹ thì mới lãnh đạo tốt? Mới có đột phá? Xin xem thêm về vấn đề này tại đâytại đây ...và tại đây nữa.

    nbc trộm nghĩ: có lẽ không ít người trong chúng ta hiện nay phần nào cũng ngộ nhận về mảnh bằng đại học. Cá nhân nbc đã gặp khá nhiều người, khi hỏi tại sao lo lắng (bằng mọi giá) cho con cái vào đại học, câu trả lời là: để sau này ra trường cháu nó tìm được công ăn việc làm ổn định. Vậy có phải cứ có bằng đại học mới có công ăn việc làm ổn định?

    Liên tưởng nghề nghiệp: "một đồ án TK TCTC chỉ được coi là khả thi khi nó phù hợp với tính chất công trình, các điều kiện thi công và khả năng cung cấp các nguồn lực xây dựng của nhà thầu".

    Thực tế đã trải: một trung cấp trắc địa lương tháng 8 triệu đồng (2007); một thợ hàn lành nghề lương tháng 2.500$ (2006)...
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

  10. #20
    Administrator nbc's Avatar
    Join Date
    19/03/07
    Location
    Đà Nẵng city
    Posts
    8,672

    Default

    Về việc đào tạo và cấp bằng
    tiến sĩ tại Việt Nam
    Trần Văn Thọ
    Bài này vạch ra một số nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ:[1]
    1) Bằng tiến sĩ không phải nhằm đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo để cho phép nhà nước cấp kinh phí đi học tại chức lấy bằng tiến sĩ; bằng tiến sĩ là bước cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học;
    2) Nghiên cứu sinh (NCS) không cần phải có đề tài mới để được nhận vào chương trình tiến sĩ, nhưng NCS phải có đủ trình độ để từ quá trình học, nắm được phát triển lý thuyết cơ bản và kiểm chứng lý thuyết bằng thực tiễn trong ngành trên thế giới, từ đó biết được vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp và từ đó có đóng góp mới về mặt học thuật.
    3) Luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế như làm sao thu hút đầu tư nước ngoài, hoặc làm sao một địa phương có thể trồng lúa ba vụ; luận án tiến sĩ phải có tính học thuật (academic), triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình; quan trọng nhất luận án phải có tính độc sáng (originality), đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.
    Từ những nhận định trên bài viết bàn về yêu cầu thẩm định lại trình độ của giáo sư hướng dẫn, và các trường, viện đào tạo hiện nay, chấm dứt ngay những cơ sở không có tư cách cấp bằng.
    Một trong những căn bệnh trầm trọng mà chế độ giao dục đào tạo của Việt Nam trong mấy mươi năm qua gây ra cho xã hội ta là làm lạm phát văn bằng tiến sĩ, là đưa chuẩn mực của học vị cao nhất trong khoa học nầy xuống mức thấp ngoài sự tưởng tượng của người làm khoa học nghiêm túc. Nhiều người, kể cả người viết bài nầy, đã cảnh báo, phê phán vấn đề nầy từ rất sớm và đã có nhiều đề nghị cải cách rất cụ thể và khả thi. Thế nhưng vấn đề nầy không được cấp lãnh đạo cao nhất quan tâm, còn các cơ quan quản lý trực tiếp, chủ yếu là Bộ Giáo dục Đào tạo (GDĐT), thì hầu như bất lực.[2] .
    Gần đây nhà nước có vẻ đã thấy không thể không hành động trước tình trạng đã quá trầm trọng. Cụ thể là vào tháng 1/2008 Bộ GD ĐT đã công bố bản Dự thảo qui chế đào tạo tiến sĩ (dưới đây gọi tắt là Dự thảo). Đây là lần đầu tiên vấn đề đào tạo tiến sĩ được đặt ra tương đối nghiêm túc. Tuy nhiên nội dung Dự thảo có nhiều điểm không khả thi, và nhiều điểm cho thấy người đặt chính sách chưa hiểu đúng ý nghĩa của việc đào tạo bậc tiến sĩ và yêu cầu của luận án tiến sĩ. Mặt khác, Dự thảo chủ yếu nói đến việc xây dựng qui chế cho những cơ sở đào tạo mới và không đề cập đến việc xử lý những văn bằng tiến sĩ sản sinh trong quá trình vàng thau lẫn lộn vừa qua, cũng như không nói rõ vấn đề cải tổ, thanh lọc những cơ sở đào tạo ra đời trong bối cảnh bê bối hàng chục năm qua. Vì đã có nhiều dịp phát biểu ý kiến về vấn đề đào tạo và cấp bằng tiến sĩ (xem danh mục ở cuối bài viết nầy), dưới đây tôi chỉ nêu lại một số vấn đề xét thấy cần đặt lại hoặc viết thêm ở thời điểm hiện nay:
    Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?
    Thế nào là một luận án tiến sĩ?
    Tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ.
    Việc đánh giá và cấp bằng tiến sĩ nên làm như thế nào?

    Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?
    Trong kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ (đến năm 2020), suy nghĩ của người làm kế hoạch khá đơn giản và không thực tế. Ngoài tính bất khả thi, ta thấy nhà nước có suy nghĩ rất đơn giản: để phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải có một đội ngũ những nhà khoa học, cụ thể là đội ngũ của nhũng người có học vị tiến sĩ. Không biết từ bao giờ đã có một quan niệm sai lầm rằng bất cứ người làm trong ngành nào, kể cả quan chức và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, người có học vị càng cao càng “lãnh đạo” giỏi!. Do quan niệm sai lầm nầy, nhà nước đã cấp kinh phí cho quan chức đi học (làm nghiên cứu sinh) tại chức để lấy bằng tiến sĩ, và xem văn bằng nầy là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt lên chức vụ cao hơn. Do vậy quan chức tranh nhau đi học để lấy bằng và nạn học giả lấy bằng thật trở thành phổ biến. Quan điểm và chính sách nầy đã làm lãng phí nguồn lực xã hội và gây ra nạn lạm phát văn bằng tiến sĩ. Quan niệm sai lầm và chính sách chạy theo số lượng trong khi các tiền đề xây dựng cơ sở đào tạo chưa được xác lập đã hạ thấp (một cách kinh khủng) chuẩn mực văn bằng tiến sĩ là hệ quả đương nhiên.
    Do đó hơn bao giờ hết cần xác định mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Đó là tạo ra một đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện ở đại học hoặc các viện nghiên cứu của cơ quan nhà nước hoặc của doanh nghiệp (nhất là nghiên cứu ứng dụng), nhưng người thuần tuý quản lý doanh nghiệp hoặc quản lý hành chánh không cần văn bằng tiến sĩ. Dĩ nhiên có trường hợp một số quan chức hoặc lãnh đạo doanh nghiệp có bằng tiến sĩ. Đó là trường hợp những người nguyên đã có dự định theo con đường nghiên cứu hoặc giảng dạy ở đại học nhưng sau đó tìm thấy khả năng của mình ở lãnh vực quản lý doanh nghiệp hoặc nhà nước. Cũng có trường hợp họ không thành công trong dự định ban đầu. Ở Nhật hay ở Mỹ người có bằng tiến sĩ khó tìm việc ở cơ qụan hành chánh nhà nước hoặc doanh nghiiệp hơn là người chỉ có bằng đại học (dĩ nhiên trừ truờng hợp xin vào các viện nghiên cứu của doanh nghiệp hoặc của nhà nước).
    Thế nào là một luận án tiến sĩ?  
    Mới đây (tháng 3 năm 2008) một lãnh đạo Bộ GD-ĐT có nói một câu được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Nếu không tìm được vấn đề gì mới thì đừng đi học tiến sĩ”. Tôi ghi nhận chủ ý tích cực của câu nói nầy. Bối cảnh của ý kiến nầy là tình trạng có nhiều luận án tiến sĩ chỉ là sự sao chép hoặc tổng kết các nghiên cứu của người khác và cần phải chấm dứt tình trạng nầy. Nhưng câu nói nầy khó hiểu đối với người làm khoa học, nhất là đối với người phụ trách đào tạo tiến sĩ nghiêm túc. Ta có thể đặt lại vài câu hỏi sau: Thứ nhất, một người định thi vào bậc tiến sĩ (thi làm nghiên cứu sinh) có cần phải có sẵn một đề tài mới? Hay là đề tài mới chỉ được phát hiện trong quá trình học tập vất vả, phải biết vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp? Thứ hai, thế nào là “mới”? Có thể là mới trong một thực tiễn nào đó nhưng chẳng có ý nghĩa gì đối với khoa học. Chẳng hạn, làm sao để huy động vốn trong dân ở tỉnh A hay tại một thành phố B có thể là mới vì chưa ai nghiên cứu vấn đề cụ thể nầy nhưng đề tài tự nó chưa nêu ra được điểm gì mới về học thuật. Cần nói thêm là các đề tài luận án tiến sĩ kinh tế trong hơn 10 năm qua ở VN phần lớn đều có tính cách thưc tiễn và thiếu tính học thuật như vậy. Tôi đã víết khá chi tiết về điểm nầy trên Tia Sáng (9/2003).
    Vậy trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình. Những kiế n thức cơ bản nầy được trang bị từ các cấp bậc đại hoc và thạc sĩ nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tuc ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị nầy hội đủ các điều kiện đó.
    Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới. Cái “mới” trong khoa học là như vậy.
    Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tuỳ theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tại Việt Nam, chí ít là trong lãnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là ‘”Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá, v.v..). Những vấn đề nầy dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế. Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỉ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một nghiên cứu sinh? Các đề tài nầy chẳng nêu ra được những câu hỏi có tính lý luận nên chẳng có giá trị về mặt học thuật, và về mặt thực tế cũng chẳng thấy cơ quan nào của nhà nước đã tham khảo các luận án ấy. Thật ra một người tốt nghiệp đại học thuộc loại giỏi chỉ cần vài tháng là có thể hòan thành một bản báo cáo về những đề tài như vậy. Trong thời gian qua ở nước ta các bản báo cáo như vậy vẫn được gọi là luận án tiến sĩ. Chất lượng tiến sĩ ở Việt Nam quá thấp là vì vậy.
    Cũng do quan niệm sai lầm ở Việt Nam về việc “ép” nghiên cứu sinh phải chọn một đề tài về mới về thực tiễn[3] (dù không có giá trị về học thuật) mà trong quá khứ một số đề tài liên quan đến an ninh, quốc phòng, được phép bảo vệ không công khai. Bản Dự thảo nói trên cũng có quy định về những trường hợp không công khai việc bảo vệ luận án tiến sĩ. Theo tôi, mọi luận án tiến sĩ đều phải được công khai. Nếu vì an ninh hoặc quốc phòng thì không cho nghiên cứu sinh chọn những đề tài như vậy. Nói chính xác hơn, nghiên cứu sinh nếu không tiếp cận được các tài liệu thuộc lọai bí mật quốc gia thì họ phải tránh chọn các đề tài mà việc kiểm chứng cần các tài liệu đó. Như đã nói ở trên, mục tiêu đào tạo tiến sĩ là xây dựng những con người khoa học có trình độ nghiên cứu độc lập và đảm trách việc giáo dục đại học chứ không phải là nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế hay an ninh, quốc phòng. Những đề tài thực tiễn và cấp thiết như vậy thì nên giao cho người đã có khả năng nghiên cứu độc lập, kể cả người đã lấy bằng tiến sĩ.
    Về giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ
    Vớibối cảnh hỗn loạn, vàng thau lẫn lộn, về học hàm học vị trong thời gian qua, những tiêu chí cứng để định tư cách của giáo sư hướng dẫn (số công trình nghiên cứu, kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh, v..v..) hoặc tư cách của cơ sở đào tạo (số người có học hàm giáo sư hoặc phó giáo sư, số người có học vị tiến sĩ,…) có lẽ không hoàn toàn thích hợp. Tốt nhất là nhà nước thành lập các ban thẩm định chuyên ngành gồm những nhà khoa học có thành tích nổi bật (mà xã hội đã biết đến), những nhà nghiên cứu đã lấy bằng tiến sĩ tại các đại học có uy tín ở nước ngoài, hoặc nhũng trí thức người Việt đã có kinh nghiệm hoặc đang hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ ở nước ngoài. Các ban nầy sẽ đánh giá tư cách tham gia đào tạo tiến sĩ của những giáo sư hoặc phó giáo sư trong danh mục những người có nguyện vọng, và đánh giá tư cách tham gia đào tạo của các viện nghiên cứu hoặc các khoa ở đại học.
    Những cơ sở đào tạo tiến sĩ đã có cũng phải được thẩm định trở lại. Trước mắt tạm ngừng các chương trình đào tạo tiến sĩ tại các viện, các trường nầy cho đến khi có kết quả thẩm định nói trên.
    Sau chừng nửa năm hoặc một năm hoạt động, các hội đồng thẩm định công bố danh sách các trường, các viện và tên các giáo sư đã qua thẩm định và được thừa nhận có tư cách đào tạo tiến sĩ. Những nghiên cứu sinh đã được nhận vào các viện, các trường không đủ tư cách đào tạo tiến sĩ phải thi lại vào các viện, các trường có tư cách đó. Ngoài ra, cần khuyến khích những “tiến sĩ” đã lấy bằng tại các cơ sở không đủ tiêu chuẩn mạnh dạn xin bảo vệ lại tại những viện, những truờng có đủ tiêu chuẩn đào tạo.
    Cơ chế phương pháp đánh giá luận án tiến sĩ
    Khi các vấn đề về chuẩn mực của luận án, về cơ chế nghiên cứu học tập của sinh viên và về tư cách giáo sư hướng dẫn được giải quyết đúng đắn thì việc đánh giá luận án không còn là vấn đề khó khăn. Hơn nữa, giáo sư hướng dẫn là người chịu trách nhiệm đầu tiên về việc đánh giá. Không một giáo sư chân chính nào thấy luận án của học trò mình chưa đạt tiêu chuẩn khách quan về học thuật và độc sáng mà dám đưa ra hội đồng bảo vệ. Có thể còn nhiều dư địa để cải thiện hơn nữa mà giáo sư hướng dẫn không thấy hết nhưng ít nhất 2 tiêu chí nói trên của luận án tiến sĩ được xem là đạt rồi mới cho bảo vệ. Trên cơ sở đó, các giáo sư khác trong hội đồng, cũng trên uy tín của mình, phải đánh giá thẳng thắn. Ở đây không cần bảo vệ kín mà vẫn giữ được sự khách quan là vì vậy. Cần nói thêm nữa là trong quá trình chuẩn bị luận án, nên để nghiên cứu sinh được báo cáo trước hội đồng chấm luận án một hoặc hai lần trước khi bảo vệ cuối cùng ít nhất là một năm để nhận các ý kiến hướng dẫn cho giai đoạn tới
    Ngoài ra, để bảo đảm tối đa sự khách quan của việc đánh giá, ở Nhật đặt cơ chế xã hội hoá việc đánh giá trước khi cho nghiên cứu sinh bảo vệ. Có hai hình thức xã hội hoá. Một là để được bảo vệ cuối cùng, nghiên cứu sinh phải có ít nhất từ một đến ba (tuỳ trường đại học) công trình liên quan đến luận án đăng ở các tạp chí có thẩm định độc lập (referee). Tạp chí có thẩm định độc lập là tạp chí khi ban biên tập nhận bài xin gửi đăng sẽ gửi bài đó (sau khi che giấu tên người viết) đến ít nhất 2 nhà nghiên cứu cùng ngành để nhờ thẩm định. Tên tuổi của những người thẩm định dĩ nhiên không được công bố. Người thẩm định sẽ dựa trên tiêu chuẩn học thuật và tính độc sáng của bài viết khi đưa ra quyết định đăng hay không. [4]Hai là, cho nghiên cứu sinh báo cáo trước đại hội toàn quốc hằng năm của ngành chuyên môn. Ở Nhật nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ có thể trở thành thành viên của các hội khoa học. Để được báo cáo, nội dung tóm tắt của luận án phải được thông qua ở ban tổ chức đại hội. Điều quan trọng là trước mặt các nhà khoa học trên toàn quốc, luận án của học trò mình bị chê là không độc sáng hoặc thiếu sót lớn về mặt khoa học thì người chịu tai tiếng đầu tiên là giáo sư hướng dẫn.
    Dự thảo của Bộ GD- ĐT về qui chế đào tạo tiến sĩ cũng đưa ra quy định là nghiên cứu sinh phải có ít nhất một bài viết đăng ở một tạp chí uy tín thế giới. Tạp chí uy tín thế giới là khái niệm mang tính chủ quan nên có thể bị giải thích tùy tiện và do đó điều kiện có ít nhất một bài viết trên một tạp chí như vậy không phải là khó, hoặc ngược lại nếu đưa ra một định nghĩa khắc khe thì khó có nghiên cứu sinh nào thoả mãn điều kiện nầy. Theo tôi nên thay cụm từ “tạp chí uy tín thế giới” bằng cụm từ tạp chí khoa học chuyên ngành có thẩm định độc lập. Trước mắt hầu hết các tạp chí nầy đều ở nước ngoài nhưng tùy theo ngành, trong nước cũng có thể từng bước xây dựng những tạp chí như vậy, với sự tham gia của các nhà nghiên cứu nước ngoài (hoặc người Việt Nam ở nước ngoài) trong ban biên tập.
    Việc tuyển chọn nghiên cứu sinh có thể linh hoạt nhưng phải có cơ chế kiểm tra năng lực. Ở Nhật nhiều đại học chú trọng kiểm tra đầu vào qua kỳ thi ngoại ngữ và chuyên môn và quy định phải lấy đủ các tín chỉ cần thiết. Có đại học, nhất là những nơi có khoa tổng hợp nhiều ngành, thì chú trọng thi ngoại ngữ và đánh giá luận án thạc sĩ thay cho kiểm tra năng lực chuyên môn. Nhiều đại học ở Mỹ thì dễ dãi đầu vào nhưng có chế độ kiểm tra gay gắt về chuyên môn và đề cương luận án trươc khi cho nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu để hòan thành và bảo vệ luận án.
    Ở thời điểm nầy (đầu năm 2008), nhận thức của nhà nước về vấn đề đào tạo bậc tiến sĩ đã có vài mặt tiến bộ. Tuy nhiên một số vấn đề cơ bản chưa được hiểu một cách đúng đắn. Trên đây là 4 vấn đề tôi thấy cần bàn thêm.

    Ghi thêm: Sau đây là danh sách các bài viết tôi đã phát biểu liên quan đến vấn đề đào tạo tiến sĩ:
    (1) “Về đào tạo và cấp bằng tiến sĩ kinh tế học,” Nhân Dân (mục Ý kiến nhà khoa học), 17/7/1997.
    (2) “Vài ý kiến về những điều đã được bàn,” Tia Sáng (mục Khoa học công nghệ), 9/2001.
    (3) “Bàn lại vấn đề học vị tiến sĩ,” Tia Sáng, 9/2003.
    (4) “Đào tạo tiến sĩ: Cải tổ từ cơ sở và ông thầy,” Vietnamnet 1/2006.
    (5) “Kế hoạch đào tạo tiến sĩ: cần có một cuộc cách mạng chất lượng,” in trong GS. TS Hoàng Tuỵ Sĩ phu đời nay, do Nguyên Ngọc, Phan Đình Diệu, Hà Huy Khoái, Ngô Việt Trung và Nguyễn Xuân Xanh chủ biên, Nhà xuất bản Trí thức, 2007, tr. 319-330.

    [1] Tác gi cám ơn tiến sĩ Vũ Quang Vit đã đc và góp ý vào bn tho đu tiên. Phn tóm tt đu bài là ca anh Vit. Bài viết nầy chủ yếu nhìn từ các ngành trong khoa học xã hội, nhưng trên cơ bản, tính chất của luận án tiến sĩ (tính học thuật và tính độc sáng) không khác nhiều với khoa học tự nhiên. Điểm nầy được xác nhận trong quá trình trao đổi ý kiến với giáo sư Hồ Tú Bảo, chuyên gia về công nghệ thông tin. Tác giả cám ơn anh Bảo đã đọc bài viết và tham gia thảo luận về đề tài nầy.

    [2] Ln đu tiên tôi phát biu v vn đ ny (và đưa kiến ngh ci cách) trên mc Ý kiến nhà khoa hc ca báo Nhân Dân ngày 17/7/1997. Bài báo được chọn là một trong 10 bài quan trọng trong ngày để ban thư ký tóm tắt cho thủ tướng đọc. Chiều hôm đó, ông Phạm Sĩ Tiến, Vụ trưởng Vụ sau đại học, từ Hà Nội điện thoại đến tôi (lúc đó đương ở Thành phố HCM) để cảm ơn đã góp ý kiến. Sau đó ít lâu, ngày 6/3/2000, ông tổ chức cho tôi đến thuyết trình về vấn đề nầy tại Học viện Chính trị Quốc gia HCM, nơi mà theo ông, đang rất “dễ dãi” trong việc cấp bằng tiến sĩ. Ngày 20/12/2005, tôi nhận được thư của Vụ trưởng Vụ đại học và sau đại học Trần Thị Hà thay mặt Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển đề nghị tôi góp ý cải cách việc đào tạo tiến sĩ. Tôi đã viết bản góp ý và gửi về ngay nhưng được Vụ trưởng Trần Thị Hà trả lời là bộ trưởng đã đọc nhưng rất tiếc là các kiến nghị nầy khó thực hiện trong tình hình ở Việt Nam. Bản kiến nghị nầy ngay sau đó được dăng gần như toàn văn trên Vietnamnet (1/2006) và bản tóm tắt đăng trên Tia Sáng số Tết năm 2006..

    [3] Xem th các lun án tiến sĩ Vit Nam ta thy có mục “Tính cấp thiết của đề tài”. (Tính cấp thiết ở đây là về mặt thực tế nhằm đưa ra kiến nghị về mặt chính sách)

    [4] M ít có đi hc đi hi nghiên cu sinh phi có bài viết đăng các tp chí có thm đnh, nhưng thay vào đó, phi thi đ các kỳ sát hch v các lý lun cơ bn trong ngành, và v mt chuyên môn t chn. Ngoài ra, nghiên cu sinh phi np mt bài viết (essay) liên quan đến đ cương chi tiết của luận án (bài viết phải được thông qua trong hội đồng xét duyệt gồm 3 giáo sư trong ngành. Bài viết được thông qua trong hi đng xét duyt thì cũng d trin khai đê đăng trên tp chí có thm đnh. Do đó cách làm đi hc M và Nht không khác nhau my trên thc cht.


    Nguồn: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai...TranVanTho.htm
    Ngày hôm nay tốt hơn ngày hôm qua!

Page 2 of 14 FirstFirst 123412 ... LastLast

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •